Osho
- Ngón tay chỉ trăng
Chương
8. Hiểu quả
Gốc rễ của phân
chia này là tâm trí.
Nếu không có
tâm trí, không có phân chia.
Do đó, tập
trung tâm trí ông vào tâm thức vũ trụ cái là lãnh thổ của ông.
Biết rằng ông
là linh hồn phúc lạc hoàn toàn, bao giờ cũng hân hoan trong phúc lạc này, bên
trong và bên ngoài chính linh hồn ông.
Quả của tách rời
là tri thức, quả của tri thức là thảnh thơi,
và an bình hạ
xuống từ việc kinh nghiệm tự phúc lạc chính là quả của thảnh thơi.
Nếu từng điều
đã nói trên không xảy ra kế tiếp, biết rằng điều trước đó đã không cho quả. Thiếu
vắng đối tượng cảm giác là trong chính bản thân sự mãn nguyện tối cao và phúc lạc
vô song
Gốc rễ của phân
chia này là tâm trí.
Nếu không có
tâm trí, không có phân chia.
Do đó, tập
trung tâm trí ông vào tâm thức vũ trụ.
'Tâm trí' và 'tập
trung', hai điểm này cần phải được hiểu sâu sắc. Tâm trí là cái phải có cho cuộc
sống. Tâm trí nghĩa là luồng ý nghĩ, và mọi lúc tâm trí bạn đều tuôn chảy bên
trong bạn.
Lưu ý đến điểm
thứ nhất, rằng tâm trí không phải là vật. Tâm trí là luồng, không phải là vật.
Và phân biệt này là có ý nghĩa. Hòn đá nằm đó, đấy là vật; thác nước tuôn chảy,
đấy là luồng. Vật nằm đó là tĩnh tại; cái là luồng là thay đổi mọi khoảnh khắc.
Tâm trí không
phải là vật mà là luồng, cho nên tâm trí thay đổi vào mọi khoảnh khắc. Nó chưa
bao giờ như trước ngay cả cho một khoảnh khắc. Nó tựa như dòng sông thay đổi.
Heraclitus đã
nói, “Ông không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông,” vì khi bạn xuống tắm
trong con sông lần thứ hai, nước mà bạn bước vào trong lần đầu phải đã chảy đi
rất xa rồi. Tương tự, cùng một tâm trí không thể được thấy lại - cái đã chảy
qua rồi là đã chảy qua rồi. Trong toàn thể thời gian luồng chảy cứ tuôn chảy
bên trong, và đứng đằng sau luồng này chúng ta nhìn thế giới.
Vậy cái bóng của
tâm trí rơi vào mọi thứ chúng ta thấy. Và tâm trí thay đổi, tâm trí bị chia
thành nghìn mảnh, cũng phân chia toàn thể thế giới nữa.
Cho nên, điều đầu
tiên, tâm trí là luồng thay đổi mọi lúc. Do đó qua tâm trí không thể nào biết
được cái một không bao giờ thay đổi. Nếu cái trung gian của việc biết đang thay
đổi vào mọi lúc, chúng ta không thể biết cái không bao giờ thay đổi. Bất kì cái
gì biết được qua trung gian thay đổi cũng sẽ bị xem như thay đổi. Dường như bạn
đang đeo kính đổi mầu cứ đổi từ đỏ sang lục, từ lục sang vàng, từ vàng sang trắng.
Mầu của mọi thứ mà bạn đang thấy cũng sẽ cứ thay đổi tương ứng bởi vì cái trung
gian được dùng để thấy bị áp đặt lên mọi cái được thấy.
Tâm trí chúng
ta thay đổi mọi khoảnh khắc. Cho nên chúng ta chỉ có thể biết qua tâm trí cái
cũng thay đổi; chúng ta không bao giờ biết được qua tâm trí cái không thay đổi.
Và chân lí tối thượng ẩn kín của cuộc sống thì không đổi, nó là vĩnh hằng, nó
không bao giờ thay đổi, cho nên tâm trí không phải là cái trung gian để biết
nó.
Mọi vật chất
trong thế giới đều cứ thay đổi, nó cứ thay đổi tựa tâm trí. Cho nên qua tâm trí
vật chất của thế giới có thể được biết, nhưng linh hồn vũ trụ ẩn kín bên trong
thế giới không thể được biết. Chẳng hạn, khoa học dùng tâm trí để khám phá;
khoa học nghiên cứu thế giới qua tâm trí. Khoa học sẽ không bao giờ có khả năng
nói có linh hồn vũ trụ, nó bao giờ cũng nói chỉ có vật chất. Nhận ra linh hồn
vũ trụ sẽ không bao giờ có sẵn cho khoa học. Không phải bởi vì không có linh hồn
vũ trụ, nhưng bởi vì cái trung gian mà khoa học dùng để biết chỉ có khả năng biết
cái thay đổi, nó sẽ không bao giờ có khả năng biết đến cái không thay đổi.
Hiểu điều đó
theo cách này. Nếu nhạc đang được chơi và bạn cố nghe qua đôi mắt, bạn sẽ không
bao giờ có khả năng nghe nó - thực ra bạn sẽ không nhận biết về chính sự hiện
diện của nó. Mắt có thể nhìn, cho nên qua mắt bạn có thể biết hình dạng; nhưng
mắt không thể nghe cho nên bạn không
thể biết về
âm thanh qua
chúng. Tai có thể nghe nhưng không thể
nhìn. Nhưng nếu ai đó cố nhìn qua tai, người đó sẽ nói, “Không có hình dạng
trong thế giới.” Tai chỉ có thể bắt được âm thanh. Cái trung gian chỉ có thể biết
cái nó nhạy cảm với.
Tâm trí là thay
đổi. Bản chất của tâm trí là thay đổi, luồng. Tâm trí có thể đến dưới dạng cái
thay đổi nhưng nó không bao giờ có khả năng biết cái không đổi. Cho nên những
người bắt đầu tìm kiếm linh hồn vũ trụ qua tâm trí chẳng chóng thì chầy đều biến
thành kẻ vô thần. Nếu họ không trở thành kẻ vô thần, điều đó chỉ có nghĩa là họ
không đủ dũng cảm để chấp nhận hoàn toàn điều tâm trí đang nói cho họ. Nhưng
người làm việc qua tâm trí không thể là
người hữu thần được. Hữu thần của người đó sẽ là giả như việc nói người điếc
nghe thấy nhạc qua đôi mắt, hay như việc nói người mù thấy được cái đẹp hay ánh
sáng qua đôi tai. Hữu thần của một người vận hành qua tâm trí sẽ giả như những
điều đó.
Cho nên có biết
bao nhiêu người hữu thần trên thế giới nhưng rất khó tìm ra người hữu thần thực
sự. Bạn nữa, nếu bạn xoay xở đem tới tin cậy, nó tới qua tâm trí bạn; bạn đang
đem nó qua suy nghĩ tính toán. Qua suy nghĩ, không ai đã bao giờ có thể là người
hữu thần; và nếu người đó là người hữu thần, người đó sẽ là người hữu thần giả.
Nếu người ta muốn
trở thành người hữu thần qua suy nghĩ, chỉ vô thần tới. Cố gắng hết sức hiểu điều
này đi - bởi vì chính cái trung gian tâm trí không có khả năng hiểu thấu cái
không thể thay đổi. Tự lừa dối mình là vấn đề khác. Nghĩ về thuyết hữu thần của
bạn đi! Bạn tin vào Thượng đế, nhưng đấy là một thực thể được tính toán, nó được
đưa ra từ logic của bạn, từ phỏng đoán, suy nghĩ, kinh sách, tín ngưỡng và học
thuyết. Thượng đế như thế là không thật và thượng đế như thế chỉ nói về cái
không trung thực của bạn, bởi vì Thượng đế không bao giờ có thể được sinh ra từ
tâm trí.
Trong thế giới
này, chín mươi chín phần trăm mọi người được gọi là hữu thần đều là vô thần giấu
mặt. Không có sức mạnh trong chủ nghĩa hữu thần của họ, đấy là yếu đuối, đấy là
bất lực. Chỉ khẽ chạm là chủ nghĩa hữu thần của họ khô héo đi. Nó không có gốc
rễ bên trong. Người ta trở thành hữu thần chỉ nếu người ta nhìn thế giới một
cách trực tiếp, gạt tâm trí sang một bên. Thế thì không phải thế giới là được
thấy, bởi vì với việc vứt bỏ tâm trí, cái đang thay đổi không thể được thấy.
Khi vứt bỏ tâm trí, tâm thức thấy thế giới, nó có thể kể lại chỉ những cái
không đổi.
Tâm thức là
vĩnh hằng, nó không thay đổi. Tâm thức chỉ rơi vào hoà hợp với cái vĩnh hằng.
Cái được thấy khi vứt bỏ tâm trí là cái ta tối thượng; cái thấy được khi đem
tâm trí vào là thế giới. Để chúng ta định nghĩa nó theo cách này - rằng những
người đã biết tới sự tồn tại không qua tâm trí đã nói, “Không có gì ngoài cái
ta tối thượng.” Còn những người đã biết tới sự tồn tại qua tâm trí đã nói, “Có
mọi thứ ngoại trừ cái ta tối thượng.”
Cho nên qua tâm
trí bạn sẽ không bao giờ có khả năng biết được. Vâng, bạn sẽ có khả năng biết
thế giới - thế giới thực ra sẽ được biết chỉ qua tâm trí - nhưng không phải là
chân lí. Và bất kì cái gì được biết qua tâm trí đều là những thứ sẽ thay đổi mọi
khoảnh khắc. Đây là lí do tại sao khoa học không bao giờ ổn định. Khoa học sẽ
không bao giờ ổn định, khoa học sẽ không bao giờ có khả năng nói rằng chân lí
như thế và như thế là thường hằng. Khoa học sẽ chỉ có khả năng nói, “Không dứt
khoát đâu, tạm thời thôi, từ tất cả những điều chúng ta đã biết đến giờ, đây là
chân lí. Cái gì sẽ là kết quả của điều chúng ta sẽ biết ngày mai còn chưa thể
nói được.” Khoa học thay đổi hàng ngày. Tất cả những cái là đúng hôm qua trở
thành sai hôm nay.
Khó khăn bây giờ
là tới mức bất kì khoa học nào được dạy trong trường phổ thông và đại học, phần
lớn trong chúng đã trở nên ‘gần như sai’, bởi vì phải mất hai mươi năm mới đưa
được những khám phá mới xuống mức trường
phổ thông. Trong hai mươi năm đó nó đã trở nên không đúng. Ngày nay
không cuốn sách lớn nào có thể được viết về khoa học bởi vì, nếu ai đó viết ra
một cuốn sách một nghìn trang, vào lúc nó được viết, được in và xuất bản, nhiều
điều đã được chứng tỏ là sai. Cho nên khoa học dần dần đi xuống những cuốn sách
nhỏ hơn. Thực tại ngay cả những cuốn sách nhỏ cũng không được viết ra nữa, chỉ
những đoạn nhỏ và bài báo, bởi vì chúng có thể được viết ra ngay lập tức và
không sợ bị lạc hậu trước lúc chúng được xuất bản.
Khoa học nhất định
thay đổi, bởi vì không cái gì được khám phá ra qua tâm trí có thể là vĩnh viễn.
Cho nên các nhà tư tưởng phương Tây thấy khó hiểu được làm sao điều gì đó
Mahavira nói ra
hai nghìn năm
trăm năm trước
đây, hay những điều đã được người
thấy của Upanishad nói ra năm nghìn năm trước đây, vẫn còn đúng. Năm nghìn năm!
Khi ngay cả những điều mới chỉ được nói năm năm trước đây đã trở thành lạc hậu
và không đúng, thì những điều đã được nói năm nghìn năm trước đây phải trở nên
không đúng từ lâu rồi.
Điều họ nói dường
như là hợp lí, bởi vì khi mọi điều được nói thậm chí năm năm trước bây giờ đã
đáng ngờ, điều tự nhiên duy nhất là những điều đã được nói năm nghìn năm trước
đây nên bị coi là đáng ngờ.
Nhưng không, điều
Upanishad đã nói vẫn còn đúng - chúng đúng hôm nay và sẽ còn đúng ngày mai. Bây
giờ điều này có thể mang hai nghĩa. Một, rằng thông minh của Ấn Độ đã trở nên đờ
đẫn và không phát triển thêm nữa, rằng nó đã trở thành tĩnh tại ở một điểm năm
nghìn năm trước đây và vẫn còn ngồi đó, bám chặt vào bất kì cái gì đã được phát
hiện ra từ hồi đó. Nó đã không di chuyển thêm chút nào từ đó; bằng không mọi thứ
đó sẽ trở thành sai bây giờ.
Ngay cả ở Ấn Độ
ngày nay, những người làm bất kì suy nghĩ nào - và rất ít người làm - họ hầu
như vay mượn suy nghĩ ít hay nhiều là cái bóng của cách suy nghĩ phương Tây.
Cho nên dù ở phương Tây hay ở Ấn Độ, theo cách suy nghĩ của khoa học ngày nay
dường như những phát biểu cổ lỗ hàng nghìn năm này của Ấn Độ phải đã trở thành
không đúng từ lâu rồi. Bởi vì Ấn Độ đã dừng suy nghĩ thêm nó không có khả năng
làm tu chỉnh gì thêm, và do đó mọi thứ vẫn còn lại ở nơi chúng đã từng ở. Và với
những người nghĩ qua tâm trí, điều họ nói cũng đúng.
Sự kiện là ở chỗ
những chân lí này đã không thể được đạt tới qua tâm trí. Chúng đã được đạt tới
năm nghìn hay năm mươi nghìn năm trước đây, chúng có thể được đạt tới năm nghìn
hay năm mươi nghìn năm sau đây - và việc đạt tới này không qua tâm trí. Điều
không được đạt tới qua tâm trí là không thay đổi. Không có cách nào cho nó thay
đổi, bởi vì ngay khi tâm trí bị vứt bỏ thế thì người ta bước vào một thế giới
vĩnh hằng, phi thời gian; nơi không cái gì thay đổi, nơi mọi thứ đều không đổi;
nơi thời gian đã dừng lại, nơi không có chuyển động trong thời gian, nơi thời
gian đã đông cứng. Những chân lí này bao giờ cũng vẫn còn là chân lí. Khi chúng
đã được nhận ra trong trạng thái bên ngoài tâm trí, không thay đổi nào của thế
giới này có thể đem đến bất kì thay đổi nào trong chúng. Vâng, nếu những điều
này đã được nhận ra bên trong phạm vi của tâm trí, những thay đổi trong thế giới
sẽ cứ đem đến những thay đổi trong chúng.
Đây là khám phá
nguyên bản của Ấn Độ, rằng sự tồn tại cũng có thể được biết tới không bằng tâm
trí. Đây là khác biệt giữa khoa học và tôn giáo. Khoa học nói rằng bất kì cái
gì có thể được biết, chỉ có thể được biết qua tâm trí. Tôn giáo nói rằng bất kì
cái gì được biết qua tâm trí đều là thực dụng, nó là ‘gần như đúng’, nhưng chân
lí là cái được biết bằng cách đi ra ngoài tâm trí. Và chỉ bên ngoài ngoài tâm
trí mà việc biết thực là có thể.
Cho nên làm sao
vứt bỏ được tâm trí? Làm sao làm yên tĩnh hay trống vắng tâm trí? Kinh này nói
rằng nếu bạn có thể tập trung tâm trí, nó sẽ yên tĩnh đi, nó sẽ trở thành trống
vắng.
Đây là điều thứ
hai cần được hiểu: chính bản chất của tâm trí là không tập trung. Nếu bạn cố tập
trung nó cho dù một khoảnh khắc, nó sẽ không tập trung, nó sẽ tìm cách chảy đi.
Nếu tôi yêu cầu
bạn tập trung tâm trí vào Rama, bạn sẽ thấy rằng ngay khi bạn nghĩ về Rama,
toàn bộ dây chuyền các biến cố trong cuộc đời của Rama cũng sẽ bắt đầu tới tâm
trí bạn. Sita sẽ đi vào từ cửa sau, Hanuman sẽ bắt đầu ló vào, và toàn bộ đống
lộn xộn đó sẽ có đấy. Với việc tập trung tâm trí bạn vào Ram, Dasharatha sẽ tới,
Ravana sẽ tới, tất cả họ sẽ tới. Cứ thử có một Rama xem - không Dasharatha,
không Ravana, không Sita, không Hanuman, không Lakshamana, không có ai cả - tống
cổ cả lũ ấy đi, chỉ một mình Rama thôi; thế thì tâm trí sẽ trong khó khăn!
Nhưng thế rồi
có cách khác để thoát ra khỏi tâm trí, chia Rama thành nhiều phần: chẳng hạn, bắt
đầu từ bàn chân. Trước hết nhìn chân Rama, rồi nhìn thân thể ông, rồi nhìn
khuôn mặt rồi nhìn mắt; điều này sẽ làm nhẹ bớt cho tâm trí bởi vì luồng chảy
đã bắt đầu lại. Nếu bạn chỉ chọn mắt của Rama, tâm trí sẽ cứ chuyển từ mắt này
sang mắt kia. Cho nên chọn chỉ một mắt, chọn Rama nửa mù chỉ có một mắt. Bây giờ
khi bạn tập trung tâm trí chỉ vào một mắt, suy nghĩ sẽ bắt đầu về mắt đó và vận
hành của nó.
Luồng chảy là bản
chất của tâm trí. Cho nên chẳng thành vấn đề bạn làm gì, tâm trí sẽ khám phá ra
một kênh cho nó chảy. Nó ngay lập tức sẽ khám phá ra một kênh và bắt đầu suy
nghĩ. Đây là khác biệt giữa thiền và suy nghĩ.
Thiền nghĩa là dừng suy nghĩ, dừng luồng chảy. Tập trung nghĩa là chỉ có
một điểm còn lại, không có suy nghĩ gì về nó.
Thế thì điều gì
sẽ xảy ra? Điều này là chống lại bản chất của tâm trí. Không có khả năng nào
cho tâm trí còn lại theo cách này. Nếu bạn cứ nhất quyết và thử điều không thể
được đó chỉ có một cách: trước hết tâm trí sẽ giằng co vất vả, và nó sẽ thử
theo đủ mọi cách để thuyết phục bạn, để khuyên nhủ bạn, để bầy mẹo cho bạn suy
nghĩ. Nó sẽ nói, “Không có vấn đề gì, ta nghĩ về Rama; điều đó là tốt, nghĩ về
Rama là hành động tôn giáo.” Nó sẽ nói, “Được, nếu mình không muốn nghĩ về Rama
thì mình tụng vậy: Rama, Rama, Rama, Rama.” Nhưng “Rama, Rama, Rama, Rama,” và
luồng chảy đã bắt đầu. Rama thứ nhất, Rama thứ hai, và luồng đã bắt đầu, tâm
trí đã tìm ra chuyển động, nó đã bắt đầu chuyển động.
Ban đầu tâm trí
sẽ nỗ lực tìm ra kênh để chảy theo đó, vì đấy là bản chất của nó. Nhưng nếu bạn
nhất quyết và duy trì tỉnh thức và bạn nói, “Mình sẽ không cho phép bất kì dòng
chảy chút nào, mình sẽ bám lấy chỉ một điểm, mình sẽ không đi từ nó theo cách
này hay cách khác" - và nếu bạn tiếp tục sự nhất quyết của mình, không để
cho tâm trí di chuyển theo mọi hướng dù bất kì cái gì, thế thì cách thứ hai cho
tâm trí là nó sẽ vứt bỏ, bởi vì tập trung đơn giản không thể có được cho tâm
trí.
Có lẽ bạn sẽ thấy
kì lạ mà biết rằng tâm trí đơn thuần không thể tập trung được. Đấy là lí do tại
sao bạn được yêu cầu phải tập trung, vì nếu bạn trở nên tập trung tâm trí bạn sẽ
dừng. Tập trung là không thể được đối với tâm trí. Khi bạn được tập trung không
có tâm trí. Chừng nào tâm trí có đó, bạn không tập trung.
Tập trung có
nghĩa là dừng lại, ngừng mọi luồng chảy, chấm dứt mọi thời gian, biến mất mọi
chuyển động.
Nếu bạn tiếp tục
không ngừng nỗ lực của mình để tập trung và vẫn còn nhận biết và quan sát rằng
tâm trí không tìm kiếm mẹo có thể lẩy cò luồng chảy, một khoảnh khắc tới khi,
do nỗ lực tập trung, tâm trí dừng lại. Bởi vì nỗ lực tập trung, tâm trí không tập
trung mà dừng lại; nó yên tĩnh, nó biến mất. Khi bạn không nghe và vẫn còn tham
dự vào nỗ lực để tập trung nó, tâm trí bị vứt bỏ.
Việc dừng của
tâm trí là trong việc trở nên được tập trung, cho nên khi chúng ta nói, “Tập
trung tâm trí,” tức là chúng ta đang nói một điều không đúng. Đây là lí do tại
sao tôi nói rằng Phật và Mahavira đều nói mọi thứ ‘gần như sai’. Họ phải nói vậy.
Khi chúng ta nói, “Tập trung tâm trí,” chúng ta đưa ra một phát biểu không đúng
bởi vì tâm trí không thể trở nên được tập trung, và nếu nó tập trung tâm trí sẽ
không còn nữa.
Tập trung và
tâm trí là những hiện tượng đối lập nhau. Trong nỗ lực về cái đối lập, tâm trí
chết. Nhưng đấy là điều rất khó khăn... khó bởi vì cần phải hiểu được tập
trung. Tập trung nghĩa là không cho phép luồng chảy được sinh ra. Suy nghĩ là
luồng chảy, thiền là dừng luồng chảy.
Sông luôn chảy. Nếu nó đông cứng thành băng để cho mọi luồng chảy đều dừng,
không có chuyển động nữa. Tương tự, nếu tâm trí dừng để cho mọi luồng chảy đều
dừng, nó đông cứng tựa băng, thế thì chính khoảnh khắc đó không có tâm trí, tâm
trí đã biến mất - và thế thì cái còn lại là tâm thức.
Kinh này nói:
Gốc rễ của phân
chia này là tâm trí.
Nếu không có
tâm trí, không có phân chia.
Do đó, tập
trung tâm trí ông vào tâm thức vũ trụ cái là lãnh thổ của ông.
Chúng ta không
biết chính xác liệu có linh hồn vũ trụ nào không. Nhưng không cần biết đến điều
đó. Câu hỏi lớn không phải là liệu có linh hồn vũ trụ hay không, câu hỏi lớn là
tập trung tâm trí. Tập trung vào bất kì cái gì đi, cho dù bạn có thể tập trung
vào một vật tưởng tượng cũng có tác dụng. Cho nên câu hỏi không phải là chỗ vấn
đề sẽ được giải quyết chỉ nếu bạn tập trung vào cái gì đó thực. Kinh này không
yêu cầu bạn trước hết phải tìm ra linh hồn vũ trụ và thế rồi mới tập trung. Nó
nói, cho dù bạn có cảm thấy rằng linh hồn vũ trụ là đối thể tưởng tượng, đừng
băn khoăn về điều đó; vì nếu tâm trí có thể tập trung ngay cả vào một đối thể
tưởng tượng nó sẽ biến mất. Và ngay khi tâm trí biến mất, người ta bắt đầu thấy
cái là thực. Cho nên không hại gì trong việc đi cùng với một vật tạo niềm tin.
Linh hồn vũ trụ
hay Thượng đế là một giả thiết cho thiền. Với những người tìm kiếm, linh hồn vũ
trụ không phải là cái gì đó để mà tin, nó là một điểm tưởng tượng để tập trung
tâm trí. Và khi tôi nói về một điểm tưởng tượng, đừng nghĩ rằng tôi nói không
có linh hồn vũ trụ. Nó chỉ chưa có đó cho bạn thôi. Bạn chỉ mới đang tập trung
chú ý của mình vào một điểm tưởng tượng. Điểm đó có thể là bất kì cái gì, nó có
thể có bất kì hình dạng nào. Tên nó có thể là Ram hay Krishna hay Allah, bất kì
tên gì cũng được, điều đó không tạo ra phân biệt gì. Không quan trọng việc bạn
tập trung vào cái gì, điều quan trọng là ở chỗ bạn tập trung. Cho nên mọi tôn
giáo trên thế giới đều phục vụ cho mục đích này. Nếu có khác biệt trong học
thuyết của họ, nó không gây khác biệt cho người tìm kiếm. Tất cả những khác biệt
đó đều dành cho các học giả, cho những người phải mê đắm vào những thảo luận vô
tích sự. Với người tìm kiếm, những điều này không tạo ra khác biệt; Allah, Rama
hay Jehovah - mọi tên đều được.
Khoa học của
tôn giáo, quá trình của tôn giáo, không gắn thêm bất kì giá trị nào vào cái bạn
tập trung vào - nó là không liên quan. Điều quan trọng là ở chỗ bạn tập trung.
Nó có thể là bất kì cái gì. A, B, C, D hay bất kì cái gì, nhưng bạn đang tập
trung. Trong chính quá trình tập trung, tâm trí dừng lại. Và cái được biết tới
sau cái chết của tâm trí - tên của nó không phải là Allah, hay Rama hay
Krishna. Nó không có tên. Mọi tên đều là tưởng tượng. Chúng chỉ là tiện ích,
chúng là bùa hộ mạng, chúng có tác dụng, và khi hiểu biết bừng lên, chúng có thể
bị vứt đi. Thế thì chúng không được cần tới thêm nữa.
Đây là ý nghĩ rất
cách mạng. Người tôn giáo thông thường thấy khó quan niệm được rằng Rama của
mình, Krishana của mình, đền đài của mình và những thần tượng trong đó, tất cả
đều là tưởng tượng. Tưởng tượng không có nghĩa là giả, nó có nghĩa là giả thiết.
Chúng có thể được dùng; cuộc hành trình có thể được bắt đầu từ chúng, tới cuối
cuộc hành trình người ta khám phá ra rằng cuộc hành trình có thể được hoàn
thành cho dù không có chúng. Cũng ở cuối cuộc hành trình người ta thấy rằng nó
có thể được thực hiện hành trình với bất kì tên nào khác. Nhưng điều đó không
thể được biết vào lúc đầu của cuộc hành trình mà cũng không cần phải biết nó. Cứ
để người Hindu tiến hành như người Hindu, để người Mô ha mét giáo tiến hành như
người Mô ha mét giáo và để người Ki tô giáo tiến hành như người Ki tô giáo. Khi
đạt tới đích người ta sẽ biết rằng Hindu giáo, Mô ha mét giáo, Ki tô giáo - tất
cả những tên này chỉ là thứ tiện dụng, và không có quan hệ gì với chân lí tối
thượng thực tại cả.
Những phân chia
này có quan hệ với dốt nát của chúng ta, không phải với tri thức của chúng ta.
Chúng có cái gì đó liên quan với việc làm cho chúng ta bắt đầu cuộc hành trình
từ nơi chúng ta đang đứng trong thế giới này, nhưng không có liên quan gì với
đích chúng ta đạt tới. Sau khi đạt tới, không ai còn là người Hindu giáo, người
Ki tô
giáo hay người Mô ha mét giáo; khi đạt tới, người ta chỉ còn tính tôn
giáo.
Cho nên nhớ lấy,
chừng nào bạn còn là người Ki tô giáo, người Hindu hay người Mô ha mét giáo, biết
rõ rằng bạn không mang tính tôn giáo. Đây chỉ là bắt đầu của cuộc hành trình hướng
tới tôn giáo.
Gurdjieff đã
nói một điều rất có giá trị. Bất kì khi nào ai đó tới và hỏi, “Con đường tới
chân lí là gì?” Gurdjieff sẽ nói, “Đừng nói điều to lớn. Tôi chỉ có thể chỉ ra
những cách thức để tìm ra con đường. Sau đó là tuỳ của bạn. Ngay bây giờ bạn lần
đầu tiên tìm con đường thế là đủ. Đừng hỏi con đường là gì, trước hết hỏi hướng
có thể đưa bạn tới con đường. Trước hết quan tâm tới việc tìm ra con đường đã.”
Nhớ lấy, Hindu
giáo, Mô ha mét giáo, Ki tô giáo, vân vân đều là những đường mòn nhỏ để đạt tới
con đường. Không cái nào trong chúng là con đường; tôn giáo bản thân nó là con
đường. Hindu là một lối nhỏ, Mô ha mét giáo là một lối nhỏ. Ki tô giáo là một lối
nhỏ. Tôn giáo là con đường. Một khi bạn đạt tới con đường, mọi lối mòn nhỏ đều
biến mất.
Được tập trung
là có giá trị, vì nỗ lực để trở thành tập trung là chống lại tâm trí. Nhưng cần
phải rất cẩn thận, bởi vì có hai cách chệch hướng trong khi trở thành tập
trung. Một, bạn có thể thích tạo ra chuỗi các ý nghĩ; và một khi suy nghĩ bắt đầu,
toàn bộ mọi thứ trở thành vô nghĩa. Khó khăn thứ hai là, nếu chuỗi suy nghĩ
không xảy ra, bạn có thể ngủ ngay.
Bạn có thể đã
quan sát rằng trong vài đêm, nếu có quá nhiều ý nghĩ trong đầu, bạn không thể
nào ngủ được. Một số ý nghĩ cứ diễn ra trong tâm trí bạn - có lo lâu nào đó, luồng
hoạt động nào đó trong tâm trí bạn - và việc ngủ trở thành không thể nào có được
bởi vì những ý nghĩ này đang cản trở việc ngủ. Và ban đêm khi không có suy
nghĩ, không có ý nghĩ trong tâm trí, tâm trí trống rỗng - thế thì bạn rơi vào
giấc ngủ say ngay lập tức. Ngay khi bạn nằm xuống, giấc ngủ trùm lên bạn.
Người làm thuê,
nông dân có giấc ngủ say. Lí do cho điều này là ở chỗ công việc của người đó
không liên quan gì tới suy nghĩ, lo lắng, quá trình suy nghĩ hay luyện tập tinh
thần. Người đó không cần tới chúng. Người đó đào hố hay làm việc trên đồng. Đây
là công việc thường lệ, không suy nghĩ nào được cần tới. Buổi tối người đó về
nhà mệt mỏi và tả tơi, và người đó gieo mình vào giường; ý nghĩ vắng lặng, và
người đó rơi ngay vào giấc ngủ say.
Nhưng với người
có công việc chủ yếu là tinh thần, mất ngủ trở thành đau khổ chính của họ. Những
người bận bịu suy nghĩ và cân nhắc mọi lúc, việc suy nghĩ của họ tiếp tục không
dừng ngay cả ban đêm và họ không thể nào ngủ được.
Tôi nói tất cả
những điều này để cho cái đối lập của nó cũng trở nên rõ ràng cho bạn.
Trong khi thực
nghiệm với tâm trí về việc tập
trung, nguy hiểm thứ hai là ở chỗ ban đầu tâm trí sẽ cố gắng thuyết phục suy
nghĩ - cái thuận tiện cho nó, là bản tính của nó; nhưng nếu điều này không xảy
ra và bạn vẫn còn nhất quyết tập trung, điều thứ hai có thể xảy ra là ở chỗ,
trong thiếu vắng suy nghĩ, thay vì đi vào trong thiền bạn rơi vào giấc ngủ, bởi
vì ngay khi suy nghĩ dừng, thói quen cũ là chúng ta rơi vào giấc ngủ.
Cho nên nhiều
người, nhân danh thiền, cứ ngủ và hưởng thú giấc ngủ ngắn. Vẫn ngồi trong đền họ
cứ gà gà. Đấy không phải là lỗi của họ; họ không biết điều đang xảy ra. Họ đang
cố tập trung và trong nỗ lực tập trung, hai điều không may có thể xảy ra: hoặc
là suy nghĩ có thể bắt đầu, hoặc là nếu nó không xảy ra thì giấc ngủ có thể bắt
đầu.
Cho nên người
ta phải tránh cả nghĩ lẫn ngủ. Đó là hai cái rãnh và ở giữa hai cái rãnh đó là
thiền.
Trong thiền viện,
các thiền sư bao giờ cũng có một sư đi đi lại lại với chiếc gậy trong tay trong
khi người khác đang thiền. Khoảnh khắc người đó thấy thiền nhân nào đó bắt đầu
ngủ gật, người đó gõ nhẹ vào đầu người này.
Chúng ta cũng sẽ
làm thu xếp này sớm thôi. Và không phải là tất cả những điều đó đều vô dụng.
Không, nó rất hữu dụng, bởi vì ngủ gật bất thần bị ngắt quãng. Suy nghĩ lại diễn
ra - suy nghĩ dừng lại và ngủ gật bắt đầu. Bạn tránh rãnh này và rơi vào rãnh
kia. Ngủ gật bắt đầu chỉ khi luồng suy nghĩ bị đứt đoạn.
Và rồi sư này tới
cho một cái gõ lên đầu. Luồng suy nghĩ dừng lại, ngủ gật đã len ra; sư gõ một
cái vào đầu bạn - ngủ gật bị phá vỡ trong chốc lát. Trong một khoảnh khắc đó thoáng nhìn về thiền
xảy ra. Và cho dù thoáng nhìn của khoảnh khắc đó xảy ra, đó là hỗ trợ lớn lao
cho thiền của bạn rồi. Người ta bắt đầu cảm thấy rằng không có bóng tối nơi họ
đang đi, mọi thứ đều sáng tỏ ở đó.
Điều đó đôi khi
xảy ra bởi vì có biết bao thiền nhân cho nên không dễ gì cho thầy thực sự thấy
được từng khoảnh khắc ai ngủ gật và ai không ngủ gật. Cho nên đã có thu xếp
trong thiền rằng nếu bất kì thiền nhân nào cảm thấy người đó sắp ngủ gật, người
đó đưa cả hai tay lên ngang ngực. Vậy thầy có thể dễ dàng thấy rằng trong người
đó đang sẵp nảy sinh nguy cơ rơi vào giấc ngủ. Cử chỉ này là lời mời cho cái
gõ; rằng, “Ngủ gật đang sắp bắt đầu, làn sóng ngủ bắt đầu chạm vào tôi tựa lông
chim; làn sóng này đang áp đảo tôi và tôi sợ rằng bây giờ tôi sẽ mất trong giấc
ngủ.”
Nếu suy nghĩ
không bắt đầu và ngủ gật không xảy ra thiền sẽ xảy ra. Thiền có nghĩa là thiếu
vắng của nghĩ và ngủ. Thế thì bạn sẽ có đó trong thiền.
Nhớ kĩ hai điều
này trong tâm trí, bất kì cái gì cũng có thể là điểm tập trung.
Biết rằng ông
là linh hồn phúc lạc hoàn toàn, bao giờ cũng hân hoan trong phúc lạc này, bên
trong và bên ngoài chính linh hồn ông.
Điều thứ hai
này cũng rất có giá trị. Chúng ta hân hoan, nhưng không bao giờ trong chính
mình, chỉ trong người khác. Sự kiện rất kì cục là chúng ta thấy vui sướng,
chúng ta thích thú, đôi khi chúng ta còn có chút ít hạnh phúc - nhưng bao giờ
cũng trong người khác. Bạn đã bao giờ hân hoan trong bản thân mình chưa? Bạn chắc
chưa bao giờ làm điều đó cả. Chúng ta đơn giản không chú ý gì tới bản thân
mình.
Kinh này nói rằng
người tìm kiếm nên dần dần từ bỏ hân hoan trong người khác và bắt đầu hân hoan
trong bản thân mình. Bạn đang ngồi rảnh rỗi và cảm thấy bất hạnh: bạn nghĩ rằng
nếu người bạn nào đó tới thế thì có thể có vui đùa; nếu có bầu bạn nào kéo đến
thế thì có thể có vui vẻ và vui đùa. Một mình, bạn bắt đầu buồn. Một mình bạn
không hạnh phúc. Trong một mình, chán chường nảy sinh, chán từ cái ta riêng của
người ta.
Không ai thích
bản thân mình! Điều thú vị là ở chỗ mọi người đều muốn người khác thích mình,
và bản thân bạn không thích bản thân mình. Bạn thấy chán với bản thân mình và bạn
muốn người khác rất hài lòng khi họ gặp bạn. Làm sao điều này xảy ra được? Điều
ấy là không thể được. Bạn nghĩ về việc đem cho người khác hạnh phúc lớn. Bạn
không thể đem hạnh phúc cho cái ra riêng của mình, làm sao bạn có thể đem nó
cho người khác được? Và cái bạn không có cho bản thân mình, bạn không thể cho
được; không có cách nào đem nó cho người khác được.
Kinh này nói,
hân hoan trong cái ta riêng của bạn đi. Bạn đang ngồi một mình, vui đi. Trạng
thái này đã được các fakir mô tả là masti, cực lạc. Dường như không có lí do
bên ngoài nào cả nhưng người ta đơn giản say sưa với vui vẻ, dường như dòng suối
vui vẻ đang tuôn chảy bên trong theo cách riêng của nó. Người ta đang tự mình tận
hưởng, không có trung gian của người khác.
Có nhiều bộ môn
tâm linh khác nhau dùng cực lạc. Sufi dùng và đánh giá cao việc thực hành tâm
linh về cực lạc. Nguyên lí cơ bản của họ là ở chỗ bạn không làm cho hạnh phúc của
mình phụ thuộc vào người khác. Bất kì ai liên kết hạnh phúc của người đó với
người khác, nỗi buồn của người đó cũng được liên kết với người khác.
Đừng liên kết hạnh
phúc của bạn với người khác, liên kết nó với cái ta riêng bản thân bạn đi. Bạn
đang ngồi rảnh rỗi dưới gốc cây - hạnh phúc đi. Điều ấy dường như khó khăn: làm
sao hạnh phúc được, khi không có lí do gì để hạnh phúc? Chúng ta thường chỉ trở
nên hạnh phúc với lí do nào đó... một người bạn sắp tới - bạn chưa gặp anh ấy
đã lâu rồi, cho nên bạn hạnh phúc. Chúng ta bao giờ cũng hạnh phúc vì lí do nào
đó.
Hạnh phúc mà
không vì lí do gì là masti, cực lạc. Không có nguyên nhân thấy được cho hạnh
phúc này, người ta hân hoan trong cái gì đó từ bên trong. Đôi khi việc như vậy
xảy ra cho người điên, cho nên đôi khi khó phân biệt giữa người điên và người
masta, người cực lạc. Những người mà chúng ta gọi là masta, nhiều người trong số
họ... ở phương Tây đích xác cùng kiểu người này bị tống vào nhà thương điên, bởi
vì không có cách nào để phân biệt họ. Phương Tây không có ý tưởng nào về cách
phân biệt giữa người cực lạc masta và người điên. Đối với họ những người này dường
như điên cả. Ở phương Tây họ đã làm thành định nghĩa về lành mạnh là nếu ai đó
vui vẻ từ lí do nào đó, tâm trí người đó là ổn thoả, nhưng nếu người ta vui vẻ
không lí do gì, người đó là điên. Làm sao có thể có hạnh phúc mà không lí do
gì?
Truyền thống của
những người cực lạc masta nói rằng hạnh phúc chỉ có thể có mà không với lí do
gì: không bao giờ có hạnh phúc bởi vì lí do nào đó. Bây giờ đây là một phát biểu
khá khó! Truyền thống của người cực lạc nói rằng không bao giờ có hạnh phúc bởi
vì lí do nào đó - chỉ có khái niệm giả về hạnh phúc thôi. Từ các lí do chỉ có
đau khổ phát sinh. Để điều này được hiểu rõ - nó có tâm lí hoàn toàn của riêng
nó.
Khi bạn tìm kiếm
hạnh phúc vì một lí do - ở ai đó, trong cái gì đó, trong biến cố nào đó - kết
quả cuối cùng không bao giờ là cái gì ngoài bất hạnh cả. Đau khổ tiếp nối đau
khổ. Vợ tìm kiếm hạnh phúc từ chồng, mẹ tìm kiếm hạnh phúc từ con, bố tìm kiếm
hạnh phúc từ con trai, từ con gái. Hạnh phúc bao giờ cũng được tìm từ đâu đó
khác - trong các mối quan hệ, trong tiền bạc, trong địa vị, trong danh vọng,
nhưng bao giờ cũng từ đâu đó khác. Tất cả chúng ta đều tìm kiếm hạnh phúc ở mọi
nơi ngoại trừ bên trong cái ta riêng của mình. Và điều buồn cười là ở chỗ bản
thân người khác cũng đang tìm kiếm hạnh phúc ở đâu đó khác. Dường
như là chúng ta đang đào mỏ mà chúng ta nghĩ đấy là mỏ kim
cương, và bản thân mỏ đã đi mất trong việc tìm kim cương; và bản thân kim cương
từ cái gọi là mỏ ấy vẫn đi tìm kiếm ở đâu đó khác.
Chúng ta giống
như một bức thư ‘không dán tem’ không có địa chỉ trên đó. Cho nên việc tìm kiếm
cứ tiếp diễn. Chúng ta không có ý tưởng nào về việc chúng ta đang tìm ai, và lần
nữa chúng ta cũng không hỏi về người có địa điểm ta đang đi tới, liệu bản thân
người đó có đi đâu đó trong việc tìm kiếm tương tự không!
Mọi người đều
đang ở đâu đó, cho nên gặp gỡ không bao giờ xảy ra với bất kì ai. Bạn tới nhà của
bất kì ai mà người ấy không có đó. Bạn cầm tay bất kì ai trong tay mình, mà người
đó không có đó. Bạn ôm bất kì ai mà người đó không có đó, người đó đang ở đâu
đó khác.
Mọi người đều
đi đâu đó khác, cho nên không ai có thể gặp được bất kì ai - không ai đã bao giờ
có khả năng gặp được. Cho nên bất kì ai đang tìm kiếm hạnh phúc theo một lí do
nào đó sẽ cứ rơi vào trong khổ ngày càng sâu, bởi vì mọi lúc đều có hi vọng rằng
lí do đặc biệt này sẽ đem lại hạnh phúc, và khi nó được đạt tái hi vọng sẽ tan
vỡ.
Kinh sách của
giáo phái cực lạc masta nói rằng chỉ có nỗi buồn đến từ người khác, không bao
giờ là hạnh phúc; hạnh phúc bao giờ cũng đến từ cái ta riêng của người ta. Và bất
kì khi nào có cảm giác dường như nó đến từ người khác, tín ngưỡng của người cực
lạc nói rằng người khác không phải là nguyên nhân, mà là ở bạn.
Hiểu điều này
thêm một chút đi. Bạn cảm thấy rằng bạn đang trong tình yêu với ai đó. Sự hiện
diện của người đó đem lại cảm giác dễ chịu. Có đúng sự hiện diện của người khác
cho bạn hạnh phúc không? Hay chính ý tưởng của bạn rằng bạn đang trong tình
yêu, và rằng sự hiện diện của người yêu đem lại cho bạn hạnh phúc? Bây giờ cái
nào đem lại cho bạn hạnh phúc?
Nếu chính do sự
hiện diện của người đó đem đến cho bạn hạnh phúc, thế thì sự hiện diện của người
đó cũng phải đem lại hạnh phúc cho mọi người. Nhưng điều đó không xảy ra. Sự hiện
diện của cùng người đó có thể đem lại bất hạnh cho ai đó khác. Nếu nước làm dịu
cơn khát thì nó phải làm dịu cơn khát cho mọi người. Nếu bạn nói rằng nước này
chỉ làm dịu cơn khát cho riêng tôi thôi, thế thì đấy là cái gì đó phải giải quyết
cho bạn, không phải cho nước.
Người ta nên học
phân biệt giữa chân lí chủ quan và chân lí khách quan. Nếu nước là nước, nó sẽ
làm dịu cơn khát của tôi, nó sẽ làm dịu cơn khát của bạn, nó sẽ làm dịu cơn
khát của bất kì ai. Nó sẽ làm dịu cơn khát, nó không liên quan gì với những người
khác nhau; bất kì ai khát nó sẽ đều làm dịu cơn khát của họ.
Cái đẹp của ai
đó làm tôi thích thú nhưng không làm cho ai đó khác thích thú. Nếu nó là đẹp,
thế thì bất kì ai đang tìm kiếm cái đẹp, có khát khao về cái đẹp, cũng phải được
hạnh phúc từ nó. Nhưng điều này không xảy
ra. Cái đẹp này xuyên rọi vào ai đó tựa như gai và họ muốn chạy khỏi nó, gì?
Có khó khăn. Rõ
ràng là không ai yêu bất kì ai; người trong khi cũng cái đẹp đó cho bạn hạnh
phúc. Người thì thấy bất hạnh; người thì dường như không chú ý rằng có cái đẹp
nào cả; người đơn thuần chỉ cười và nói rằng bạn đang mất hết cảm giác, thấy
cái đẹp ở nơi không có gì cả! Tất cả những điều đó nghĩa là gì? Nó nghĩa là cái
đẹp mà bạn đang thấy mang thuộc tính của bạn. Không có gì ở đó cả - bạn là
nguyên nhân của nó. Và đó là lí do tại sao có thể có việc từ cùng một cái đẹp
đó, bạn thấy hạnh phúc vào buổi sáng, bạn có thể thấy bất hạnh vào buổi trưa và
buổi tối bạn lại thấy hạnh phúc. Hay hôm nay bạn thấy hạnh phúc, ngày mai bạn bắt
đầu thấy bất hạnh.
Một việc thú vị
đã xảy ra. Một nữ nghệ sĩ điện ảnh đến tôi và nói, “Tôi đang rất khó khăn và do
vậy tôi đã tới tìm lời khuyên của thầy. Khó khăn của tôi là ở chỗ tôi đã có cuộc
hôn nhân vì tình, nhưng trong vòng một hay hai năm tôi cảm thấy rằng đấy là sai
lầm và không có gì khác ngoài cãi cọ và đau khổ trong đời tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn
chịu đựng trong mười năm, nhưng cãi cọ và địa ngục cứ ngày càng sâu thêm và
không còn lại ý nghĩa gì hay thậm chí khả năng nào để chịu đựng thêm nữa.”
Cô ấy rất lúng
túng, bởi vì chồng cô ấy đã yêu cô ấy và đã ra toà với cô ấy với nhẫn nại lớn,
nhưng rồi chồng cô ấy cũng trở nên rất mệt mỏi về toàn bộ câu chuyện. Cho nên
sau mười năm họ li dị, và bây giờ đã mười năm sau li dị. Họ có một đứa con gái,
bây giờ đã lớn và gần đây đã lấy chồng. Đó là lúc người chồng và người vợ gặp lại
nhau - nhân cơ hội đám cưới của đứa con gái. Nữ nghệ sĩ điện ảnh đó đã đến kể
cho tôi rằng chồng cô ấy lần nữa lại thấy yêu cô ấy và đề nghị rằng họ nên cưới
nhau lần nữa. Bây giờ cô ấy nên làm khác chỉ là màn ảnh và, khi thấy hình ảnh
chính mình trong họ, chúng ta cứ sa vào tình yêu. Khi chúng ta cảm thấy rằng
chúng ta đang có được hạnh phúc từ người khác, thế nữa đấy cũng không là gì
khác ngoài ảo tưởng riêng của chúng ta. Chúng ta càng đi sâu hơn, càng rõ ra là
sự xuất hiện hạnh phúc chỉ là phóng chiếu của riêng chúng ta. Và bởi vì chúng
ta tin rằng hạnh phúc là ở trong người khác, và vì không hạnh phúc nào đến từ
người khác, chúng ta khổ.
Người đã phát
hiện ra rằng nguồn gốc hạnh phúc của mình là ở bên trong bản thân mình không đi
đâu khác tìm nó; người đó bắt đầu kinh nghiệm bản thân mình ngập chìm trong hạnh
phúc. Người đó nhảy múa không phải bởi vì bất kì nguyên nhân nào bên ngoài mà bởi
vì sự tồn tại riêng của người đó. Sự tồn tại của riêng người ta là đủ vui mừng,
sự tồn tại riêng của người ta là đủ phúc lạc; không cần tìm kiếm vì bất kì
nguyên nhân gì khác. Việc thở xảy ra, ngay cả điều này cũng là phúc lạc tối
cao; tim đang đập, ngay cả điều này cũng là phúc lạc tối cao.
Thực nghiệm với
điều này một chút... Ngồi dưới gốc cây một mình và rơi vào trong tình yêu với
cái ta riêng của bạn lần đầu tiên; quên thế giới, chỉ trong tình yêu với cái ta
riêng của bạn.
Tìm kiếm tâm
linh thực ra là tìm kiếm để rơi vào tình yêu với cái ta riêng của người ta.
Thế giới là cuộc
hành trình rơi vào tình yêu với người khác, tâm linh là cuộc hành trình rơi vào
tình yêu với cá ta riêng của người ta. Tâm linh rất vị kỉ. Nó là việc tìm kiếm
cái ta riêng của người ta, việc tìm kiếm ý nghĩa của cái ta của người ta. Nó là
hân hoan trong cái ta riêng của bạn, nó là có hương vị cái ta riêng của bạn. Và
khi hương vị này bắt đầu xảy ra bên trong... đợi một chút, tìm kiếm một chút. Cảm
thấy cái duy nhất của bạn, vui mừng trong sự tồn tại riêng của bạn - bởi vì,
“Tôi có thể đã làm được gì nếu như tôi không được sinh ra? Làm sao tôi có thể
phàn nàn - và phàn nàn với ai - nếu như tôi không có ở đây?”
Bạn ở trong sự
tồn tại này; ngay cả sự kiện này, ngay cả tâm thức chừng này, nhận thức chừng
này rằng, “tôi đây,” chính khả năng của thoáng nhìn vào trong phúc lạc - hân
hoan trong tất cả những điều này một chút đi. Để cho hương vị của tất cả những
điều này ngấm vào từng lỗ chân lông. Cho phép bản thân bạn được lướt đi trong
cơn xúc động về nó. Bắt đầu múa nếu bạn cảm thấy thích múa, bắt đầu cười nếu bạn
cảm thấy thích cười, bắt đầu hát bài hát nếu bạn cảm thấy thích hát, nhưng nhớ
tất cả bản thân bạn vẫn còn ở tâm điểm của nó và để cho dòng suối hạnh phúc chảy
từ bên trong bạn, không phải là từ bên ngoài. Dần dần, dần dần điều này sẽ đi
sâu vào bên trong kinh nghiệm bạn, và trạng thái mà nó đem lại chính là trạng
thái của masta, của người cực lạc. Masta có nghĩa là người đã trở nên cực lạc
trong bản thân người đó.
Kinh này là
kinh nền tảng của masta.
Biết rằng ông
là linh hồn phúc lạc hoàn toàn, bao giờ cũng hân hoan trong phúc lạc này, bên
trong và bên ngoài chính linh hồn ông.
Quả của tách rời
là tri thức...
Kinh này rất có
giá trị.
Quả của tách rời
là tri thức, quả của tri thức là thảnh thơi,
và an bình hạ
xuống từ việc kinh nghiệm tự phúc lạc chính là quả của thảnh thơi.
Nếu từng điều
đã nói trên không xảy ra kế tiếp, biết rằng điều trước đó đã không cho quả. Thiếu
vắng đối tượng cảm giác là trong chính bản thân sự mãn nguyện tối cao và phúc lạc
vô song.
Cố hiểu từng bước.
Với người tìm kiếm từng bước đều đáng ghi nhớ trong tâm trí và xem xét lại thường
xuyên. Đây là hòn đá thử.
Quả của tách rời
là tri thức...
Như tôi đã nói
trước đây, nhận ra cái vô nghĩa của thân thể. Nếu bạn nhìn với con mắt xuyên rọi,
bạn sẽ đi tới biết rằng thân thể là vô nghĩa. Đi tới nhận biết rõ ràng và sâu sắc
rằng thế giới này không thể cho bất kì hạnh phúc nào. Và không có cái ngăn trở;
điều đó sẽ trở nên rõ ràng nếu bạn tìm kiếm bởi vì nó là vậy. Cũng hệt như là
yêu cầu một người đang nhắm mắt mở mắt ra và thấy rằng ánh sáng có đó. Tất cả
những điều này đơn giản như điều đó. Đây chính là trường hợp ấy. Không có hạnh
phúc qua thế giới, không có hạnh phúc qua thân thể, không có an bình qua người
khác - đây chính là trường hợp này, đấy chỉ là vấn đề thấy với mắt mở. Vì sợ việc
đi tới biết chân lí này mà chúng ta đã nhắm mắt hết kiếp nọ đến kiếp kia. Việc
nhắm mắt của chúng ta là có mục đích. Chúng ta sợ.
Một người bạn đến
tôi. Anh ta muốn cưới vợ vì anh ta đang yêu ai đó. Tôi hỏi anh ta, “Bạn có thực
sự yêu không?
Nghĩ lại điều
đó thêm một chút nữa.”
Anh ta nói,
“Nghĩ sao? Cái gì có đó gì mà nghĩ khi tình yêu đang có đó?”
Tôi vẫn nói,
“Thì hại gì? Thay vì nghĩ sau, tốt hơn cả là nghĩ trước đi. Mà vội gì? Đợi thêm
nửa tháng nữa đã.”
Anh ta có vẻ
hơi bồn chồn và bất ổn.
Tôi nói, “Nếu
tình yêu thực sự có đó, chắc chắn nó sẽ kéo dài thêm mười lăm ngày nữa. Việc gì
phải bồn chồn?”
Anh ta đợi thêm
hai tuần. Tôi đã bảo anh ta quay lại sau hai tuần, và nghĩ trong thời kì này nếu
anh ta thực sự đang yêu.
Sau mười lăm
ngày anh ta quay lại và nói với tôi, “Thầy làm tôi lẫn lộn. Tâm trí tôi rơi vào
bất định lớn. Mười lăm ngày trước đây tôi đã rất rõ ràng và chắc chắn trong tâm
trí. Thầy đã làm gì với tôi vậy? Tôi đã đến thầy để nhận được ân huệ của thầy để
cho hôn nhân vì tình của tôi có thể thành công được.”
Tôi bảo anh ta,
“Vì bạn đã đến nhận ân huệ của tôi - đó là vì sợ - tôi đã yêu cầu bạn nghĩ lại.
Người ta đi tìm kiếm ân huệ chỉ khi người ta không chắc chắn về bản thân mình.
Cho nên nếu bạn không yêu cầu ân huệ ở tôi, tôi sẽ không nói gì cả. Bạn không
chắc chắn bên trong bản thân mình rằng bạn sẽ hạnh phúc, cho nên bạn yêu cầu ân
huệ của tôi để cho trách nhiệm dịch chuyển sang ai đó, để cho bạn không còn có
trách nhiệm nữa. Bạn đã định bẫy tôi; bạn đang yêu và bạn định bẫy tôi. Bây giờ
bạn nghĩ thêm một chút đi, và nếu bạn vẫn còn lẫn lộn, đợi thêm nửa tháng nữa.”
Anh ta nói,
“Tôi không thể đợi lâu thêm nữa, bởi vì nếu tôi đợi thêm nửa tháng nữa thì sẽ
có li dị trước khi hôn nhân xảy ra.”
Tất cả chúng ta
đều sợ hãi. Chúng ta không mở mắt ra và nhìn xung quanh để xem vấn đề là gì, bởi
vì chúng ta đã trong nỗi sợ rằng điều chúng ta thấy không phải là thật ở đó.
Chúng ta che giấu vết thương của mình. Nếu chúng ta mở chúng ra và nhìn, thế
thì chúng ta sẽ biết rằng có vết thương. Cho nên chúng ta đã che giấu vết
thương và phủ vòng vàng lên trên nó. Vòng vàng được thấy, không phải là vết
thương. Và khi thấy vòng vàng chúng ta nghĩ rằng mọi thứ đều ổn thoả. Nhưng
vòng vàng có bao giờ chữa lành được vết thương nào đâu? Vết thương đó cứ phát
triển ngày càng lớn hơn bên trong, cho đến khi nó trở thành ung thư.
Toàn bộ cuộc đời
chúng ta là sự tự lừa dối trong đó không có gì đáng giá cả. Chúng ta cũng cảm
thấy rằng chẳng có gì, nhưng chúng ta cũng sợ rằng chúng ta đang sống chỉ với sự
giúp đỡ của những ảo tưởng này và nếu chúng ta mở mắt ra và thấy rằng những cái
đó nữa cũng không tồn tại, thế thì làm sao chúng ta sẽ sống được?
Khó khăn này đã
nảy sinh ở phương Tây. Cố hiểu điều này đi.
Trong ba trăm
năm lại đây, phương Tây đã cố gắng để nhìn mọi thứ như nó vậy. Bây giờ phương
Tây lâm vào khó khăn. Khó khăn là ở chỗ cố gắng này đã thành công trong việc chỉ
ra rằng không có gì trong mọi thứ. Làm gì bây giờ? Bây giờ chỉ còn một cảm giác
lan tràn ở phương Tây, rằng mọi thứ đã trở thành trống rỗng và vô dụng, dường
như không có ý nghĩa gì. Làm gì bây giờ?
Trong suốt ba
trăm năm này, phương Tây đã nghĩ nhiều về mọi mối quan hệ trong cuộc sống, và kết
quả là ở chỗ tất cả các quan hệ này đều trở nên đáng ngờ. Ngày nay không người
yêu nào ở phương Tây có thể đủ bạo dạn để nói với người mình yêu rằng tình yêu
của người đó là vĩnh viễn, vĩnh hằng. Nói như vậy đã trở nên không thể được, bởi
vì càng nhiều nghiên cứu được tiến hành về tình yêu, vấn đề càng rõ ra rằng
không có gì nhất thời hơn tình yêu. Đấy chỉ là lời của nhà thơ và người mù, những
người hay nói tình yêu của họ là vĩnh viễn.
Cần mắt mù trước
khi người ta có thể nói rằng tình yêu là vĩnh viễn. Vấn đề dường như vậy nhưng
trong thực tại thì không phải như vậy. Khi bạn đang yêu ai đó, dường như là
tình yêu này sẽ kéo dài mãi mãi và không sức mạnh nào trên trái đất này có thể
phá vỡ nó được. Bạn đang trong ảo tưởng lớn. Không cần tới sức mạnh nào lớn cả,
thực ra không sức mạnh bên ngoài được cần tớt chút nào; bạn sẽ đích thân làm việc
phá vỡ nó, một mình bạn là đủ cho nó.
Tình yêu là phù
du. Khi hoa nở buổi sáng, ai có thể tin được rằng nó sẽ tàn phai trong vài giờ?
Việc nở hoa của nó lừa dối và làm cho người ta cảm thấy rằng nó sẽ còn mãi mãi,
nhưng sự việc không xảy ra theo cách đó. Bất kì cái gì đã nở hoa sẽ phôi phai.
Khi tình yêu nở hoa, cái đó nữa cũng là đoá hoa và nó sẽ phôi phai.
Phương Tây đã
đi tới biết rõ điều này, đã đi tới hiểu rõ điều này, và đã lâm vào khó khăn lớn:
yêu đã trở thành khó khăn, bởi vì để yêu, ảo tượng về cái vĩnh viễn của nó là cần
thiết. Không có ảo tượng đó không thể có tình yêu. Nếu ảo tượng đó bị tan vỡ,
tình yêu cũng sụp đổ.
Cho nên chỉ dục
còn lại ở phương Tây. Dường như không thể có tình yêu, bản năng dục còn lại.
Nhưng rất khó để cho cuộc sống chiều sâu dựa trên nền tảng dục. Và rất khó để tạo
ra gia đình dựa trên cơ sở bản năng dục. Và nếu bản năng dục là thực tại duy nhất,
thế thì không đáng để trải qua nhiều rắc rối đến thế, nhiều trách nhiệm thế của
hệ thống gia đình.
Ở phương Tây,
chồng và vợ đang mất dần, bạn trai và bạn gái đang tăng lên. Mối quan hệ chồng-vợ
đã thôi là điều quan trọng. Bạn trai và bạn gái - điều đó nghĩa là mối quan hệ
vẫn còn tốt và sinh động. Nếu ngày mai nó thay đổi thế thì không có đau đầu
pháp lí nào. Nhưng thế thì trống rỗng sẽ bắt đầu. Tình yêu bị bật gốc rễ, và nếu
thiền không được làm thành sẵn có sẽ có rắc rối nghiêm trọng. Năng lượng được
thoát ra và không có con đường khác cho nó đi. Đó là lí do tại sao người ta cứ
nhắm mắt lại và cảm thấy rằng nơi họ đang bước là cõi trời - ngay cả trong địa
ngục. Khi mắt mở ra, địa ngục được thấy liền. Bạn cũng bắt gặp các cơ hội hàng
ngày, nơi bạn thấy địa ngục. Cuộc sống là tới mức bạn sẽ chọn việc tách rời
theo cách riêng của bạn.
Cuộc sống tới mức
tách rời nhất định xảy ra, không phải là bạn phải nỗ lực không mệt mỏi vì nó.
Thực ra bạn đang nỗ lực không mệt mỏi để cho tách rời không nảy sinh. Nghĩ mà
xem, nhìn lại cuộc đời bạn, lấy cái nhìn mắt chim và bạn sẽ thấy rằng toàn bộ
cuộc sống đều dẫn bạn tới tách rời. Toàn thể thông điệp của cuộc sống là tách rời,
toàn thể dòng chảy cuộc sống đều hướng về tách rời. Cuộc sống đem đến cho bạn nỗi
buồn từ mọi hướng nhưng dầu vậy tách rời vẫn không nảy sinh trong bạn. Cuộc sống
làm thất vọng bạn trong mọi khía cạnh, phá tan bạn, xé bạn thành từng mảnh,
nhưng tách rời vẫn không nảy sinh trong bạn - đấy là phép màu! Bằng không, dòng
chảy tự nhiên của cuộc sống là hướng tới tách rời.
Trong gắn bó là
việc sinh thành của cuộc sống, còn tách rời là kết quả cuối cùng. Chúng ta được
sinh ra từ gắn bó, nhưng nếu chúng ta chết cũng trong gắn bó điều đó chỉ có
nghĩa là chúng ta không hiểu được thông điệp của cuộc sống.
Tách rời là
ngôn ngữ của cuộc sống. Nếu bạn tìm kiếm, nếu bạn không tự lừa dối mình thì tất
cả đều có ích - cả bạn bè lẫn kẻ thù; người gần gũi và thân thiết cũng như người
xa cách, tất cả đều có ích trong việc đưa bạn hướng tới tách rời.
Quả của tách rời
là tri thức...
Ngày bạn đứng vững
chắc trong tách rời và bạn không còn ham muốn nào về thế giới này, bạn không
còn nhu cầu nào từ thế giới này, và cái vô tích sự của thế giới này được lộ ra
cho bạn - kết quả là hiểu biết. Thế thì bạn tràn đầy trí huệ; thế thì lần đầu
tiên trí huệ nảy sinh trong bạn và ngọn đèn được thắp sáng bên trong bạn.
Trong trạng
thái của tách rời ngọn đèn của trí huệ bùng cháy. Nếu ngọn đèn của tri thức
không bùng cháy, hiểu rõ rằng tách rời là giả. Đây là phần thứ hai của kinh. Nếu
bước thứ hai không theo sau, thế thì bước thứ nhất là giả; nó đã chứng tỏ không
kết quả gì. Trong nước ta không thiếu những người đã từ bỏ gắn bó - những người
này vẫn đang ngồi trong mọi đền đài và tu viện - nhưng khó mà tìm thấy người
trí huệ.
Tôi đã từng gặp
không biết bao nhiêu là sadhu - thánh nhân - và sannyasin. Họ đã chạy trốn nhiều
năm trước đây, nhưng họ nói, “Không có gì xảy ra tới giờ, tri thức đã không xảy
ra.” Nhưng ngay cả họ cũng không sẵn sàng để chấp nhận rằng tách rời của họ là
giả và đó là lí do tại sao tri thức đã không xảy ra cho họ. Họ tin rằng tách rời
của họ là đầy đủ; mỗi tri thức đã không xảy ra. Nếu tri thức đã không xảy ra,
thế thì bước thứ nhất đã đi sai, tách rời của bạn là giả. Đấy không phải là sản
phẩm của gắn bó chín muồi, nó không bắt nguồn từ gắn bó chín muồi; bạn đã thoát
li khỏi thế giới một cách vội vã, bạn đã chạy trốn mà không mở mắt ra - để điều
này được ghi nhớ.
Có một người
đang bước đi trong địa ngục với mắt nhắm nghiền và ấp ủ những giấc mơ trong đó
người đó đang trên cõi trời. Người đó không mở mắt ra để khỏi trông thấy địa ngục.
Người đó nghe thấy những phát biểu của người thấy và hiền nhân rằng thế giới là
địa ngục; bản thân người đó cảm thấy bên trong rằng có thể là như vậy và người
đó sợ mở mắt ra. Hay đôi khi khi mắt người đó mở ra trong một biến cố ngẫu
nhiên nào đó người đó thấy địa ngục, và điều mà người thấy và hiền nhân đang
nói tỏ ra là đúng. Nhưng người đó không giữ cho mắt mở, người đó cứ trở nên bồn
chồn hơn, và tiếng nói của người thấy và hiền nhân cứ tiếp tục ẩn sâu hơn trong
người đó. Người đó bắt đầu cảm thấy từ bên trong rằng mọi thứ là sai và người
đó chạy trốn khỏi thế giới. Nhưng người đó chạy trốn với đôi mắt vẫn nhắm nghiền.
Người đó đi vào tách rời, nhưng người đó không nhìn vào gắn bó bằng mắt mở. Với
mắt nhắm người đó đã trong gắn bó; với mắt nhắm người đó đã đi vào tách rời.
Điều này sẽ
không đem lại kết quả của tri thức, bởi vì không có thay đổi gì trong trạng
thái tâm trí của người này - mắt người đó vẫn nhắm. Cho đến hôm qua người đó đã
bước đi tựa người mù trong gắn bó; hôm nay người đó đang bước đi tựa người mù
trong tách rời.
Tách rời, cái xảy
ra bởi việc mở mắt của người ta ở bên trong gắn bó, là tách rời đã chín chắn,
chín muồi. Chính trong chín muồi này mà ngọn đèn tri thức được thắp sáng.
quả của tri thức
là thảnh thơi.
Khi ngọn đèn của
tri thức được thắp sáng kết quả là gì?
Kết quả là thảnh
thơi, tĩnh lặng. Tâm trí, tâm thức, thân thể, bản thể - mọi thứ đều đạt tới thảnh
thơi. Không có nỗ lực bị bỏ lại ở bất kì đâu; không có căng thẳng, không dồn
nén, thậm chí không một dấu vết của bất kì những điều này còn lại ở bất kì đâu
trong con người đó. Tĩnh lặng, thảnh thơi xảy ra.
Nếu tri thức
không đem đến thảnh thơi, hiểu rõ rằng tri thức ấy là giả. Thế thì mỗi bước kế
tiếp phải là giả nốt. Nếu người có tri thức trông căng thẳng, nếu người có tri
thức không thảnh thơi, nếu người có tri thức phải áp đặt kỉ luật lên chính
mình, thế thì biết rằng tri thức đó phải đến từ kinh sách, không phải là qua
kinh nghiệm riêng của người đó. Người đó có thể đã đạt tới tri thức đó bằng
cách lắng nghe người khác nhưng không qua việc biết riêng của người đó. Trong
trường hợp như thế, tri thức có thể tốt trong trí năng nhưng nó còn chưa đi vào
bản thể. Tri thức như thế là gánh nặng trên đầu, nó không trở thành đôi cánh mà
nhờ đó người ta có thể bay trên trời.
Quả của tri thức
là thảnh thơi, tới mức không còn nỗ lực chút nào bên trong người ta. Không còn
nỗ lực thuộc bất kì loại gì, người ta trở thành vô nỗ lực. Bất kì cái gì xảy ra
cũng đều đúng - trạng thái của điều như thế thịnh hành, thảnh thơi xảy ra. Bất
kì cái gì hiện hữu đều đúng. Không có nỗ lực nào để đạt tới bất kì điều gì,
không có sợ hãi bị mất bất kì cái gì. Không sợ nào nắm giữ bạn rằng cái gì đó
có thể đi sai, không khó chịu nào lởn vởn rằng sai lầm nào đó có thể xảy ra,
không căng thẳng là bạn có thể lỡ, bạn có thể ngã, bạn có thể đi lạc lối - điều
này gọi là uparati, thảnh thơi.
Uparati, thảnh
thơi, là điều rất sâu sắc. Bạn sẽ bắt gặp hàng triệu người vô gắn bó, nhưng
không ai có thoáng nhìn về tri thức trong họ. Bạn sẽ bắt gặp hàng nghìn người
có tri thức nữa, nhưng không có thoáng nhìn về thảnh thơi trong họ. Không thiếu
các học giả uyên thâm hay người thông thái.
Nhưng điều rất
thú vị cần lưu ý là đôi khi người dốt nát và người không có tri thức dường như
nhiều thảnh thơi hơn người có tri thức. Nếu bộ óc của học giả uyên thâm và bộ
óc của người dốt nát được đem ra kiểm tra thì bộ óc của người dốt nát sẽ thấy
trong thảnh thơi, còn bộ óc của học giả sẽ thấy trong rối loạn lớn. Tất cả dường
như đi vào trong lộn ngược. Ngay cả dốt nát cũng tốt hơn tình huống này bởi vì
ít nhất dốt nát cũng là của bạn. Tri thức này được vay mượn và do đó là gánh nặng.
Cái gì của riêng người ta mới làm cho người ta nhẹ nhàng, còn cái gì vay mượn đều
làm cho người ta nặng gánh. Cái gì của riêng người ta bao giờ cũng mang đến nở
hoa, cái gì của người khác nghiền nát người ta.
Quả của tri thức
là thảnh thơi và quả của thảnh thơi là an bình. Người đã đạt tới thảnh thơi dần
dần, dần dần sẽ đắm chìm sâu hơn và sâu hơn và sâu hơn trong nó, người đó đạt tới
trung tâm đã từng được gọi là an bình.
Khi một người
đang bơi, người đó sẽ trên bề mặt nước. Bơi là nỗ lực, việc làm. Nhưng người
khác, người đã để bản thân mình mất đi và thảnh thơi, người không bơi mà chỉ nổi
vô nỗ lực, cuốn đi theo dòng sông đến bất kì đâu nó đưa tới - đối với người đó
sông đưa người đó đến đâu cũng tốt, và nếu sông không đưa người đó đến đâu cả
thì thế nữa cũng tốt - người như thế đã đạt tới thảnh thơi. Người như thế, người
nằm vô nỗ lực ở đó sẽ dần dần, dần dần chìm vào trong sông; người đó sẽ tiếp tục
chìm cho tới khi tới độ sâu tối thượng, cho tới khi người đó chạm vào đá dưới
đáy sông - hòn đá đáy sông mang tên an bình.
Tri thức đến
qua tách rời... nếu tách rời là thực, tri thức nhất định theo sau. Nếu tri thức
là đúng, thảnh thơi nhất định sẽ theo sau. Nếu thảnh thơi là thực, an bình bao
giờ cũng sẽ theo sau. Và nếu an bình không nảy sinh từ thảnh thơi của bạn, biết
rõ rằng thảnh thơi của bạn là thứ bị áp đặt.
Ở phương Tây
nhiều sách được viết mang những cái tên kì lạ như, Bạn phải thảnh thơi. Bây giờ
tiêu đề của cuốn sách này là ngớ ngẩn. Trong chính từ ‘phải’ là đã có căng thẳng
rồi. Bây giờ ‘bạn phải’ này sẽ trở thành vấn đề, nó sẽ không để bạn thảnh thơi
nữa. Người ta nằm dài trên giường đọc những cuốn sách như thế và thử đủ mọi tư
thế. Cuốn sách nói người ta phải thảnh thơi, cho nên họ đang thảnh thơi!
Họ có thể thậm
chí áp đặt thảnh thơi lên bản thân mình, họ thậm chí có thể nằm trên giường cứng
đơ như cái xác, nhưng căng thẳng vẫn tiếp tục bên trong họ bởi vì bây giờ họ phải
nghĩ cả về thảnh thơi nữa. Nếu bạn phải nghĩ về thảnh thơi của mình, điều ấy nữa
sẽ đòi hỏi nỗ lực, nghị lực. Và nhớ, nếu bạn phải làm điều này, bạn sẽ ra khỏi
nó thậm chí còn kiệt lực hơn, bởi vì nỗ lực đó chính là cái làm cho người ta mệt
mỏi. Bạn đang tập trung vào “Tôi đang nghỉ ngơi, tôi không làm bất kì nỗ lực
nào chút nào.” Cái “tôi không làm bất kì nỗ lực nào chút nào” bây giờ trở thành
nỗ lực.
Không an bình
nào sẽ được đạt tới thông qua việc thảnh thơi như thế. Thảnh thơi là việc xảy
ra mang tính tồn tại. Thảnh thơi nghĩa là tâm thức bạn không có gì đáng phải đạt
tới, tâm thức bạn không có nhu cầu thuộc bất kì loại gì và không ham muốn trở
thành cái gì đó - không ham muốn thậm chí để trở thành được thảnh thơi;
không có
khăng khăng ngay cả để thảnh thơi tới. Nếu nó tới thì tốt, nếu nó không
tới thì cũng tốt tương đương.
Bạn có thể đã từng
nghe những thầy tu khổ hạnh Mô ha mét giáo trên đường nói, “Cầu cho người cho
được hạnh phúc, cầu cho người không cho được hạnh phúc.” Kẻ ăn xin bình thường cũng
lặp lại điều này, nhưng phát biểu này là từ người Sufi. Kẻ ăn xin thường lặp lại
điều này một cách dối trá. Khi người đó nói, “Cầu cho người cho được hạnh
phúc,” loé sáng trong mắt của người đó rất khác thường, còn khi người đó nói,
“Cầu cho người không cho được hạnh phúc,” không có loé sáng trong mắt chút nào.
Bạn sẽ đi tới biết khác biệt đó bằng cách cho người đó và quan sát, và bằng
cách không cho người đó và quan sát.
Có một thầy tu
khổ hạnh Sufi tên là Bayazid. Ông ta có thay đổi đôi chút trong phát biểu này.
Ông ta hay nói, “Cầu cho người cho được hạnh phúc và cầu cho người không cho thậm
chí còn hạnh phúc hơn.” Ai đó hỏi Bayazid, “Từ trước tới giờ chúng tôi chỉ nghe
thấy ‘Cầu cho người cho được hạnh phúc và cầu cho người không cho được hạnh
phúc,' nhưng việc nói thêm này nghĩa là gì?”
Bayazid trả lời,
“Khi ai đó cho, tôi hài lòng, nhưng khi ai đó không cho, tôi thậm chí còn hài
lòng hơn. Cảm giác của tôi về lòng biết ơn còn mạnh mẽ hơn. Khi ai đó cho, điều
ấy là phải, tôi hài lòng; nhưng khi ai đó không cho, thế thì hài lòng bên trong
vẫn còn. Tôi cảm thấy muốn cúi mình với người ấy. Tôi cảm thấy rằng nếu người ấy
cho, tôi sẽ mất đi cơ hội vẫn còn hạnh phúc khi không nhận được. Đấy là lí do tại
sao tôi nói, “Cầu cho người cho được hạnh phúc và cầu cho người không cho còn hạnh
phúc hơn.” Người đó là loại người cho tôi thêm một cơ hội để thấy dòng suối hạnh
phúc của mình có còn liên tục không khi không nhận được gì.”
Thảnh thơi đến
từ bên trong, nó không có được qua nỗ lực. Cho nên toàn bộ quá trình này là
theo từng bước. Vô gắn bó là bước đầu tiên hướng tới yên tĩnh. Mọi người đều muốn
thảnh thơi, nhưng tách rời đến trước - đó là bước đầu tiên hướng tới thảnh
thơi. Nhưng Upanishad áp đặt các điều kiện và làm cho mọi thứ thành khó khăn.
Ai có đó mà không muốn thảnh thơi? Mọi người đều tìm kiếm thảnh thơi, mọi người
đều tìm kiếm an bình. Nhưng thế thì toàn bộ khoa học của nó cũng phải được tuân
theo. Bạn muốn hoa nhưng không gieo hạt. Bạn gieo hạt nhưng bạn không tưới nước
cho chúng. Hay nếu bạn tưới nước cho chúng, bạn không làm hàng rào để bảo vệ
cây khỏi thú ăn. Không, người ta phải đi qua từng bước một.
Tách rời có
nghĩa là vứt bỏ khỏi tâm trí người ta mọi loại ham muốn. Khi tâm trí được vứt bỏ
đi các ham muốn, năng lượng mà đã bị tiêu phí cho việc chạy theo mọi ham muốn
này sẽ được tiết kiệm và nó trở thành ngọn lửa.
... quả của tri
thức là thảnh thơi...
Người đã đi đến
biết không còn nguồn căng thẳng nào nữa. Người đã đi đến biết cũng không có lí
do nào để lo lắng băn khoăn. Không có gì trong thế giới này mà người ta phải
băn khoăn về nó cả.
... quả của tri
thức là thảnh thơi,
và an bình hạ
xuống từ việc kinh nghiệm tự phúc lạc chính là quả của thảnh thơi.
Nếu từng điều
đã nói trên không xảy ra kế tiếp, biết rằng điều trước đó đã không cho quả. Thiếu
vắng đối tượng cảm giác là trong chính bản thân sự mãn nguyện tối cao và phúc lạc
vô song.
Xem tiếp Chương 9 – Quay về Mục lục
Chương 8. Hiểu quả
4/
5
Oleh
John Nguyen
