Osho
- Ngón tay chỉ trăng
Chương
7. Bạn là cái nút
Ảo tưởng về mọi
thứ trong linh hồn người ta là hiện tượng bị áp đặt. Vứt bỏ nó, người ta là bản
thân Brahman hoàn hảo, bất nhị và vô hành động - thực tại tuyệt đối.
Thế giới, cái
dường như là một điều khác đối với linh hồn, gần như không thực. Phân chia ở
đâu trong thực thể vô hình dạng và vô tổ chức, thuần khiết? Linh hồn-ý thức là
tự do với các ý niệm của người thấy, việc thấy và cái được thấy, vân vân. Nó là
miễn nhiễm và tràn đầy tựa đại dương vào lúc đại hồng thuỷ.
Ngay cả bóng tối
cũng tan biến trong ánh sáng, nguyên nhân của ảo tưởng tan biến trong thực tại
tuyệt đối vô song vốn không có tổ chức - cho nên phân chia trong nó là ở đâu?
Thực tại tối
cao là cái một kì dị; làm sao có thể có phân chia trong nó được? Trạng thái
sushupti - ngủ say, không mơ - là phúc lạc; ai thấy phân chia trong đó?
Câu hỏi rất
quan trọng đã được nêu ra trong kinh này. Câu hỏi này đã từng nảy sinh trong
tâm trí con người trong nhiều thế kỉ, kể từ lúc bắt đầu thời đại: làm sao được
tự do khỏi thế giới này cái chúng ta đã trở nên bị bao quanh bởi buồn và khổ?
Và thế giới này là thực tại gì và cái gì là bản chất của bóng tối này mà trong
đó chúng ta bị nhấm chìm và bị lạc? Bởi vì không biết về bản chất của nó, không
thể có cách tự do với nó.
Bất kì cái gì
người ta muốn tự do với nó, người ta sẽ phải biết rõ về nó. Tù túng được tạo ra
bởi do dốt nát của chúng ta tạo ra. Cho nên nếu tù túng được mở ra và làm lỏng
đi, nó chỉ thông qua việc biết rằng các nút có thể được tháo ra.
Một hôm, khi Phật
đến giữa các đệ tử, ông ấy đã cầm trong tay một chiếc khăn tay bằng lụa. Các đệ
tử ngạc nhiên, vì Phật chưa bao giờ cầm cái gì trong tay khi ông ấy đến nói
chuyện với đệ tử. Thế rồi ông ấy ngồi trước họ và buộc một nút trên chiếc khăn
tay, thế rồi nút thứ hai, thế rồi nút thứ ba - năm nút cả thẩy, nút nọ trên nút
kia. Thế rồi ông ấy hỏi các đệ tử, “Khi ta đến đây với chiếc khăn tay này chưa
có nút nào trên đó, còn bây giờ đã có năm nút. Bây giờ ta hỏi các ông liệu có
gì thay đổi trong chiếc khăn tay không hay nó vẫn còn là chiếc khăn tay khi ta
đem tới?”
Chắc chắn các đệ
tử phải đã trong khó khăn. Nói rằng chiếc khăn đã thay đổi thì không đúng, vì
chiếc khăn vẫn còn y hệt như cũ. Thắt các nút trên chiếc khăn không làm khác biệt
chút xíu gì trong bản chất của chiếc khăn - nó lớn thế nào và nó làm bằng gì
thì vẫn như cũ. Nhưng nói chiếc khăn không thay đổi gì thì cũng không phải, bởi
vì trước đây nó là chiếc khăn để mở còn bây giờ nó đầy những nút. Thay đổi ngần
ấy chắc chắn đã xảy ra.
Một đệ tử đứng
dậy và nói, “Thầy hỏi một câu rất khó. Cái khăn đã gần như thay đổi.”
Hiểu điều này một
chút đi, bởi vì từ gần như này không mấy chốc sẽ tới trong kinh này và thế thì
bạn sẽ bắt buộc phải hiểu nó. “Đã gần như thay đổi” - điều đó có nghĩa là nó đã
thay đổi và nó cũng không thay đổi. Nó thay đổi nếu chúng ta nhìn vào thân thể
của chiếc khăn, và nó không thay đổi nếu ta nhìn vào bản chất của chiếc khăn.
Nó đã thay đổi nếu chúng ta nhìn vào thân thể nó. Nó không thay đổi nếu chúng
ta nhìn vào linh hồn nó. Thay đổi đã xảy ra bên ngoài bởi vì các nút, nhưng nó không
bị thay đổi bên trong. Hình dạng và dáng vẻ đã thay đổi. Nó không bị thay đổi nếu
ta nhìn vào bản chất thực của nó, nhưng nó bị thay đổi nếu ta nhìn vào thực tại
của nó, bởi vì chiếc khăn để mở có thể được dùng như chiếc khăn tay, nhưng chiếc
khăn có năm nút trong nó không thể dùng được như chiếc khăn tay. Nó thậm chí
không còn có thể được gọi là khăn nữa, vì ‘khăn’ là tên của một vật dùng được.
Nhớ lấy, khi
chúng ta đặt tên cho cái gì đó, thực ra đó là việc đặt tên cho một vật dùng được.
Đó là việc lạm dụng ngôn ngữ để dùng cùng tên ngay cả khi vật dùng được không
có đó. Chẳng hạn, cái quạt: khi người ta dùng nó quạt trong thời tiết nóng, nó
được gọi là chiếc quạt; nhưng khi chiếc quạt không được sử dụng và đem cất đi,
nó không nên được gọi là quạt nữa. Cái quạt nghĩa là cái gì đó đã được dùng để
quạt, cái hiện tại vận hành như cái quạt. Nhưng khi nó nằm không đấy, khi nó
không quạt không khí thì nó không nên được gọi là quạt.
Chân là cái gì
đó để bạn bước. Nhưng khi bạn không bước, chúng không nên được gọi là chân. Tên
nên là chức năng, là hành động. Nhưng ngôn ngữ sẽ trở nên quá khó - một tên
tách biệt cho chân đang bước, một tên tách biệt cho chân nghỉ - điều đó tất cả
thành quá phức tạp; cho nên bằng cách nào đó chúng ta dùng một tên thôi.
Vậy từ quạt có
hai nghĩa ngụ ý. Một, chiếc quạt đang quạt không khí; và thứ hai, chiếc quạt có
thể quạt không khí, có tiềm năng quạt không khí. Chúng ta dùng cùng một từ theo
cả hai nghĩa. Có các cách dùng với chiếc khăn: cái gì đó có thể được buộc trong
nó. Nhưng chiếc khăn tự nó đã được buộc lại, bây giờ chẳng cái gì có thể được
buộc trong nó.
Phật nói, “Ta
muốn hỏi thêm một câu hỏi nữa, và đó là, nếu ta muốn gỡ chiếc khăn này, ta sẽ
phải làm gì?” Nói điều này, Phật bắt đầu kéo chiếc khăn từ cả hai đầu; các nút
trở nên nhỏ hơn và chặt hơn.
Một đệ tử kêu
lên, “Thưa thầy, nhưng điều thầy đang làm sẽ làm cho các nút thậm chí chặt hơn
và làm cho việc tháo ra trở thành gần như không thể được nữa.”
Phật nói, “Một
điều bây giờ rõ ràng, là chiếc khăn không thể được mở ra bằng cách làm bất kì
điều gì. Ta đang làm điều gì đó, nhưng các ông nói rằng điều này làm cho tình
thế tồi tệ hơn. Vậy cái gì sẽ phải được làm để mở chiếc khăn ra?”
Một đệ tử trả lời,
“Trước hết chúng tôi sẽ phải biết cách các nút đã được buộc lại. Chừng nào mà bản
chất của các nút còn không được hiểu, không thể nào gỡ được chúng ra. Cho nên
trước hết chúng tôi sẽ phải xem nút được buộc lại như thế nào. Cách gỡ nút ra
chỉ là làm ngược lại với cách buộc nút. Chừng nào chúng tôi chưa biết cách thức
nút được buộc lại, không làm gì là tốt hơn làm cái gì đó, bởi vì làm cái gì đó
phức tạp có thể còn tăng lên và nút có thể còn chặt hơn, làm cho giải pháp thêm
phần rắc rối.”
Trong tâm thức
chúng ta cũng có các cái nút. Và tình huống cũng hệt như vậy: chúng ta không thay
đổi chút nào vậy mà chúng ta cũng đã thay đổi. Bản chất của chúng ta đích xác hệt
như bản chất của Brahman tối thượng, nhưng có một số nút trong chúng ta. Chừng
nào những nút này không được gỡ ra, chúng ta không thể là bản tính tối thượng
không có nút.
Người Jaina đã
đặt tên cho Mahavira, một cái tên rất đáng yêu. Cái tên là: Nirgrantha, người
vô nút. Bất kì khi nào Phật nói tới Mahavira ông ấy đều gọi ông này là
Nirgrantha Natputta, tức là đứa con của gia đình Natha, tức là đứa con trai được
sinh ra trong cộng đồng Natha, người đã trở thành vô nút; các nút của người đó
đều được cắt hết, mở hết.
Từ nirgrantha rất
có giá trị. Brahman, cái tuyệt đối, là vô nút, còn chúng ta đầy những nút - đấy
là khác biệt duy nhất. Nhưng làm sao các cái nút bị buộc lại và chúng là gì? Cần
hiểu bản chất của chúng. Kinh này là về bản chất của nút. Để chúng ta hiểu kinh
này, có một vài hướng dẫn rất có giá trị trong đó.
Ảo tưởng về mọi
thứ trong linh hồn người ta là hiện tượng bị áp đặt. Vứt bỏ nó, người ta là bản
thân Brahman hoàn hảo, bất nhị và vô hành động - thực tại tuyệt đối.
Khi cái nút được
tạo ra trong chiếc khăn tay, nó không hề tách biệt khỏi khăn tay. Bạn đã bao giờ
thấy riêng cái nút mà không có khăn tay chưa? Bạn đã bao giờ thấy cái nút riêng
không có dây nào không? Bạn đã bao giờ thấy cái nút thuần tuý - cái nút tất cả
chỉ nó thôi chưa? Bất kì khi nào có nút, nó sẽ ở trong cái gì đó, nó không bao
giờ có thể là tất cả chỉ nó. Điều này chỉ ra một sự kiện rõ ràng, rằng nút
không thể tách rời khỏi cái kết cấu nên nó. Khi nó không thể tồn tại chỉ bởi bản
thân nó, làm sao nó có thể bị áp đặt từ bên ngoài được?
Không, nút
không đến từ bên ngoài. Và ngay cả trong chiếc khăn nút cũng chưa có đó chừng
nào khăn còn chưa bị buộc lại. Cho nên đấy là một vấn đề rất thú vị. Nút không
thể tới từ bên ngoài được - không ai đã bao giờ thấy cái nút riêng mình nó,
không có loại như thế tồn tại. Nó bao giờ cũng nằm trong cái gì đó, chưa bao giờ
một mình cả. Và bản thân chiếc khăn là vô nút mới khoảnh khắc trước, nó đã
không mang bất kì nút nào. Thế thì nút từ đâu tới? Nó có tới từ bên trong chiếc
khăn không? Làm sao nút có thể tới từ bên trong chiếc khăn khi không có dấu vết
nào về nút trong chiếc khăn từ khoảnh khắc trước đó? Nút không đến từ bên
ngoài, bởi vì ở bên ngoài chẳng tìm thấy nút ở đâu cả. Nút không tới từ bên
ngoài, không tới từ bên trong; chiếc khăn đã áp đặt nút lên bản thân nó, chiếc
khăn đã tạo ra nút. ‘Đã tạo ra’ nghĩa là nó không có trong bản chất của chiếc
khăn, nó đã đạt tới điều đó.
Thế giới là
thành tựu của chúng ta; chúng ta đã tạo ra nó bằng nỗ lực lớn, qua nhiều phương
sách. Nút không tồn tại sẵn đâu đó trong sự tồn tại, chiếc khăn đã áp đặt nút
lên chính nó bằng nỗ lực lớn.
Bất kì điều gì
dường như trong tâm thức cũng đều sự áp đặt. Bất kì cái gì tới được kinh nghiệm
bên trong, nó tất cả đều là áp đặt.
Như chúng ta đã
thảo luận trước đây, mọi thứ đến trước gương và chúng được phản xạ trong
đó. Nếu như gương phạm phải cùng sai lầm
mà chúng ta phạm phải, nghĩ rằng nó chính là cái phản xạ đó, nó sẽ trong cùng rắc
rối như chúng ta vậy. Nhưng gương không phạm phải sai lầm như vậy, mặc dầu một
số vật tựa gương khác thì có thể - như tấm kẽm chụp ảnh hay phim chụp ảnh - có
phạm phải những sai lầm như vậy.
Phim được giấu
kín bên trong máy ảnh và gương là tương tự nhau. Hình ảnh hình thành trong
gương cũng như trong phim trong máy ảnh, nhưng gương không bắt giữ hình ảnh,
trong khi phim bắt giữ hình ảnh. Vậy, bất kì hình ảnh nào tạo ra trên phim đều
bị nó giữ lại, và bởi vì việc bắt giữ này phim trở thành vô dụng. Bây giờ không
hình ảnh nào khác có thể hình thành trên bề mặt của nó được nữa, nó đầy rồi.
Gương không bao
giờ đầy. Tuy nhiên nhiều hình ảnh có thể hình thành trong nó, nó bao giờ cũng
còn trống rỗng. Hình ảnh tới rồi đi, gương cứ buông bỏ chúng. Từ bỏ của gương
là liên tục. Nó cứ buông bỏ đam mê, nó không bao giờ bám giữ vào chúng. Khuôn mặt
bạn được thấy trong gương, và nó buông bỏ khuôn mặt đó. Ngay khi bạn rời bước
đi là gương đã quên bạn rồi, dường như bạn chưa bao giờ tới trước nó cả.
Tâm thức của
con người giống hệt gương và tâm trí của con người tựa như phim chụp ảnh. Tâm
thức bên trong của con người tựa như gương, không cái gì bám vào đó cả. Nhưng
con người có cơ chế khác tên là tâm trí. Tâm trí tựa như phim: bất kì cái gì được
phản chiếu trong nó đều bị nó giữ lại.
Thực ra nếu tâm
trí không nắm giữ mọi thứ nó mất tính tiện dụng của nó. Đó là lí do tại sao
chúng ta nói rằng trí nhớ tốt là điều có giá trị. Xã hội, giáo dục, tất cả đều
dựa trên hệ thống trí nhớ tốt. Trí nhớ tốt đó thuộc về ai? Nó thuộc về tâm trí
nắm giữ các vật.
Tâm trí là cơ
chế tựa như phim. Nó cứ giữ lại tựa như phim; bất kì cái gì đến trước nó, nó giữ
lại. Bất kì cái gì không dùng cũng được giữ lại; bất kì cái gì vô dụng, rác rưởi
và vô nghĩa, cũng được giữ lại. Cái không được cần chút nào cũng được giữ lại.
Phim không thể chọn được. Bất kì cái gì được phơi ra trước nó - nó không thể chọn
cái gì giữ lại, cái gì không giữ lại. Bất kì cái gì tới trước nó đều bị nó bắt
giữ.
Tâm trí bạn cứ
nắm giữ mọi thứ: bạn không có ý tưởng bạn tích luỹ bao nhiêu thứ hẩu lốn trong
ngày. Các nhà tâm lí bây giờ nói rằng tâm trí bạn không chỉ nắm bắt những cái bạn
nhận biết, nó cũng nắm bắt cả những cái bạn không nhận biết. Chẳng hạn, chúng
ta đang ngồi cả đây; tôi nói và các bạn nghe tôi. Bạn thậm chí không nhận biết
rằng chim đã líu lo và bay mất, rằng có tiếng còi ô tô trên đường - bạn không
có ý tưởng nào về tất cả những điều này, nhưng tâm trí đang nắm bắt tất cả những
thứ này nữa. Nếu sau này người ta hỏi bạn liệu chim có bay qua không khi bạn
đang lắng nghe bài nói, bạn có thể nói bạn không nhớ điều này chút nào. Tuy
nhiên, nếu bạn bị thôi miên và thế rồi được hỏi những cái gì khác đã xảy ra, bạn
sẽ thừa nhận cả hai: chim đã bay qua và còi ô tô đã vang trên đường.
Các nhà tâm lí
gọi điều đó là kí ức tiềm thức. Ẩn đằng sau tâm trí có ý thức là tâm trí tiềm
thức ghi nhận mọi việc trong toàn bộ thời gian - ngay cả những cái bạn không nhận
biết. Trong khi bạn đang ngủ ban đêm, thì thế nữa tâm trí tiềm thức của bạn
cũng vẫn đang hấp thu; nó cứ hấp thu ngay cả điều đang xảy ra bên ngoài.
Bạn sẽ ngạc
nhiên mà biết rằng những khám phá khoa học mới nhất để lộ ra rằng trẻ con thu
thập kí ức ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Đứa trẻ cứ thu thập ấn tượng về bất
kì điều gì đang xảy ra ở bên ngoài. Yoga đã thừa nhận điều này từ thời cổ đại,
rằng bất kì cái gì xảy ra bên trong người mẹ, hay xung quanh người mẹ, đứa trẻ
đều nắm bắt nó và trưởng thành của nó bị ảnh hưởng bởi điều đó. Và khoa học của
phương Tây đang tới gần hơn để thừa nhận điều này bây giờ.
Khi hiểu biết của
chúng ta phát triển, mọi thứ đều trở thành phức tạp hơn. Bây giờ các nhà tâm lí
nói rằng đến bốn tuổi đứa trẻ đã thu thập được năm mươi phần trăm tri thức của
nó. Năm mươi phần trăm! Toàn bộ tri thức nó sẽ có khi nó chết ở độ tuổi tám
mươi, năm mươi phần trăm của lượng đó nó đã thu thập trong bốn năm đầu tiên;
năm mươi phần trăm còn lại được thu thập về sau. Theo quan điểm của tri thức, bạn
đã hoàn thành một nửa cuộc đời trong vòng bốn năm; bạn đã trở thành già một nửa!
Nhưng yoga nói rằng khi chúng ta hiểu điều trẻ con thu thập khi còn trong bụng
mẹ thì có lẽ tình huống còn kì lạ hơn: có lẽ đứa trẻ đã tự nó thu thập một số
phần trăm lớn hơn trong bản thân bụng mẹ. Nhưng bản thân đứa trẻ không có kí ức,
mọi thứ đều là tiềm thức; tiềm thức có đó trong tâm trí nó.
Các chính phủ
phương Tây rất quan tâm tới điều đó, vì thông tin bị tâm trí tiềm thức nắm bắt
và hiện tượng này có thể được khai thác, và khai thác một cách nguy hiểm. Các
quảng cáo trong phim nói về hút một điếu xì gà nào đó, hay dùng một loại xà
phòng nào đó, hay làm cái này, cái kia - tất cả những điều này vẫn cần được hiển thị trên màn hình. Trong việc
hiển thị này, vẫn có chống đối tinh tế. Bởi vì bạn biết đây là quảng cáo nên bạn
không bị ảnh hưởng nhiều như nó có khả năng gây ảnh hưởng. Một phụ nữ đẹp đang
cầm bánh xà phòng trong tay và bảo với bạn rằng bí mật của cái đẹp toả sáng nằm
trong bánh xà phòng này - bây giờ mọi người đều biết rằng chẳng có cái gì đó để
được tin. Dầu vậy, qua lặp lại nó có tác dụng, nó bắt lấy tâm trí bạn.
Nhưng bây giờ
người ta đã phát hiện ra cách quảng cáo tiềm thức. Bây giờ, “Dùng xà phòng tắm
Lux,” sẽ không thấy trên màn hình nữa. Phim bạn đã xem vẫn tiếp tục tại một điểm
nào đó trong nó, trong một chớp loé, trong một phần nghìn giây, quảng cáo cho
xà phòng tắm Lux sẽ trôi qua. Mắt bạn không thể nào bắt được nó vì nó trôi qua
quá nhanh, nhưng tâm trí của bạn sẽ bắt nó.
Điều này là
nguy hiểm. Chính phủ của nhiều nước đang nghĩ tới việc ra lệnh cấm những điều
như thế, vì nó quá nguy hiểm. Bạn thậm chí không nhận biết được về nó, bạn
không có khả năng thậm chí đọc nó, bạn thậm chí không cảm giác thấy rằng cái gì
đó khác đã xảy ra giữa các hình ảnh phim. Bạn đang bận rộn theo dõi phim, và
trong giữa hai cảnh phim là một quảng cáo đã trôi qua trong chớp nhoáng.
Sau nhiều điều tra
người ta đã thiết lập được rằng một trong một nghìn người sẽ có nghi ngại mờ nhạt
rằng điều gì đó đã xảy ra, rằng cái gì đó khác đã có đó ở giữa - nhưng người đó
cũng không rất chắc chắn lắm về nó. Chín trăm chín mươi chín người còn lại
không có ý tưởng gì về nó cả; họ sẽ hạnh phúc ở đó trong chỗ của mình và tâm
trí tiềm thức của họ sẽ nắm bắt điều đó. Điều này là nguy hiểm.
Điều này có
nghĩa là ai đó có thể đua tranh một ghế trong cuộc bầu cử và quảng cáo của người
đó có thể cứ nhoáng theo kiểu này trong phim - và bạn sẽ đi và bầu cho người đó
mà thậm chí không nhận ra tại sao bạn làm như vậy. Điều này là nguy hiểm. Điều
này có thể bị lạm dụng. Các chính phủ độc tài có thể lạm dụng nó một cách tồi tệ
bởi vì bạn có thể bị thành nạn nhân dễ dàng đến vậy.
Nhưng tâm trí
đang nắm bắt mọi vật trong toàn bộ thời gian, nắm bắt mọi thứ. Hàng nghìn gợi ý
đang bị nắm bắt từng khoảnh khắc, chúng đang tích luỹ lại. Tâm trí tựa như cuộn
phim, hay giống như băng trong máy ghi âm; nó cứ tích luỹ mọi thứ. Và trong óc
mọi người đều có quãng bẩy mươi triệu tế bào, mỗi tế bào có thể nhớ hàng triệu
hàng triệu đơn vị thông tin. Một người, nếu sống đủ lâu, có thể ghi nhớ tất cả
các cuốn sách trong mọi thư viện trên thế giới. Vấn đề là cuộc sống đủ dài
thôi; về phần tâm trí không có vấn đề gì cả. Tâm trí có cuộn phim đủ dài, chính
cuộc đời là ngắn. Nếu một người có một trăm hay hai trăm nghìn năm để sống,
trong hộp sọ tí hon này mọi thư viện của thế giới có thể được chứa vào.
Tâm trí tích luỹ.
Nó là kẻ thu thập. Không có kẻ tích trữ nào lớn hơn tâm trí. Mọi két sắt đều
quá nhỏ và mọi người giầu đều là nghèo nếu so với việc tích luỹ mà tâm trí có
thể có.
Ẩn kín đằng sau
tâm trí này là tâm thức. Tâm thức đó sạch bong không tì vết tựa như gương, nó
không nắm giữ cái gì cả. Bất kì cái gì đến trước nó, nó thấy cái đó; khi đối tượng
dời đi, nó hết luôn - gương một lần nữa lại trong sáng và trống rỗng. Dù đó là
mặt trăng được phản ảnh trong tâm thức, hay chiếc gai hay đoá hoa, dù đó là
khuôn mặt đẹp đối diện nó hay một biến cố xấu, điều đó được thấy trong tâm thức
chỉ trong những khoảnh khắc đó khi điều đó đối diện với nó. Ngay khi điều đó dời
đi nó biến mất khỏi tâm thức.
Tâm trí là cái
máy. Bạn không phải là tâm trí, bạn là tâm thức. Nhưng tất cả chúng ta đều tin
bản thân mình là tâm trí. Chúng ta không có bất kì ý tưởng nào về gương đó, cái
vốn sạch bóng không tì vết và thuần khiết.
Kinh này nói:
Ảo tưởng về mọi
thứ trong linh hồn người ta là hiện tượng bị áp đặt. Vứt bỏ nó, người ta là bản
thân.
Brahman hoàn hảo,
bất nhị và vô hành động - thực tại tuyệt đối.
Không cái gì phải
được làm, bạn đã là Brahman - đây chính là điều Vedanta tuyên bố. Bạn không phải
trở thành Brahman, bạn đã là Brahman. Bạn không phải đi đâu để đạt tới chân lí,
nó bao giờ cũng ở cùng bạn. Thế thì cái gì đã đi sai? Tâm trí ở trước tâm thức,
cho nên bất kì cái gì được tích luỹ vào tâm trí, tất cả những tích luỹ đó cứ
lung linh trong tâm thức.
Để chúng ta hiểu
điều đó theo cách này. Mặt trăng lên và được phản xạ trong hồ. Thế thì, khi
trăng lặn, việc phản xạ cũng biến mất khỏi mặt hồ - vì nó được thấy trong hồ chừng
nào nó còn trên trời. Khi nó không trên trời, nó cũng biến mất khỏi hồ. Bây giờ
nếu chúng ta treo một mặt trăng nhân tạo trên trời để cho nó không bao giờ rời
đi đâu, thế thì phản xạ của nó bao giờ cũng vẫn có đó trong hồ. Nó sẽ không bao
giờ biến mất khỏi hồ, bởi vì chừng nào mặt trăng không chuyển đi đâu, phản xạ của
nó trong hồ sẽ không dời đi.
Cố hiểu điều
này đi. Nó là tinh tế, và việc hiểu hoàn toàn về cơ chế bên trong của con người
là cần thiết.
Nếu tình huống
này tiếp tục một thời gian dài, bản thân hồ có thể bắt đầu nghi ngờ rằng hình ảnh
này là của riêng nó và không phải là phản xạ của mặt trăng, vì nó không bao giờ
biến mất. Mặt trời mọc buổi sáng mọi ngày và mặt trăng mọc trong đêm, nhưng
chúng cũng lặn và phản xạ của chúng tiêu tan trong hồ, để lại hồ trống rỗng. Vậy
có một khoảng thời gian hàng ngày, và hồ có thể đi tới nhớ rằng mặt trời đã tới
và nó đã đi rồi, mặt trăng đã tới và nó đã đi rồi, và rằng “Tôi đơn thuần là
gương, cái hồ.”
Tâm thức ở sâu
bên trong bạn; phía trước nó là tâm trí và trước tâm trí là thế giới. Trong thế
giới mọi thứ đều thay đổi, thay đổi mọi khoảnh khắc. Trong tâm trí không có gì
thay đổi; tâm trí mang tính ảnh chụp, tĩnh tại. Cho nên bất kì tấm ảnh nào từ
thế giới cũng đều in dấu vào tâm trí, nó vẫn còn mắc kẹt trong tâm trí mãi mãi.
Bức ảnh mắc kẹt đó dường như cũng bị mắc vào tâm thức - nó bao giờ cũng có đó.
Điều này tạo ra ảo tưởng rằng tâm thức và tâm trí là một và như nhau. Cả hai
chúng dường như là một, vì không có khoảng cách giữa hai điều này là thấy được.
Bất kì cái gì được thấy trong tâm trí, nó cũng được thấy trong tâm thức; dường
như không có đường biên giữa hai điều này. Do đó có ảo tưởng này: thế giới dường
như được chồng chất trong tâm thức, và dường như là thế giới đã đi vào trong
linh hồn.
Không cái gì đã
bao giờ đi vào trong tâm thức, mọi thứ đi vào trong tâm trí. Cho nên chừng nào
chúng ta còn chưa học được nghệ thuật vứt bỏ tâm trí ở giữa để cho tâm thức và
thế giới có thể tới đối diện không có tâm trí tại đó như kẻ trung gian, để cho
thế giới của tâm trí không chen vào giữa, để cho những phóng chiếu của tâm trí
không có đó - chừng nào còn chưa được như thế, chúng ta sẽ không đi tới biết rằng
mọi thứ đã bị áp đặt từ bên ngoài. “Tôi là Brahman, không phải là thế giới, và
tôi là tâm thức, không phải là thân thể. Chỉ dường như là tôi là thân thể thôi
bởi vì bức tranh đã được in vào trong tâm trí rằng tôi là thân thể.” Cùng bức
tranh này đã phản xạ trong tâm thức. Thực ra không có tham, hay giận hay dục
trong tâm thức. Tất cả những cái này ở trong tâm trí và mọi hình ảnh trong tâm
trí đang phản xạ bên trong, và chúng đã phản xạ lâu, vĩnh hằng tới mức điều tự
nhiên là rơi vào ảo tưởng rằng nó không phải là phản xạ hay hình ảnh, rằng nó
chính là bản chất của bạn.
Nhớ lấy, thân
thể bạn bị phá huỷ trong mọi kiếp sống. Nhưng tâm trí thì sao? Tâm trí không bị
phá huỷ, và tâm trí của bạn đầu thai từ kiếp nọ sang kiếp kia. Khi bạn chết
thân thể bạn bị bỏ lại sau, nhưng không bỏ tâm trí. Tâm trí bị bỏ chỉ khi bạn
được chứng ngộ.
Ngay cả chết
cũng không có khả năng phá huỷ được tâm trí; chết chỉ phá huỷ thân thể, không
tâm trí. Tâm trí cũng đi ra ngoài cái chết. Chỉ samadhi, chứng ngộ, có khả năng
phá huỷ tâm trí. Do đó những người biết đã gọi là samadhi là cái chết lớn, vì
trong cái chết chỉ thân thể chết, nhưng trong samadhi cả thân thể lẫn tâm trí đều
chết và chỉ còn cái một tồn tại - đó là cái bất tử và không thể chết được.
Vậy tâm trí cứ
hình thành, tích luỹ và tăng lên qua khoảng thời vô hạn, và vào mọi thời, dù có
thân thể hay không có thân thể, tâm trí bao giờ cũng vẫn còn gắn với linh hồn.
Cái bóng của tâm trí vẫn còn thường xuyên với linh hồn. Và dần dần, dần dần
linh hồn cũng bắt đầu cảm thấy, “Bất kì cái gì có đấy trong tâm trí đều là cái
điều ta đang là.”
Đây là thế giới
của chúng ta, đây là cái nút của chúng ta. Cách duy nhất để tháo gỡ cái nút này
là hiện hữu không có tâm trí trong một thoáng chốc; đẩy tâm trí sang bên và đi
tới đối diện với thế giới - không cần có kẻ môi giới, người trung gian ở giữa.
Nếu chúng ta có
thể có cho dù một thoáng nhìn trực tiếp vào thế giới, không có sự hiện diện của
tâm trí ở giữa, chúng ta sẽ đi tới nhớ lại rõ ràng rằng không cái gì đã đi vào
tâm thức cả, rằng gương bên trong bao giờ cũng sạch bóng và không tì vết, rằng
không hình ảnh nào đã bao giờ mắc kẹt vào nó. Mọi hình ảnh đều đến rồi đi; các
biến cố của hết kiếp nọ đến kiếp kia đã từng xảy ra, nhưng không dấu vết, không
một vết xước nào đã bao giờ được để lại trên tâm thức.
Kinh nghiệm về
bản chất không tì vết đó chính là Param Brahman, thực tại tối thượng tối cao.
Khi Brahman, thực tại tối thượng, liên kết với tâm trí nó trở thành thế giới;
khi Brahman phân tách khỏi
tâm trí nó trở thành
Param Brahman, thực tại tối thượng tối cao. Và khi linh hồn liên kết với
tâm trí thân thể trở thành điều không tránh khỏi, bởi vì việc thoả mãn các đam
mê của tâm trí không thể có được nếu không có thân thể. Tâm trí thúc ép và kích
động đam mê, nhưng chúng không thể được đáp ứng nếu không có thân thể.
Bạn có thể đã
nghe, và bây giờ điều đó đang nhanh chóng trở thành thực tại khoa học, rằng ma
nào đó đã đi vào thân thể của một người. Một số người sẽ gọi điều đó là mê tín,
một số sẽ gọi đó là bệnh hoạn, một số lại gọi đó là thế này hay thế khác, nhưng
bạn có thể chưa từng bao giờ nghĩ rằng cho dù ma có đó, tại sao chúng đi vào
trong thân thể người khác? Bạn có thể nghĩ có lẽ đó có thể là kẻ thù cũ nào đó
đã đi vào để hành hạ người đó. Bạn có thể nghĩ có lẽ đấy là vấn đề báo thù, hậu
quả của nghiệp, của hành động quá khứ, một cách giải quyết của hành vi quá khứ.
Không, không có những điều như thế đâu.
Ma là tâm thức
có thân thể đã bị vứt bỏ nhưng tâm trí chưa bị vứt bỏ. Và tâm trí đòi hỏi thân
thể, vì mọi ham muốn và đam mê của tâm trí chỉ có thể được đáp ứng chỉ qua thân
thể. Tâm trí của nó muốn sờ vào thân thể yêu mến nào đó, nhưng ma không thể sờ
được vì nó không có tay; tâm trí của nó muốn nếm món ăn ngon... Ma vẫn có tâm
trí ham muốn nếm mọi thứ, nhưng nó không có lưỡi. Cho nên vấn đề của ma là ở chỗ
nó có tâm trí, nhưng không có giác quan để qua đó đáp ứng cho các ham muốn này.
Toàn bộ phức hợp ham muốn vẫn còn nguyên, nhưng tất cả phương tiện để đáp ứng
cho ham muốn đó lại thiếu.
Toàn bộ ý nghĩa
của hồn-ma là người chưa nhận được thân thể. Có hai kiểu hồn gặp khó khăn khi
nhận thân thể.
Người bình thường
nhận thân thể mới một cách dễ dàng; một người chết đi ở đây và được thai nghén ở
kia, không có lỗ hổng. Đôi khi cũng có lỗ hổng nhiều nhất quãng một phút, hai
phút hay năm phút. Thông thường bạn chết nơi đây và được thai nghén lập tức ở
nơi kia. Nhưng các linh hồn cực đoan, linh hồn kẻ xấu nhất hay linh hồn cao quí
nhất không dễ dàng tìm thấy nơi thai nghén vì họ cần bụng mẹ thích hợp. Nếu một
Hitler chết, sẽ không dễ dàng gì cho ông ta tìm được bố mẹ, vì để cho ông ta việc
sinh cần phải có bố mẹ độc ác tương đương. Cho nên trong nhiều năm, đôi khi vài
thế kỉ, họ phải đợi. Khó khăn này tương tự cho các linh hồn cao quí.
Các linh hồn
cao quí vẩn vơ không thân thể chúng ta gọi là devas, thần; còn các linh hồn độc
ác vẩn vơ không thân thể chúng ta gọi là pretas, ma.
Bất kì khi nào
có một khoảnh khắc khi một người yếu đến mức linh hồn người đó co lại trong
thân thể, ma nào đó đi vào người đó - không phải để quấy rối người đó hay hành
hạ người đó, mà là để thoả mãn ham muốn của riêng nó qua thân thể người này.
Nếu bạn yếu và
không có ý chí nào, một số ma có thể chen lấn vào bên trong bạn, vì nó không có
thân thể và ham muốn của nó đang bùng cháy. Con ma đó sẽ sờ một người đàn bà
nào đó qua tay bạn, sẽ nếm thức ăn nào đó qua lưỡi bạn, sẽ nhìn cái đẹp qua mắt
bạn và sẽ nghe nhạc nào đó qua tai bạn. Chính vì những lí do này mà ma đi vào
thân thể của ai đó, không để quấy nhiễu người đó. Bạn bị quấy nhiễu trong quá
trình này, nhưng đấy là sản phẩm phụ, không phải là động cơ của ma. Nhưng chắc
chắn khi hai linh hồn cùng cư ngụ trong một thân thể thì rắc rối và quấy nhiễu
nhất định có đó.
Quấy nhiễu này
cũng tựa như là khách đến nhà ai đó chơi rồi ở lại luôn, thậm chí không nghĩ tới
việc ra đi. Dần dần khách bắt đầu bành trướng lãnh thổ trong nhà và người chủ của
ngôi nhà bắt đầu co lại trong một góc; rồi dần dần, dần dần đến lúc không còn
rõ rệt ai là khách ai là chủ trong nhà. Còn khách thì sao? Tính kiêu ngạo của
người đó cứ dâng lên bởi vì người chủ phục vụ người đó, vì người đó là khách và
“khách là Thượng đế.” Thế là khách rơi vào ảo tưởng rằng người đó là người chủ;
và một ngày nào đó người đó sẽ yêu cầu người chủ thực tại của ngôi nhà phải ra
đi, vì người đó đã ở trong ngôi nhà quá lâu rồi. Tình huống đau khổ có thể phát
sinh. Tâm trí lập tức yêu cầu thân thể sau cái chết, do đó có sinh thành mới. Hồn
được liên kết với tâm trí và tâm trí được liên kết với thân thể.
Có hai kiểu bộ
môn tâm linh. Một là phân tách thân thể khỏi tâm trí, điều chúng ta thường gọi
là chủ nghĩa khổ hạnh. Đây là cuộc hành trình rất dài, gian truân và kết quả bất
định. Kiểu kia là tách tâm trí khỏi tâm thức, điều chúng ta gọi là vedanta, còn
đường của tri thức. Nếu chúng ta muốn gán đúng tên chúng sẽ là: tách tâm trí khỏi
thân thể mang tên là yoga, và tách tâm trí khỏi linh hồn mang tên sankhya, tri
thức. Chỉ có hai bộ môn đó.
Sankhya nghĩa
là một mình tri thức là đủ, không cái gì khác được yêu cầu để được thực hiện;
và yoga nghĩa là, nhiều điều phải được làm, và chỉ thế thì cái gì đó sẽ là có
thể.
Kinh này nói về
sankhya, tri thức. Nó nói, ảo tưởng về mọi thứ trong linh hồn người ta là hiện
tượng bị áp đặt. Vứt bỏ nó, người ta là bản thân Brahman hoàn hảo, bất nhị và
vô hành động - thực tại tuyệt đối.
Không cái gì
khác cần được làm cả.
Thế giới, cái
dường như là một điều khác đối với linh hồn, gần như không thực.
Do đó tôi đã
nói rằng sư này đã nói với Phật rằng chiếc khăn gần như thay đổi. Kinh này nói
rằng toàn bộ thế giới của phân chia này, cái được thấy, là gần như không đúng.
Bởi vì... Phân chia ở đâu - và làm sao có thể có được - trong thực thể vô hình
dạng và vô tổ chức, thuần khiết?
Gần như không
đúng - đây là một khái niệm triết học rất có giá trị. Và cần hiểu nó một chút,
bởi vì ‘gần như không đúng’ nghĩa là gì? Cái gì đó có thể không đúng, điều này
có thể hiểu được. Nhưng gần như không đúng nghĩa là gì? Cái gì đó là đúng, điều
này có thể hiểu được, nhưng khi ai đó nói ‘gần như đúng’, điều đó sẽ nghĩa là
gì? Cái ‘gần như’ này phá rối mọi thứ. Cũng tựa như bạn nói với ai đó, “Anh gần
như yêu em.” Bây giờ điều này sẽ phá rối mọi thứ. Nếu có yêu, nói, “Đúng, có
yêu”, nếu không, nói, “Không yêu,” nhưng “gần như trong tình yêu” này là gì? Phải
gọi nó là gì: yêu, không yêu hay cái gì? Nếu bạn nói người nào đó là “gần như
thánh nhân,” điều đó nghĩa là gì?
Từ gần như này
là quí giá và có giá trị trong triết học Ấn Độ. Ấn Độ đã tạo ra một phân loại mới,
một mức tư duy mới. Trong triết học của toàn thế giới có hai loại tư tưởng:
chân lí và phi chân lí. Trong triết học Ấn Độ có ba loại tư tưởng: về chân lí,
về phi chân lí và gần như chân lí - loại thứ ba, loại ở giữa. Cái ‘gần như
đúng’ hay ‘gần như không đúng’ chúng ta đã gọi là maya, ảo vọng, hay mithya,
cái giả. Vậy chúng ta đã tạo ra ba từ: satya, chân lí, asatya, phi chân lí, và
mithya, cái giả. Bây giờ, mithya này được ngụ ý gì? Thông thường, mọi người hiểu
rằng mithya nghĩa là phi chân lí, dối trá. Không, mithya không có nghĩa là phi
chân lí; nó nghĩa là cái gì đó ở giữa chân lí và phi chân lí. Ở giữa chân lí và
phi chân lí à? Điều đó nghĩa là cái phi chân lí nhưng dường như chân lí.
Trời tối và có
sợi dây thừng nằm trên đường và với bạn nó dường như là con rắn. Trong bóng tối
bạn mất mọi dũng cảm. Bạn chạy, mồ hôi toát ra, tim đập thình thịch. Rồi ai đó
nói, “Bạn hoảng sợ và lo lắng không cần thiết. Cầm lấy cái đèn này và quay lại
tự mình xem; không có rắn, nó chỉ là sợi dây thừng nằm đó.” Thế rồi trong ánh
đèn bạn nhìn nó và thấy nó là sợi dây thừng. Bây giờ bạn sẽ gọi con rắn đó mà bạn
đã thấy là gì? Nó chắc chắn không phải là con rắn thật, nhưng bạn không thể nào
gọi nó là không thật, bởi vì nó trông dường như là thật. Bạn chạy khỏi nó theo
hệt cách bạn chạy xa khỏi con rắn thật; bạn toát mồ hôi, và việc toát mồ hôi là
thực - và điều đó được gây ra bởi con rắn không thực! Nhịp tim bạn tăng lên và
có sợ đau tim. Đau tim là rất có thể, và bạn có thể chết. Và điều này là thách
đố: làm sao cơn đau tim thực xảy ra do con rắn không thực? Nhưng cơn đau tim thực
có thể xảy ra do con rắn không thực. Triết học Ấn Độ không được chuẩn bị để gọi
con rắn đó là không thật khác.
Con rắn dứt khoát
là không thực, vì khi điều tra người ta phát hiện ra rằng đấy là sợi dây thừng
nằm đó. Nhưng nó cũng không phải là không thực, vì nó đem tới cùng kết quả như
con rắn thực đem lại. Điều này Ấn Độ gọi là ‘gần như không đúng’, hay ‘gần như
đúng’; mithya - giả, maya - ảo vọng. Đây là loại thứ ba, loại ở giữa. Khó dịch
được nó sang tiếng Anh, khó tìm được từ chỉ loại này trong các ngôn ngữ khác. Bất
kì việc dịch nào được thực hiện đều chuyển nghĩa của asatya - phi chân lí,
không phải là mithya - cái giả. Mithya là thuần tuý từ của Ấn Độ.
Lưu ý tới ý
nghĩa của mithya đi. Nó có nghĩa là cái không có nhưng dường như nó có. Cho
nên, Ấn Độ nói, cần phải tạo ra loại thứ ba cho những việc như thế.
Thế giới giả
này... Bạn phải đã nghe thấy vedanta mô tả thế giới này là giả bao nhiêu lần rồi.
Upanishad gọi nó là giả, Shankara gọi nó là giả suốt từ sáng tới tối trong mọi
phát biểu của ông. Cho nên chúng ta đi tới nghĩ rằng tất cả họ đều nói rằng thế
giới này là không thật. Không, họ không gọi nó là không thật; họ nói rằng nó giống
như thấy con rắn trong sợi dây. Thế giới này không xuất hiện như cái nó đang thế
mà xuất hiện như cái nó không thế. Đó là ảo tưởng thị giác, khiếm khuyết của
cái nhìn.
Điều đó giống
như nhìn trăng sau khi ấn tay vào mắt và do vậy thấy hai mặt trăng. Không có mặt
trăng thứ hai. Nhưng nếu bạn được hỏi trong khi mắt bạn đang trong điều kiện
đó, trăng nào là thật và trăng nào không thật, bạn sẽ không có khả năng trả lời
đúng. Cả hai dường như đúng. Nhưng cả hai đều không đúng, và nếu bạn dừng ấn tay
vào mắt, bạn sẽ thấy chỉ một mặt trăng, mặt trăng thứ hai biến mất. Mặt trăng
kia là gì? Sau rốt, nó được thấy bằng mắt. Nếu có cách nào đó giữ mắt ai đó thường
xuyên bị ấn theo kiểu này, người đó bao giờ cũng sẽ thấy hai mặt trăng.
Cái nhìn của
chúng ta bị ép dưới kinh nghiệm, hình ảnh và tích luỹ của tâm trí mọi lúc. Cho
nên chúng ta thấy cái mà tâm trí bầy tỏ cho chúng ta.
Hình dung một
chút rằng bạn là cư dân của một nước không có rắn. Bạn chưa bao giờ thấy rắn,
hay hình ảnh về rắn - bạn đơn giản không biết về từ rắn. Bây giờ liệu bạn có thể
thấy rắn trong sợi dây thừng được không? Không thể được. Làm sao bạn có thể thấy
rắn được? Nếu bạn không có kinh nghiệm về rắn, dây thừng có thể nằm đó nhưng
làm sao bạn có thể thấy được rắn trong nó?
Người ta thấy rắn
trong sợi dây thừng bởi vì tâm trí có liên kết với rắn, một hình ảnh, một ấn tượng
về rắn; tâm trí đã thấy rắn. Bạn có thể đã thấy rắn trong tranh, hay thấy thực,
hay với người dụ rắn - nhưng đã thấy nó ở đâu đó. Hình ảnh đó là trong tâm trí
bạn; nó ẩn nấp bên trong tâm trí bạn.
Sợi dây thừng nằm
trong bóng tối; bất chợt được thấy, sợi dây tạo ra nhiều ảo tưởng. Bóng tối tạo
ra sợ. Với sợ này gợi ra sợ khác có liên kết mà đã nảy sinh khi thấy rắn, rằng
nó có thể cắn bạn. Với tất cả điều này bạn bắt đầu thấy trong sợi dây thậm chí
một mẫu hình uốn éo của thân rắn. Sợ hãi, sợ rắn, cái tương tự với mẫu hình uốn
éo... con rắn bên trong tâm trí bạn được phóng chiếu lên sợi dây. Bạn chạy trốn.
Sợi dây thừng thậm chí không nhận biết về điều đã xảy ra. Điều gì đã làm cho bạn
phải chạy trốn, và tại sao?
Có lần nhiều
năm trước đây, chuyện đã xảy ra với tôi. Tôi quen dậy quãng 3 giờ sáng và đi dạo.
Đó là một đêm đáng yêu và lề đường được phủ dầy bởi các cụm trúc. Tại một điểm
có chỗ hơi quang đãng, còn các chỗ khác trúc che phủ dọc con đường. Tôi quen chạy
thẳng từ đầu nọ đến đầu kia của con đường rồi chạy giật lùi theo chiều kia.
Trong một giờ, từ 3 đến 4 giờ sáng - tôi tập thể dục như thế ở đó. Một hôm một
điều kì lạ đã xảy ra. Trong khi tôi đang chạy giật lùi và vẫn trong bóng lùm
trúc thì một người - một người đưa sữa - tiến lại gần tôi với những bình chứa rỗng,
người đó đang đi lấy sữa hàng ngày từ xưởng làm sữa. Thế rồi đột nhiên tôi nhô
ra khỏi khu vực bóng cây - đó là đêm có trăng - người đó có thể thấy tôi bất
thình lình. Khoảng khắc trước tôi là không thấy được, thế rồi bất thình lình...
mà lại chạy giật lùi nữa! Người ta biết chỉ ma mới chạy giật lùi!
Người đưa sữa
đó quẳng luôn các thùng rỗng và ù té chạy biến. Có cái gì đó kì lạ về cách người
đó chạy trốn. Tôi không có ý tưởng nào là người đó đã trở nên sợ tôi đến thế,
cho nên tôi đuổi theo người đó để giúp đỡ. Bây giờ người đó chạy bán sống bán
chết! Tôi càng đuổi theo nhanh hơn, với mối quan tâm bảo người đó dừng lại, người
đó lại càng chạy nhanh hơn. Trước đây tôi chưa hề thấy ai chạy được như thế! Thế
rồi tôi có ý niệm mơ hồ rằng có lẽ tôi là người duy nhất ở quanh đó và người đó
đã trở nên sợ tôi.
Nghe thấy tiếng
thùng chứa rơi và tiếng bước chân chạy, một người trong khách sạn gần đó thức dậy.
Tôi tới người đó và hỏi người đó xem người đó có biết điều gì đã xảy ra không.
Người đó đáp, “Nếu bác hỏi tôi, tôi biết rằng bác hàng ngày vẫn chạy giật lùi ở
đây, nhưng đôi khi tôi vẫn sợ. Người đó chắc phải là người mới trên con đường
này.”
Tôi nói, “Bác
giữ lấy bình chứa này, có thể người ấy sẽ quay lại vào buổi sáng.” Cho đến tận
bây giờ người đó cũng không quay lại! Cứ khi nào tôi đi qua khách sạn đó là tôi
lại hỏi xem liệu người đó đã quay lại chưa. Người đó không bao giờ quay lại nữa.
Bây giờ không
có cách nào nói cho người đó rằng điều người đó đã thấy là ‘gần như giả’. Không
có ma nào ở đó cả, nhưng người đó đã xoay xở thấy được nó! Với người đó ma là
thực tại hoàn toàn, bằng không thì người đó đã không biến mất trong thời gian
lâu đến thế. Người đó phải đã có một kinh nghiệm quá khứ nào đó mà người đó áp
vào cảnh này.
Cái thực có đấy
không phải là cái chúng ta đang thấy đâu; chúng ta đang thấy cái mà mắt cho hiện
lên cho chúng ta thôi. Tâm trí chúng ta đang áp đặt mọi thứ từng khoảnh khắc và
chúng ta đang thấy người biết cái gì, và điều đó chắc chắn không có đó trong thế
giới.
Toàn bộ thế giới
này là sự mở rộng của tâm trí chúng ta. Cái chúng ta thấy được chúng ta phóng
chiếu ra. Đầu tiên chúng ta phóng chiếu và thế rồi chúng ta thấy. Đầu tiên
chúng ta phóng chiếu ra con rắn trong sợi dây thừng, thế rồi chúng ta thấy rắn
và bỏ chạy. Toàn thế giới này đều giống điều đó. Bản thân chúng ta cho ai đó là
đẹp, thế rồi chúng ta trở nên mê tít về người đó và thế rồi cứ ngẩn ngơ điên
khùng về điều đó.
Người thấy của
Upanishad nói rằng toàn thế giới này được con người thấy là ‘gần như giả.’
Trong khi nói ‘gần như’ một điều rất hay đã được nói. Điều đã được nói là ở chỗ
nó không hoàn toàn sai, bằng không làm sao bao nhiêu người bị rắc rối vì nó thế?
Thực tại nào đó có đó trong nó. Nó là sợi dây thừng, chừng ấy là đúng; nó không
phải là rắn, chừng ấy là sai. Sợi dây giống như con rắn ở mức độ nào đó, điều
đó nữa cũng đúng; nhưng sợi dây là sợi dây và nó không trở thành rắn, điều đó nữa
cũng đúng. Và thế giới sợ hãi đã nảy sinh giữa hai điều này, thế giới của việc
thấy con rắn trong sợi dây - đó là sai, đó là ảo tưởng.
Chừng nào tâm
trí chưa bị vứt bỏ toàn bộ và chúng ta còn chưa có khả năng thấy thế giới một
cách trực tiếp, chúng ta sẽ không thể nào thấy được chân lí của thế giới. Khi
người ta thấy ra chân lí của thế giới, thế giới biến mất và chỉ còn thực tại
tuyệt đối còn lại. Khoảnh khắc này thực tại tuyệt đối được thấy bị phân chia.
Đâu đó thực tại tuyệt đối là tảng đá, đâu đó là cây cối, đâu đó nó là đàn ông
và đâu đó là đàn bà - thực tại tuyệt đối được thấy bị phân chia. Nếu toàn bộ
thu xếp phóng chiếu đằng sau con mắt bị vứt bỏ, thế thì toàn bộ thế giới này trở
thành tâm thức thuần khiết, một đại dương. Mọi phân chia sụp đổ.
Linh hồn-ý thức
là tự do với các ý niệm của người thấy, việc thấy và cái được thấy, vân vân. Nó
là miễn nhiễm và tràn đầy tựa đại dương vào lúc đại hồng thuỷ.
Nơi có nhân chứng
bên trong - linh hồn-tâm thức đó được tự do khỏi tâm trí và đã trở thành trống
rỗng - không có phân chia. Việc thấy, cái được thấy, mọi ý niệm này đã biến mất.
Không có người thấy, không có gì để thấy: mọi nhị nguyên đã biến mất. Chỉ còn
duy nhất một mở rộng của tâm thức ở đó. Về mở rộng đó một cách ví von hay đã được
dùng ở đây, nói rằng:
Nó là miễn nhiễm
và tràn đầy tựa đại dương vào lúc đại hồng thuỷ.
Đại dương của
chúng ta, dù có thể lớn đến đâu, vẫn bị giới hạn, và dù nó có mở rộng đến đâu
đi chăng nữa, nó vẫn có bờ. Bất kì ai hay bất kì cái gì có biên giới đều không
đầy đủ, vì nó bị chặn. Ao nhỏ có biên giới nhỏ, đại dương lớn có biên giới lớn.
Cái gì là khác biệt giữa biên giới nhỏ và biên giới lớn? Biên giới là biên giới.
Bạn đang bị cầm tù trong một nơi nhỏ hẹp hay trong một nơi rất lớn. Điều đó có
tạo nên khác biệt gì không? - nhà tù là nhà tù!
Do đó ví dụ này
không nói, “tựa đại dương,” nó nói... tựa đại dương vào lúc đại hồng thuỷ.
Đại hồng thuỷ,
Pralaya kal, là một lí thuyết huyền thoại rằng khi sự sáng tạo này, thế giới
này tan biến, nó sẽ bị bao phủ trong nước - toàn thể sự sáng tạo. Không một li
đất nào còn lại ở bất kì đâu. Cho nên hoàn cảnh của đại dương vào lúc đại hồng
thuỷ là ở chỗ sẽ không còn biên giới nữa, không còn bờ cho chúng... vì chính
nghĩa của bờ là ở chỗ vẫn còn mảnh đất nào đó còn lại để làm bờ cho đại dương,
và mảnh đất đó trở thành biên giới của nó.
Tâm thức chứng
kiến cũng tựa như đại dương vào lúc đại hồng thuỷ. Nó không có đường bờ còn lại
quanh nó; nó tuyệt đối đầy - không có biên giới ở bất kì đâu, nó là vô giới hạn.
Nhưng điều này là đúng chỉ khi phân chia đã bị vứt bỏ. Chừng nào phân chia có
đó, có giới hạn.
Ngay cả bóng tối
cũng tan biến trong ánh sáng...
Điều phi thường
đã được nói ở đây:
...nguyên nhân
của ảo tưởng tan biến trong thực tại tuyệt đối vô song vốn không có tổ chức -
cho nên phân chia trong nó là ở đâu?
Ngay cả bóng tối
cũng tan biến trong ánh sáng... Sáng suốt rất độc đáo. Có bóng tối trong nhà và
bạn thắp đèn lên - bạn đã bao giờ nghĩ bóng tối đi đâu không?
Khi bạn thắp
đèn, bóng tối đi đâu? Nó có đi ra khỏi nhà không? Vậy làm một việc này: trước hết
thắp vài ngọn đèn bên ngoài nhà rồi để vài người canh chừng. Rồi thắp đèn trong
vùng tối trong nhà. Nếu bóng tối đi ra ngoài, người ngồi ngoài sẽ thấy nó đi ra
khỏi nhà. Không, bóng tối không ra khỏi nhà. Thế thì bóng tối đi đâu?
Chính điều rất
hay mà Upanishad đang nói, rằng bóng tối hoà vào trong ánh sáng. Điều này sẽ
khó hiểu, vì chúng ta coi ánh sáng và bóng tối là kẻ thù. Làm sao chúng có thể
hoà vào nhau được? Và chúng ta tin là chúng là đối lập. Có tranh đấu và xung đột
giữa hai điều này và chúng ta muốn bỏ bóng tối và giữ ánh sáng.
Cho nên sẽ rất
khó cho chúng ta tin rằng bóng tối hoà vào trong ánh sáng. Nỗi sợ của chúng ta
sẽ là ở chỗ nếu bóng tối hoà vào ánh sáng, mọi ánh sáng sẽ thành bóng tối. Chẳng
hạn, mực đen hoà vào trong vải trắng: điều ấy thực ra nghĩa là gì? Nó sẽ không
có nghĩa là mực đen sẽ biến mất trong vải trắng, nó sẽ có nghĩa là vải trắng sẽ
biến mất trong mực đen. Làm thực nghiệm này và xem. Hoà mực đen vào vải trắng
và xem. Thế thì bạn sẽ thấy rằng chính vải trắng đã biến mất, không phải mực
đen.
Bóng tối tan biến
trong ánh sáng. Nhiều điểm khác nảy sinh từ sự kiện này. Trước hết, điều đó có
nghĩa là không có thù địch giữa bóng tối và ánh sáng. Điều này nghĩa là gì? Điều
này nghĩa là không có thù địch giữa thế giới và chứng ngộ, và rằng thế giới hoà
vào trong chứng ngộ. Điều này nghĩa là không có đối lập giữa sai và đúng, và có
nghĩa là sai hoà vào trong đúng.
Bống tối hoà
vào trong ánh sáng - dường như là bóng tối chỉ đợi ánh sáng tới để cho nó có thể
hoà vào đó. Bạn đã bao giờ thấy bóng tối ngần ngại chưa? Khi bạn thắp đèn bóng
tối có nghĩ xem nên hoà vào hay không hoà vào? - “Để tôi nghĩ một chút?” Hay,
“Mai tôi sẽ quay lại sau khi nghĩ có nên nhận tính chất sannyas hay không.”
Hay, “Bóng tối nên trộn vào hay không? Để tôi suy nghĩ và cân nhắc đã.” Không,
nó không nghĩ. Dường như là nó sẵn sàng và chờ đợi, đợi rằng, “Bạn sẽ xuất hiện
và tôi sẽ hoà vào trong bạn.” Nó không chậm trễ một li lai, thạm chí không một
khoảnh khắc. Xuất hiện của ánh sáng và hoà với bóng tối xảy ra đồng thời.
Cái gì là ngụ ý
của nó trong tâm linh?
Ngụ ý của nó là
ở chỗ ngay khi ánh sáng nảy sinh bên trong, tâm trí và những ảo tưởng của nó, mang mọi tình huống của chúng với chúng, hoà nhập toàn
bộ vào trong ánh sáng đó. Chúng không tồn tại, chúng không thể được tìm thấy ở
bất kì đâu cho dù với việc tìm kiếm lớn lao. Thậm chí điều đó trở thành khó
quan niệm làm sao hôm qua chúng đã có đấy. Khi bạn thấy sợi dây thừng trong sợi
dây thừng, bạn sẽ có khó khăn trong việc hiểu làm sao ngay khoảnh khắc đã có rắn
trong sợi dây và bây giờ nó đi đâu. Bản thân bạn bắt đầu hoài nghi về bản thân
mình: bạn có rơi vào một loại ảo tưởng nào đó để đi vào ý nghĩ rằng nó đã có đó
không?... làm sao nó có thể thế được?
Những người đã
tỉnh thức đều thấy khó khăn để thậm chí nghĩ rằng có hay có thể có thế giới.
Mới sáng nay
tôi đã nói chuyện với một sannyasin. Cô ấy tới và cô ấy hỏi khi nào cô ấy có thể
gạt bỏ tất cả những khổ và lo này: “Đôi khi dường như là nó đã xảy ra, nhưng thế
rồi tôi trở lại cùng khổ cũ.”
Tôi bảo cô ấy rằng
tôi cũng đang khó khăn. Dần dần, dần dần vấn đề càng trở nên rất khó khăn cho
tôi ngay cả để hiểu làm sao khổ trở thành có thể, làm có khả năng để khổ xuất
hiện. Không phải là tôi không bao giờ khổ. Tôi đã khổ, nhưng bây giờ tôi thấy
khó hiểu.
Dường như là ở
đâu đó xa xôi trong quá khứ người ta đã từng thấy rắn trong sợi dây thừng và
bây giờ, khi nhớ lại, người ta thấy khó hiểu nổi làm sao thậm chí có khả năng
nhìn ra rắn khi đó là sợi dây thừng. Và nếu ai đó vẫn còn thấy rắn, điều đó trở
thành tình huống rất khó khăn cho tôi. Khó khăn là ở chỗ điều đang xảy ra cho bạn
giống như một vấn đề lớn thì không còn là vấn đề chút nào với tôi cả, và có cảm
giác là bạn đang mang mọi loại điều vô nghĩa cùng bạn.
Nhưng nói như
thế cũng cảm thấy sai, vì người đó đang đau khổ, đang chạy nhanh; người đó vẫn
đang thấy rắn. Nếu bạn nói với một người đang chạy nhanh trong sợ hãi, tim đang
rung lên và thót lại, “Sao bạn chạy và nói những điều vô nghĩa này, đấy chỉ là
sợi dây thừng và không phải là rắn,” người đó sẽ trở nên rất giận.
Nhớ lấy, bạn
không có ý tưởng gì về khó khăn của một Phật, một Mahavira, một Krishna và một
Christ trong việc dạy cho bạn, bởi vì họ phải trao cho bạn cách trị liệu một chứng
bệnh mà thực sự không tồn tại chút nào. Chứng bệnh này đơn giản không có đó,
nhưng bệnh nhân đang run rẩy; bệnh nhân đang kêu rằng mình sắp chết.
Trong y học có
từ thuốc trấn an. Tên này được dùng cho một loại thuốc gần như là thuốc. Thuốc
trấn an có nghĩa là đấy không phải là thuốc chút nào; nó tác động lên một bệnh
mà thực tại không phải là bệnh. Nó ‘gần như là thuốc’ trị cho ‘gần như là bệnh’.
Nó có tác dụng - nó chỉ là viên đường.
Thuốc vi lượng
ít nhiều cũng là một thuốc trấn an, chúng không phải là thuốc hẳn như thế.
Nhưng chúng có tác dụng, vì đâu là bệnh thật? Không có vấn đề gì - thuốc không
được cần tới ngay từ đầu. Thuốc thực được cần tới chỉ nếu có bệnh thực, và chín
mươi trong số một trăm bệnh là không thực - kể cả các bệnh thông thường. Và điều
nguy hiểm là đem thuốc thực cho bệnh không thực vì thế thì thuốc sẽ đem lại hiệu
quả có hại.
Căn bệnh tâm
linh này, căn bệnh khổ và phiền não này, căn bệnh trần gian này, một trăm phần
trăm là không thật. Nhưng gọi nó là một trăm phần trăm không thật là không đúng
- nếu Phật nói điều đó hay Ahankara nói điều đó, thì đấy là phát biểu đúng về
phần họ, nhưng do từ bi đối với hàng triệu và hàng triệu người đang đau khổ bởi
căn bệnh này họ phải nói ‘gần như’. Những người này bị dụ dỗ, bị thuyết phục:
thử thuốc này đi, nhẩm câu mật chú này, tụng bản kinh này, làm thế này, làm thế
nọ. Uống thuốc liên tục, có lẽ bạn sẽ quên bệnh này. Hay uống thuốc liên tục có
lẽ bạn sẽ trở nên chán ngấy đến mức bạn ném cả chai thuốc lẫn bệnh tật đi. Hay
uống thuốc liên tục, có lẽ bạn sẽ trở nên chán ngán tới mức bạn quẳng cả thuốc
lẫn bệnh đi. Hay uống thuốc liên tục bạn sẽ nói, “Đủ lắm rồi, thế là đủ để cứ uống
mãi một loại thuốc hết kiếp nọ đến kiếp kia, tôi sẽ không uống thuốc nữa, bây
giờ tôi chấp nhận bệnh tật.” Nếu bất kì cái gì giống thế này xảy ra bạn sẽ thấy
rằng không có bệnh chút nào; kẻ thù mà bạn đã tranh đấu liên tục không có đó
chút nào cả - nó ‘gần như có’, nó chỉ dường như có đó thôi.
Do đó mọi tôn
giáo đều đã phát triển những phương sách giả, và khó tìm ra kẻ nói dối nào lớn
hơn Phật, Mahavira, Krishna và Christ! Lí do cho điều này không phải là ở chỗ họ
là kẻ nói dối - chưa bao giờ có người nào nói thật hơn những người này - nhưng
bởi vì mọi bệnh tật của bạn đều là giả cả. Và những người đã phải làm việc để xử
lí cho những người bệnh tật giả này, họ biết điều họ phải làm.
Tất cả các triết
học lớn được tạo ra bởi những người trí huệ này đều giả cả. Giả có nghĩa là ‘gần
như sai’. Chúng chỉ là những phương sách để cắt đi bệnh tật của bạn.
Chẳng hạn, bạn
đã chạy trốn khỏi sợi dây thừng và tin nó là con rắn. Bây giờ tôi có thể nói một
triệu lần rằng đấy không phải là rắn mà là sợi dây thừng, nhưng đấy chỉ là lời
nói thôi và bạn sẽ nói, “Làm sao tôi có thể tin được vào điều thầy nói? Ai biết
được, đấy có thể là kinh nghiệm của thầy, nó cũng có thể không phải! Cho dù thầy
có kinh nghiệm đó, nó có thể là một loại dây thừng khác, một loại rắn khác. Ai
mà biết được liệu đấy là rắn này hay dây này?”
Thay vì giải
thích cho bạn, tốt hơn cả là tôi buộc một chiếc bùa hộ mạng vào bạn và nói, “Đấy
là rắn, không phải là dây thừng, nhưng ở đây, đeo lấy bùa hộ mạng này vào -
không rắn nào trên toàn thế giới dám đối diện với lá bùa này.” Điều này sẽ hiệu
quả hơn. Thay vì giải thích rằng đấy là sợi dây và không phải là rắn, đeo lá
bùa hộ mạng này vào. Không có con rắn thực nào ở đó, đúng, nhưng ở đây nữa cũng
không có lá bùa thực. Nhưng lá bùa này sẽ cho bạn sức mạnh, niềm tin sẽ nảy
sinh trong bạn rằng đây là cái gì đó thực.
Và nếu phép màu
này cũng có thể được dàn cảnh, rằng dây thừng được đặt trong bóng tối của ngôi
nhà và bạn đeo bùa hộ mạng, và từ khoảng cách xa bạn thấy nó là rắn nhưng khi lại
gần hơn nó hoá ra sợi dây, thế thì mọi điều đều được giải quyết - bùa hộ mạng
có tác dụng! Thế thì bạn có thể đi bất kì đâu trên thế giới, và có thể đi tới một
trạng thái mà ngay cả rắn thật cũng dường như là sợi dây - bùa hộ mạng mà!
Tâm trí con người
tạo ra ảo tưởng. Những ảo tưởng này đều do tự ám thị. Tất cả những ảo tưởng này
đều hoà trong chân lí tối thượng. Khoảnh khắc việc chứng kiến được kinh nghiệm,
toàn thế giới, toàn thể khung cảnh phóng chiếu của chúng ta, co lại và hoà vào
trong việc chứng kiến - trong đại dương bất tận, vô biên.
Thực tại tối
cao là cái một kì dị; làm sao có thể có phân chia trong nó được? Trạng thái
sushupti - ngủ say, không mơ - là phúc lạc; ai thấy phân chia trong đó?
Hiểu điều cuối
cùng trong kinh này: trạng thái của sushupti, ngủ say, không mơ. Những người đã
tìm kiếm trong các tầng bên trong đều chấp nhận ba trạng thái tâm thức con người.
Một trạng thái chúng ta gọi là trạng thái thức, chiếm ưu thế từ lúc ta thức dậy
vào buổi sáng. Trạng thái thứ hai chúng ta gọi là trạng thái mơ, chiếm ưu thế
trong giấc ngủ khi chúng ta thấy các hình ảnh về mọi thứ. Và trạng thái thứ ba
đôi khi đến trong giấc ngủ một quãng ngắn khi không có mơ không thức mà chỉ là
giấc ngủ say - sushuptu - còn lại. Sushupti nghĩa là giấc ngủ say thậm chí
không có mơ.
Upanishad tin -
không, người ta nên nói là biết - rằng không có phân chia trong trạng thái
sushupti. Chúng không thể còn lại bởi vì chính tâm trí từ đó chúng đã nảy
sinh... Khi bạn thức, phân chia có đó. Đây là ngôi nhà của bạn, nhà của hàng
xóm không phải là của bạn; bạn nghèo, hàng xóm bạn giầu; bạn da đen, hàng xóm bạn
da trắng - cả nghìn phân chia, tất cả chúng còn lại đó. Những phân chia này do
tâm trí tạo ra. Bạn có thể quan sát một sự kiện rất thú vị - rằng phân chia còn
trong trạng thái mơ nhưng đường phân chia biến mất.
Hiểu điều này một
chút. Trong trạng thái thức, phân chia có đó và biên giới phân chia có đó. Có bạn,
có thù; bạn là bạn, thù là thù; trong trạng thái thức A là A và B là B. Tuy
nhiên, trong trạng thái mơ phân chia có đó nhưng biên giới phân chia ở giữa bị
mất. Phân chia không còn rắn chắc,
chúng trở thành lỏng. Bạn đang thấy rằng một người bạn tiến tới và bỗng nhiên
người đó biến thành kẻ thù! Và bạn thậm chí không có hoài nghi, trong giấc mơ bạn
thậm chí không hỏi làm sao điều này có thể có được! Bạn đang nói với một người,
rồi bỗng nhiên người đó biến thành con ngựa. Bạn vẫn không hoài nghi trong mơ rằng
một người có thể bỗng nhiên biến thành ngựa.
Đường biên chia
không còn. Phân chia vẫn còn - người là người, ngựa là ngựa - nhưng đường biên
giới không còn. Mọi thứ trở thành lỏng, mọi thứ đều bị trộn lẫn dường như tâm
trí bị lay động. Trong trạng thái thức mọi thứ đều tách bạch rõ ràng, logic, hợp
lí và phân biệt. Trong trạng thái mơ tâm trí trở nên không ổn định. Dường như
là phản chiếu của trăng có đó trong nước, thế rồi ai đó khuấy nước và phản chiếu
bị phân chia thành nghìn mảnh và trăng trải ra khắp mặt nước. Ánh trăng vẫn còn
nhưng không có trăng; nó bị tan vỡ thành nhiều mảnh. Theo cùng cách đó tâm trí
bị lay động trong trạng thái mơ. Vậy bị lay động và không ổn định, mọi đường
biên mất đi. Mọi thứ trộn lẫn nhau. Không cái gì rõ ràng nữa như cái gì là cái
gì, A là gì và B là gì, khi thì A biến thành B và không có logic gì theo sau.
Mơ không tin
chút nào vào logic cả, chúng diễn ra theo cách thức không thể nào hiểu nổi. Bất
kì cái gì lấn vào bất cái gì, và bạn không thể nói tại sao nó xảy ra giống thế
này. Không có qui tắc nào trong trạng thái mơ. Qui tắc của trạng thái thức
không vận hành ở đây.
Trạng thái thứ
ba là sushupti, ngủ say, không mơ. Ngay cả mơ cũng không còn ở đây. Và nhớ lấy,
nơi mơ dừng, tâm trí cũng dừng. Nơi không có ý nghĩ, không thể có tâm trí.
Trong trạng
thái thức tâm trí là rắn, trong trạng thái mơ nó thành lỏng, còn trong trạng
thái ngủ say nó biến mất tựa hơi. Đây là ba trạng thái của mọi vật chất mà khoa
học thừa nhận. Ấn Độ đã thừa nhận ba trạng thái này cho cả tâm trí.
Khoa học nói có
ba trạng thái của vật chất: rắn, lỏng và hơi. Nếu bạn làm nước đóng băng, nó trở
thành rắn; nếu bạn làm nó bốc hơi, nó thành hơi nước. Cho nên nước có ba trạng
thái: hơi nước, nước và băng. Mọi vật chất trong thế giới đều có ba trạng thái.
Nhưng Ấn Độ nói tâm trí cũng là vật chất và nó cũng có ba trạng thái. Thức là
trạng thái rắn, mơ là trạng thái lỏng và ngủ say là trạng thái hơi - tâm trí
đơn giản bay hơi, nó đơn giản không có đó. Trong giấc ngủ say không còn cảm
giác về cái gì còn lại. Không cảm giác nào còn lại, vì không còn cảm biến. Toàn
thế giới trở thành một.
Trong sushupti
bạn đạt tới cùng chỗ các hiền nhân đạt tới trong samadhi, tỉnh thức tối cao.
Khác biệt duy nhất là ở chỗ hiền nhân ý thức đầy đủ trong khi bạn vô ý thức. Trạng
thái ngủ say và samadhi là như nhau, chỉ hơi khác nhau, nhưng đấy là khác biệt
lớn. Hiền nhân đạt tới sushupti tỉnh thức đầy đủ và tràn đầy ý thức - thế thì
nó trở thành samadhi, tỉnh thức tối cao. Ngủ say cộng với nhận biết tương đương
với samadhi.
Bạn cũng đạt tới
đó hàng ngày. Bạn báo cáo điều đó khi bạn tỉnh dậy buổi sáng mà nói, “Tôi có giấc
ngủ say rất dễ chịu.” Nếu như mơ xảy ra suốt đêm, bạn sẽ không bao giờ nói rằng
bạn đã có giấc ngủ say dễ chịu. Thế thì bạn sẽ nói, “Tôi trải qua một đêm bất ổn;
toàn những mơ là mơ, tôi không ngủ được chút nào.” Khi mơ dừng, bạn có giấc ngủ
dễ chịu. Nhưng khi bạn thực tế có giấc ngủ say bạn không nhận biết rằng nó là dễ
chịu và tốt, bởi vì những điều như thế không thể được cảm thấy trong khi ngủ
trong vô thức. Chỉ sau khi tỉnh dậy buổi sáng bạn còn lại với một cảm giác dễ
chịu, khoẻ khoắn - dường như có cái bóng mờ nhạt, xa xăm nhưng là tiếng vọng dội
lại của sự hài lòng bị rớt lại sau.
Điều rất thú vị
cần lưu ý là không ai nói lại, ngay khi tỉnh dậy, rằng người đó đã có giấc ngủ
say không thoải mái. Nếu bạn đã có kinh nghiệm về nó, rằng có giấc mơ và ác mộng
và... thế thì đấy không phải là giấc ngủ say. Thế thì giấc ngủ say không bao giờ
tới với bạn cả. Trong cả lịch sử loài người không ai đã báo cáo, “Tôi có giấc
ngủ say đến thế trong đêm với biết bao ác mộng!” Không ai đã từng nói như thế cả,
điều đó đơn giản không bao giờ xảy ra. Làm sao ai có thể nói được như thế? Giấc
ngủ say là giấc ngủ dễ chịu; không bất hạnh nào có thể tồn tạo ở đó được.
Do đó chúng ta
không thể gọi cái dễ chịu đó là dễ chịu được, chúng ta gọi nó là phúc lạc, bởi
vì hài lòng có cái đối lập được gọi là buồn rầu, nhưng phúc lạc không có cái đối
lập với nó. Do đó trạng thái ngủ say là phúc lạc. Chỉ còn lại một cảm giác - cảm
giác của phúc lạc không có phân chia nào. Như trạng thái ngủ say là điều kì dị,
tương tự việc kinh nghiệm về nhân chứng là điều kì dị. Chỉ phúc lại còn lại ở
đó. Và giống như đại dương tràn đầy hoàn toàn của Pralaya kal - thời kì của đại
hồng thuỷ, tan biến của vũ trụ - là vô giới hạn, vô biên, không bến bờ, phúc lạc
cũng vậy không có bất kì phân chia nào.
Xem tiếp Chương 8 – Quay về Mục lục
Chương 7. Bạn là cái nút
4/
5
Oleh
John Nguyen
