Osho
- Ngón tay chỉ trăng
Chương
9. Cái đó - tôn giáo vũ trụ
Người mang thuộc
tính là hiện thân của ảo vọng, ảo tưởng, người là cội nguồn của vũ trụ, người
có đặc trưng toàn thức, vân vân, và là hiện thân của gián tiếp, tính nhiều và
chân lí, vân vân, đều được biết tới bởi từ tat - ‘cái đó’.
Người dường như
là hỗ trợ của cái ‘tôi’ như kinh nghiệm cũng như là một từ và người được kinh
nghiệm như tách biệt khỏi ý thức, được gọi bởi từ tvam - ‘ngươi’.
Có hai thuộc
tính: maya, ảo tưởng, cho linh hồn vũ trụ, và avidya, dốt nát, cho linh hồn được
hiện thân. Khi bỏ hai cái đó, cái được thấy chính là Param Brahman phúc lạc,
hoàn toàn đúng đắn, ý thức - thực tại tối cao tối thượng.
Thượng đế đã được
đề cập tới bởi nhiều cái tên. Con người đã lập ra đa dạng quan hệ với Thượng đế.
Đâu đó ngài là bố, đâu đó là mẹ, đâu đó là người yêu, đâu đó là người được yêu,
đâu đó là người bạn và đâu đó là cái gì đó khác. Theo cách này con người đã cố
gắng thiết lập nhiều, nhiều mối quan hệ khác nhau với chân lí tối thượng. Nhưng
Upanishad mỗi một mình trên thế giới này gọi Thượng đế chỉ là ‘cái đó’, tat, và
do vậy không thiết lập ra mối quan hệ thuộc bất kì loại nào.
Điều này cần được
hiểu cho đúng. Đây là sáng suốt rất sâu sắc. Từ tình yêu chúng ta có thể gọi
Thượng đế là ‘bố’ hay ‘mẹ’, nhưng trong khi làm như vậy ít có hiểu biết và phần
nhiều mang tính ngu xuẩn. Mối quan hệ nào chúng ta thiết lập với Thượng đế là
không quan trọng gì, đó là ngu xuẩn. Tại sao? Vì có một nhân tố không tránh khỏi
trong mối quan hệ: phải có sự hiện diện của hai người. Mối quan hệ không thể được
thiết lập mà không có hai đối tượng. Tôi có đó và bố tôi có đó - cả hai đều cần;
tôi có đó và mẹ tôi có đó - cả hai đều cần. Quan hệ như thế với Thượng đế là
không đúng mà cũng không thể có ở nơi chúng ta có thể đặt quan hệ bằng cách vẫn
còn là hai. Với Thượng đế, chỉ có thể đặt quan hệ qua việc đánh mất bản thân
chúng ta, không phải qua việc vẫn còn như các thực thể tách biệt.
Mọi quan hệ
trong thế giới này đều được duy trì chỉ bằng cách giữ các thực thể tách biệt. Mối
quan hệ với Thượng đế được thiết lập chỉ bằng cách hoà trộn với Thượng đế, bằng
cách đánh mất bản thân người ta trong Thượng đế, bằng cách là một với Thượng đế.
Đây là điều phức tạp lớn. Với mối quan hệ cần có hai, cho nên chúng ta thậm chí
có thể nói rằng không bao giờ có mối quan hệ nào được thiết lập với Thượng đế cả.
Nếu cái hai là phải có cho một quan hệ thế thì không quan hệ nào có thể thiết lập
được với Thượng đế bởi vì chính gặp gỡ với Thượng đế là có thể chỉ khi cái hai
biến mất và cái một còn lại.
Kabir đã nói,
“Tôi đã bắt đầu tìm kiếm bạn nhưng tôi không thể nào tìm thấy bạn. Tôi biến mất
trong chính việc tìm kiếm, thế thì bạn được tìm thấy. Người đã bắt đầu tìm kiếm
bạn... chừng nào người đó vẫn còn đó, không có gặp gỡ với bạn; khi trong quá
trình tìm kiếm bạn không được tìm thấy mà người tìm kiếm biến mất, thế thì gặp
gỡ đã xảy ra.”
Điều đó chỉ có
nghĩa là con người không bao giờ gặp Thượng đế, bởi vì chừng nào con người còn
đó, không có Thượng đế; và khi có Thượng đế, con người không có đó. Cái hai
chưa bao giờ gặp nhau.
Cho nên không mối
quan hệ nào của thế giới là áp dụng được cho việc gặp gỡ với Thượng đế. Chúng
ta đã phạm sai lầm bằng việc nghĩ theo cách này.
Bố có thể được
gặp mà không làm mất bản thân chúng ta; làm mất bản thân người ta không phải là
điều kiện cho gặp gỡ. Mẹ có thể được gặp mà không làm mất bản thân chúng ta;
làm mất bản thân mình không phải là điều kiện cho gặp gỡ. Nhưng làm mất bản
thân người ta là điều kiện cơ bản để gặp Thượng đế. Mối quan hệ xảy ra giữa hai
người nhưng mối quan hệ với Thượng đế chỉ xảy ra ở nơi có một, không có hai.
Cho nên mối quan hệ này là cái đối lập.
Upanishad đã
không đề cập tới Thượng đế như bố hay như mẹ - họ đã không thiết lập bất kì mối
quan hệ con người nào. Các nhà xã hội học nói rằng việc thiết lập mọi mối quan
hệ con người là đã lấy con người trung tâm, trọng tâm con người. Con người cứ
áp đặt bản thân mình lên mọi thứ. Chúng ta hiểu cách nhìn này về việc lấy con
người trung tâm, bởi vì tâm lí học và xã hội học hiện đại chịu ảnh hưởng cao độ
bởi từ này và gắn giá trị lớn cho nó.
Bất kì cái gì
con người thấy, người đó phóng chiếu bản thân mình vào trong đó. Nếu trăng bị
mây che, chúng ta nói, “Mặt trăng bị khuất sau tấm mạng.” Không có khuôn mặt
nào mà cũng không có tấm mạng nào ở đó cả. Nhưng con người, theo bản tính,
phóng chiếu kinh nghiệm của mình lên mọi thứ. Nếu có nguyệt thực chúng ta nói,
“Kẻ thù Rahu và Ketu của trăng đã nuốt trăng, chúng ở sau trăng.”
Con người chỉ
có thể nghĩ theo ngôn ngữ của con người. Chúng ta cũng cứ phóng chiếu bản thân
mình lên mọi thứ chúng ta thấy xung quanh. Chúng ta nói trái đất là mẹ, đấy là
phóng chiếu. Chúng ta nói bầu trời là cha; đấy là phóng chiếu. Nếu chúng ta
nhìn sâu hơn, chúng ta sẽ thấy rằng bất kì mối quan hệ nào con người có với vũ
trụ, con người đã áp đặt hình ảnh và cấu trúc riêng của mình lên mọi thứ.
Freud nói rằng
toàn thể vấn đề về Thượng đế thực ra là cái thay thế cho người bố.
Khi đứa trẻ được
sinh ra, nó là kẻ bất lực, yếu đuối và bấp bênh; người bố bảo vệ nó và nuôi nó
khôn lớn. Đứa trẻ nhỏ lớn lên trong bóng hình người bố, nó coi bố như siêu cường;
không cái gì lớn hơn bố nó trong thế giới này. Cho nên trẻ nhỏ thường hay được
thấy thảo luận giữa chúng xem bố ai mạnh hơn. Mọi đứa trẻ đều đòi bố nó là lớn
nhất, và mọi đưa trẻ đều cảm thấy theo cách này - rằng cái gì có thể lớn hơn và
mạnh hơn bố nó được? Mọi sức mạnh đều nằm trong tay bố nó.
Trong thời thơ ấu,
đứa trẻ lấy hỗ trợ của bố nó để trưởng thành. Niềm tin của nó, tin cậy, kính trọng,
mọi điều đều dồn vào bố nó. Nếu trong khi nắm tay nó, bố nó bước qua lửa, đứa
trẻ sẽ đi cùng và cười vang, bởi vì bất kì chỗ nào bố nó đi đều không thể có
nguy hiểm gì cho nó cả. Không có chút nào hoài nghi hay không tin nảy sinh
trong tâm trí đứa trẻ. Bố nó vẫn tuyệt đối đáng tin cậy. Nhưng khi đưa trẻ lớn
lên, tin cậy này sẽ bắt đầu rơi rụng đi. Dần dần những yếu kém của bố nó sẽ trở
thành thấy được với nó.
Khi đứa trẻ lớn
lên nó sẽ có khả năng hiểu được một chút, và chính cái yếu kém đầu tiên nó sẽ
đi tới thấy là ở chỗ trong chín mươi của một trăm trường hợp, mẹ mạnh hơn bố, từ
chín mươi đến chín mươi chín trường hợp trong một trăm trường hợp. Tất cả những
phô trương và đạo mạo của bố nó, tất cả oai vệ của ông ấy đều chỉ ở bên ngoài
ngôi nhà nó - ông ta vào nhà với một chút ít sợ hãi, chút ít nhu mì. Đây sẽ là
rạn nứt đầu tiên trong tin cậy của đứa trẻ. Khi nó lớn lên và bắt đầu hiểu mọi
điều, nó thấy rằng bố nó cũng có một bà chủ và rằng bố nó cũng run rẩy trước mẹ
nó.
Tin cậy này, mà
đã được áp đặt lên người bố từ thủa thiếu thời bây giờ dịch xa khỏi người bố, để
lại lỗ hổng. Chính cũng cùng tin cậy đó, theo Freud, người ta áp đặt lên Thượng
đế - người bố tưởng tượng - để cho tâm trí không có lỗ hổng. Cho nên con người
gọi Thượng đế là cha, cha tối cao, người quyền năng nhất trong mọi người.
Nhớ lấy, bất kì
phẩm chất nào mà đứa trẻ mô tả cho bố nó cũng đều đích xác cùng những phẩm chất
mà những người tôn giáo mô tả cho Thượng đế. Và hệt như tụi trẻ đánh lộn lẫn
nhau để giải quyết việc bố ai vĩ đại hơn, người Hindu, Mô ha mét giáo và Ki tô
giáo đánh nhau để chứng tỏ thượng đế của họ là vĩ đại hơn. Bây giờ, làm sao thượng
đế có thể là vĩ đại hơn? Đây toàn là ý tưởng trẻ con. Nhưng chính trò bịp về
cương vị người bố cho tới khái niệm về Thượng đế là ấu trĩ; nó được sinh ra từ
tâm trí trẻ con.
Cho nên Freud
đã đi khá xa khi nói rằng chừng nào trẻ con còn được nuôi dưỡng cùng bố nó rất
khó cho họ gột bỏ Thượng đế. Thượng đế không là gì ngoài hình dạng khác của người
bố. Dường như có chân lí nào đó trong đó, bởi vì trong các xã hội mẫu hệ, nơi
người mẹ là tối cao và người bố là thứ yếu, Thượng đế không được đề cập tới như
người bố mà như người mẹ. Điều đó để lộ chân lí của vấn đề. Chẳng hạn, những
người tôn thờ nữ thần mẹ Kali chấp nhận Thượng đế dưới dạng người mẹ, không phải
dưới dạng người bố. Những người tôn thờ Kali này đều từ xã hội mẫu hệ nơi người
mẹ là chủ yếu còn người bố là thứ yếu. Những xã hội như thế giờ vẫn còn tồn tại
trên trái đất, và trong những xã hội này khái niệm về Thượng đế là khái niệm về
người mẹ, không phải người bố.
Điều này hỗ trợ
cho ý tưởng của Freud thêm một chút rằng các khái niệm đã được hình thành từ thời
thơ ấu - và những khoảnh khắc niên thiếu là có giá trị, bởi vì với bất kì mẫu
hình nào được hình thành trong tâm trí trong thời kì đó, nếu có mất mát về
chúng bất kì lúc nào, người ta đều cảm thấy bất ổn. Người ta thấy cần phải bù đắp
lại mất mát đó. Và con người tiếp tục cố gắng cả đời để hoàn chỉnh các mẫu hình
đã được tạo ra trong thời thơ ấu của mình.
Từ điều này bạn
nên lưu ý đến một điều thú vị nữa. Trong các xã hội mà hệ thống gia đình đã bị
bật rễ - chẳng hạn, như đã xảy ra ở Mĩ, nơi rễ của hệ thống gia đình đã bị nhổ
ra, nơi việc chăm sóc trẻ con không phải của cả bố lẫn mẹ nữa, cả bố lẫn mẹ đều
không chăm sóc nhiều lắm tới trẻ con; nơi mối quan hệ giữa các thành viên gia
đình đã trở nên yếu - trong những xã hội đó khái niệm về Thượng đế cũng trở nên
yếu.
Nơi mà hệ thống
gia đình lung lay Thượng đế cũng lung lay; tại đó vô thần bành trướng. Trong những
xã hội mà quyền lực của người bố là rất mạnh và nơi mệnh lệnh của người bố là tối
cao và kỉ luật được đảm bảo, vô thần không sinh ra được. Và kết luận mà Freud
suy dẫn ra từ tất cả những điều này đều đúng, nhưng chỉ một nửa. Có chân lí
trong kết luận của ông ấy rằng việc thấy người bố trong Thượng đế là cố gắng của
con người để lấp chỗ trống tâm lí. Nhưng khi Freud nói rằng Thượng đế không là
gì hơn điều này, đây là chỗ ông ấy bị sai lầm.
Con người có thể
gọi đất là mẹ - đây là điều gì đó vừa ý con người, nhưng bởi vì điều này đất
không dừng là điều nó đang là. Con người có thể gọi Thượng đế là bố, mẹ hay bất
kì cái gì khác. Điều này có thể là việc mở rộng của gia đình người đó, thời thơ
ấu của người đó hay tâm trí của người đó, nhưng Thượng đế, mà việc mở rộng này
được thực hiện cho ngài, không trở thành điều lừa dối bởi vì điều đó. Cái tên
nào chúng ta đặt cho nó phụ thuộc vào chúng ta, nhưng sự tồn tại của nó không
phụ thuộc vào chúng ta.
Giá mà Freud biết
được về Upanishad ông ấy chắc sẽ trong khó khăn, vì Upanishad không tạo ra bất
kì mối quan hệ nào với Thượng đế. Nếu như Freud đã đọc Upanishad, câu chuyện của
tâm lí học hiện đại chắc đã khác. Nhưng Freud là người chân thật. Giá như ông ấy
chỉ hơi có ý niệm rằng có một truyền thống tư tưởng, triết học, kinh nghiệm mà
không thiết lập bất kì loại quan hệ nào với Thượng đế và truyền thống đó dùng một
từ vô nhân tính nhất tat, ‘cái đó’ - nơi Thượng đế là ‘cái đó’, và không thể có
được bất kì cách đề cập vô nhân tính nào khác - thì Freud chắc chắn phải sửng sốt
lắm. ‘Cái đó’ nghĩa là không có tên nào được đặt ra, chỉ là hướng dẫn. ‘Cái đó’
không phải là tên, nó chỉ là chỉ dẫn, ngón tay trỏ tới.
Chắc chắn cái
tat này không thể sinh ra được từ bất kì khan hiếm nào của tuổi thơ. Người ta
có thể nghĩ tới mẹ, người ta có thể nghĩ tới bố - nhưng ‘cái đó’ sao? Nó không
liên quan gì tới tâm lí của tuổi thơ cả. Thực ra nó chẳng liên quan gì với tâm
lí như vậy. Nó phải liên quan tới kinh nghiệm của những người đã vượt ra ngoài
tâm trí, người đã vượt ra ngoài con người.
Những từ này
manushya và mun, con người và tâm trí, cũng nên được hiểu. Ở nước này chúng ta
gọi con người là manushya. Con người được gọi như vậy bởi vì người đó bị bao
quanh bởi mun, tâm trí, bởi vì người đó đang sống trong tâm trí, bởi vì người
đó hoàn toàn hướng tâm trí và nhận được nuôi dưỡng từ tâm trí. Từ tiếng Anh,
man, cũng được dẫn ra từ từ tiếng Phạn mun, nghĩa là tâm trí.
Mun, tâm trí,
là con người. Nơi tâm trí được siêu việt lên, nhân tính cũng được siêu việt
lên. Đây là những phát biểu của những người đã vượt lên trên con người, người
đã vượt lên trên mun, tâm trí, và gợi ý về ‘cái đó’. Nhưng có vài điều trong đó
đáng xem xét. Người bố có thể được tôn thờ, nhưng làm sao bạn tôn thờ ‘cái đó’?
Đền cho ‘người bố’ có thể được dựng, đền cho ‘người mẹ’ có thể được dựng, nhưng
làm sao bạn xây dựng ngôi đền cho ‘cái đó’? Làm sao bạn có thể làm được ngôi đền
về ‘cái đó’? hay bạn có thể làm được? Người ta có thể làm thần tượng về đàn
ông, đàn bà, mẹ, bố, nhưng làm sao thần tượng về ‘cái đó’ được làm? Không có
kinh sách nào phá chấp hơn Upanishad, mặc dầu không một lời đã được nói ra
trong chúng chống lại việc tôn thờ thần. Điều này nữa cũng đáng để hiểu.
Người Mô ha mét
giáo đã từng bận rộn đập phá thần tượng chỉ bởi vì Mohammed đã nói, “Không thể
có thần tượng về ‘cái đó’.” Phát biểu của Mohammed tương tự như phát biểu của
Upanishad, rằng không thể có thần tượng về ‘cái đó’. Người Mô ha mét giáo dường
như tin rằng thần tượng về ‘cái đó’ không thể được làm ra nhưng tin rằng có thần
tượng về ‘cái đó’ có thể bị phá huỷ! Làm sao cái có thể bị phá không thể được
làm ra ngay chỗ đầu tiên? Cho nên một nhóm người điên đang bận rộn làm ra thần
tượng và một nhóm người điên khác bận rộn đi đập phá thần tượng.
Điều rất thú vị
là thấy rằng những người bài trừ cũng không là gì ngoài những người tôn thờ thần
tượng. Người đi phá thần tượng cũng là người tin vào thần tượng - ít nhất người
đó tin chúng đáng giá để nhận rắc rối về việc đập phá. Người tin vào thần tượng
ít nhất cũng nhiều như vậy. Khác biệt là gì? Người này đi cúng dường hoa lên đầu
thần tượng, người kia đi đập đầu thần tượng bằng búa.
Chính với búa và
chàng mà thần tượng được làm ra và cũng với búa và chàng mà thần tượng bị đập
phá. Không có gì khác nhau mấy giữa niềm tin của cả hai - cả hai đều tin rằng
có quan trọng nào đó trong thần tượng. Người tôn thờ thần tượng tin nó là quan
trọng, người bài trừ tin nó là quan trọng. Đôi khi người bài trừ còn gắn tầm
quan trọng hơn, bởi vì trong khi người tôn thờ thần tượng chưa bao giờ liều mạng
mình trong việc làm ra thần tượng, người bài trừ liều cả đời mình để phá nó.
Người bài trừ đặt cược tính mạng mình vào nguy hiểm của việc phá huỷ thần tượng
khi Koran nói, “Không thể có thần tượng về ‘cái đó’.” Thế thì bạn đang phá thần
tượng của ai?
Upanishad không
tôn thờ thần tượng không bài trừ thần tượng. Cái nhìn của Upanishad đã vượt xa
ra ngoài hình tướng, diện mạo và thần tượng. Đây là lí do tại sao họ nói, tat,
‘cái đó’. Thần tượng nào có thể được làm về ‘cái đó’? Không, không thần tượng
nào có thể được làm về ‘cái đó’. ‘Cái đó’ không là hình dạng. Liệu có hình hay
dạng nào của ‘cái đó’ không? ‘Cái đó’ không là hình dạng, ‘cái đó’ là vô hình.
Ngay cả từ ‘cái đó’ cũng vô hình. Nếu bất kì ai muốn cho ‘cái đó’ hình dạng, điều
đó không thể được thực hiện. Tat, ‘cái đó’ là gì vậy? Nó chỉ là chỉ dẫn, dường
như ai đó trỏ ngón tay và nói ‘cái đó’!
Wittgenstein là
một nhà tư tưởng hiện đại đáng kinh ngạc. Ông ấy là một trong những người đã
cho sinh thành nên logic vĩ đại nhất của thế kỉ này. Wittgenstein, trong cuốn
sách quan trọng của mình Tractatus Logicus, là một trong ba hay bốn cuốn sách
quan trọng nhất được viết ra trong thế kỉ này, viết rằng có những điều không thể
nói ra được nhưng vẫn có thể chỉ ra được. Không cái gì có thể được nói về chúng
nhưng chúng có thể được chỉ ra.
Upanishad chỉ
hướng về Thượng đế, chúng không nói gì cả. ‘Cái đó’ chỉ là một chỉ dẫn. Có nhiều
điều được ngụ ý trong chỉ dẫn này, lưu ý đến sự kiện này. Một chỉ dẫn là ở chỗ
không có mối quan hệ nào được thiết lập với ‘cái đó’. Đây là lí do tại sao
Upanishad không gọi nó là ‘ngươi’, bởi vì với ngươi có thể thiết lập mối quan hệ
với cái ‘tôi’.
Bất kì nơi nào
có ngươi cũng sẽ có ‘tôi’. Ngươi không thể tồn tại không có ‘tôi’. Ngay khi tôi
gọi ai đó là ngươi, cái ‘tôi’ đã bước vào, cái ‘tôi’ đã tạo nên sự hiện diện của
nó ở đấy. Chính trong tham chiếu đến cái ‘tôi’ mà ai đó là ngươi, và chính
trong việc tham chiếu đến ngươi mà tôi là ‘tôi’. Tôi và ngươi tồn tại đồng thời.
‘Cái đó’ là một mình. Không cần phải có cái khác tồn tại cùng với ‘cái đó’.
‘Cái đó’ không tạo ra bất kì chỉ dẫn gì về sự hiện diện của ai đó khác.
Bất kì khi nào
chúng ta nói ngươi, thế thì bất kì ai đã được nói tới sẽ đến với cùng mức độ
như chúng ta đang vậy. ‘Tôi’ và ngươi đứng cạnh nhau. Khi chúng ta nói ‘cái
đó’, không mối quan hệ nào được tạo nên ở mức độ chúng ta. ‘Cái đó’ ở đâu? Liệu
nó ở trên, dưới hay ở trong chúng ta, không có gì thuộc loại đó được lộ ra cả.
Với sáng suốt sâu lắng Upanishad đã gọi Thượng đế là ‘cái đó’.
Bây giờ chúng
ta hiểu kinh này.
Người mang thuộc
tính là hiện thân của ảo vọng, ảo tưởng, người là cội nguồn của vũ trụ, người
có đặc trưng toàn thức, vân vân, và là hiện thân của gián tiếp, tính nhiều và
chân lí, vân vân, đều được biết tới bởi từ tat - ‘cái đó’.
Người dường như
là hỗ trợ cho cái ‘tôi’ như một kinh nghiệm cũng như là một từ và người được
kinh nghiệm như tách biệt khỏi ý thức, được gọi bởi từ tvam - ‘ngươi’.
Tvam, ngươi, bạn...
Ngay khi chúng ta gọi bất kì ai là ngươi, tvam hay bạn, chúng ta đã chấp nhận
biên giới. Người khác này chúng ta thấy như một thực thể tách biệt. Thực thể
này có hình dạng, thân thể; bạn không thể gọi một thực thể vô thân thể là
ngươi. Bạn không thể nhìn lên bầu trời và gọi nó là ngươi, điều đó không ngụ ý
gì cả. Làm sao bạn có thể gọi bầu trời là ngươi được? Không quan hệ nào đi tới
hiện hữu. Có sự mở rộng như thế, không giới hạn; dường như không có quan hệ gì
với ngươi nảy sinh. Mối quan hệ với ngươi nảy sinh chỉ ở nơi có hình dạng nào
đó. Nhưng Thượng đế thậm chí còn mở rộng hơn bầu trời; bản thân bầu trời chỉ là
một biến cố trong Thượng đế. Với một Thượng đế như thế thì mối quan hệ của
ngươi là không khả thi, bởi vì trong khi đứng trước Thượng đế không có việc nhớ
tới cái ‘tôi’, rằng tôi đây. Một người vẫn cảm thấy rằng ‘tôi tồn tại’ sẽ không
có khả năng thấy Thượng đế. Chính cái ‘tôi’ là trở ngại, là tấm mạng.
Chừng nào mà
còn cái ‘tôi’, tôi sẽ thấy ở mọi nơi chỉ ngươi. Bất kì quan hệ nào với cái vô
hình dạng đều không thể có; quan hệ chỉ có thể với cái có hình dạng.
Nhớ lấy, để điều
này là nguyên tắc nền tảng. Tôi là gì, tôi thế nào, tôi ở đâu - mối quan hệ của
tôi chỉ có thể có trong những hoàn cảnh này. Nếu tôi tin rằng tôi là thân thể,
bất kì quan hệ nào cũng sẽ xảy ra chỉ với những người cũng tin họ là thân thể.
Nếu tôi tin rằng tôi là tâm trí, mối quan hệ của tôi sẽ xảy ra chỉ với những
người cũng tin rằng họ là tâm trí. Nếu tôi tin rằng tôi là tâm thức, mối quan hệ
của tôi sẽ chỉ có thể có với những người cũng tin họ là tâm thức. Nếu tôi muốn
thiết lập mối quan hệ với Thượng đế, tôi cũng phải trở thành vô hình dạng và trống
rỗng như Thượng đế, nơi thậm chí không có cả dấu vết của cái ‘tôi’, bởi vì cái
‘tôi’ qui về hình dạng. Chỉ khi tất cả đều trống rỗng trong tôi, tôi sẽ có khả
năng kết nối với cái trống rỗng. Chỉ khi tôi trở thành vô hình dạng bên trong
tôi sẽ có khả năng kết nối với cái vô hình dạng bên ngoài.
Không có cách
nào khác ngoài việc phải trở thành giống như người mà chúng ta muốn kết nối với.
Không có cách nào khác ngoài việc phải trở thành giống như người chúng ta đang
tìm kiếm.
Có hai từ, ‘cái
đó’ và ngươi. Linh hồn hiện thân chúng ta gọi là ngươi - tâm thức bị giam hãm
trong thân thể, cái bị giới hạn bởi thân thể. Và tâm thức đó, cái tràn ngập tất
cả - bên ngoài tất cả các giới hạn là vô giới hạn - chúng ta gọi là ‘cái đó’. Với
giọt sương chúng ta nói ‘bạn’ và với đại dương chúng ta nói nói ‘cái đó’. Với
nguyên tử, với nguyên tử tí xíu chúng ta nói ‘bạn’ và với cái toàn thể chúng ta
nói ‘cái đó’.
Tại sao có nhiều
sự nhất quyết đến thế của Upanishad về tat, ‘cái đó’? Upanishad không có mong đợi
về bạn sẽ bắt đầu tôn thờ và cầu nguyện Thượng đế. Họ cũng không mong đợi bạn
là người sùng kính Thượng đế. Upanishad trông đợi chính bản thân bạn trở thành
Thượng đế. Để khác biệt này được hiểu đúng.
Tham vọng của
Upanishad là tối thượng, tuyệt đối; không tham vọng nào cao hơn tham vọng này
đã từng được sinh ra trên thế giới. Upanishad không được thoả mãn chỉ bởi tôn
thờ, cầu nguyện hay sùng kính của bạn với Thượng đế. Họ nói rằng chừng nào bạn
còn chưa trở thành Thượng đế, chân lí tối thượng còn không được cảm nhận. Họ
nói rằng chừng nào bạn chưa trở thành Thượng đế định mệnh của bạn không được
hoàn thành.
‘Cái đó’ nghĩa
là chúng ta không định thiết lập mối quan hệ về tôn thờ hay sùng kính với Thượng
đế - không mối quan hệ nào có thể được thiết lập với ‘cái đó’ theo bất kì cách
nào - chúng ta định bỏ mọi quan hệ. Đến cuối chúng ta cũng sẽ vứt bỏ chính
mình, để cho không còn lại ai mà quan hệ và do đó không quan hệ nào có thể có.
Chung cuộc chúng ta sẽ trở thành duy nhất cái mà ta đã từng đề cập tới là ‘cái
đó’.
Vấn đề quả trở
thành khó hiểu, bởi vì thông thường khái niệm của chúng ta về tôn giáo là tôn
thờ và cầu khẩn, kính trọng và sùng kính. Khái niệm của Upanishad về tôn giáo
không phải là tôn thờ, sùng kính và cầu khẩn mà về việc đẻ mở và hiển lộ của
‘cái đó’, cái được ẩn kín bên trong mọi cá nhân.
Upanishad là
khoa học về tôn giáo. Hệt như khoa học tìm kiếm chân lí ẩn bên trong vật chất,
hệt như khoa học phá vỡ vật chất, chẻ nhỏ nó thành nguyên tử và cố gắng phát hiện
ra năng lượng ẩn bên trong nó và những luật cai quản nó, theo cùng cách đó
Upanishad đi vào trong mọi nguyên tử của tâm thức và khám phá cái gì là luật cuả
tâm thức, cách tâm thức chuyển động trong thế giới và cách nó tĩnh tại, cách
tâm thức bị che giấu và cách nó biểu hiện.
Upanishad này
đang dùng ngôn ngữ của khoa học. Nếu nhà khoa học khám phá ra năng lượng nguyên
tử, ông ta không nói rằng năng lượng nguyên tử này là bố hay mẹ ông ta, ông ta
không thiết lập mối quan hệ với nó. Đó là một luật ông ta đã phát hiện ra,
không có vấn đề thiết lập mối quan hệ với nó. Ông ta không phát triển ngôn ngữ
của gắn bó xung quanh nó. Và nếu khoa học mà phát triển ngôn ngữ của gắn bó, nó
sẽ dừng là khoa học. Gắn bó, quan hệ là phi khoa học và chúng sẽ xuyên tạc chân
lí. Cho nên nhà khoa học sẽ phải nhìn vào chân lí trong khi vẫn duy trì khoảng
cách và trung lập của mình; đấy không phải là vấn đề tạo ra mối quan hệ cá nhân
gần gũi.
Upanishad cũng
nói theo ngôn ngữ khoa học: họ nói ‘cái đó’. Họ không thiết lập quan hệ, họ giữ
cho bản thân họ tách biệt và riêng ra. Khi Upanishad nói ‘cái đó’ chúng ta thậm
chí không để ý ai đang nói. Khi ai đó nói, “Thượng đế là người cha tối cao,”
chúng ta biết ai đang nói điều đó - người nào đó có ham muốn về người bố vẫn
còn chưa được thoả mãn, người nào đó có thời trẻ thơ còn chưa đầy đủ, người nào
đó còn chưa nhận được tình yêu của bố hay mẹ, hay người nào đó đã nhận được nhiều
tình yêu đến mức gây ra không tiêu hoá nổi. Nhưng chắc chắn người đang nói điều
này là người đã chịu đựng một loại bất thường nào đó trong mối quan hệ với bố
người đó. Nhưng khi người ta nói ‘cái đó’, không có gì được lưu ý về người nói,
không có gì được lộ ra về người nói.
Chỉ dẫn là vô
nhân tính nhất và do đó rất có giá trị. Và khoảnh khắc chúng ta gọi nó là ‘cái
đó’, mọi tranh cãi chấm dứt.
Đây là điều rất
thú vị: nếu chúng ta gọi Thượng đế là ‘cái Trung quốc - làm sao điều đó có thể
được?”
Nó là khái niệm
của chúng ta mà chúng ta sẽ phóng đó’, làm sao người Hindu và người Mô ha mét
giáo đánh nhau được? Khác biệt gì có thể có giữa ‘cái đó’ của người Ki tô giáo
và người Hindu? Nếu người Ki tô giáo, người Mô ha mét giáo và Hindu đều gọi Thượng
đế là ‘cái đó’ không thể nào có đánh nhau giữa ba loại người này. Từ nào được
dùng cho ‘cái đó’ không thành vấn đề - tat hay cái đó, không tạo ra khác biệt
gì - vẫn không thể có đánh nhau được. Nhưng khi người Mô ha mét giáo gọi nó là
điều này, người Hindu gọi nó là cái gì đó khác, người Ki tô giáo gọi nó là cái
gì đó khác, hay khi họ gọi nó là cha, khái niệm lập tức thay đổi và thích ứng
cho từng người.
Đấy là vấn đề
đáng suy nghĩ tiếp. Freud đã nói rằng khi một người gọi Thượng đế là cha, nếu
người đó tìm kiếm bên trong mình người đó sẽ thấy hình ảnh của người bố mình
trong khái niệm của người đó về Thượng đế. Người đó nhất định tìm thấy nó. Khi
bạn gọi Thượng đế là mẹ, mẹ bạn sẽ xuất hiện. Khái niệm mẹ của bạn là gì? Với một
chút ít làm mịn, thuần khiết, lau sạch, sơn vẽ cho nó, bạn có thể biến khái niệm
của mình về người mẹ thành Thượng đế.
Diderot, nhà
triết học người Pháp, đã bịa ra câu chuyện đùa tinh tế. Ông ta nói rằng nếu như
ngựa mà quan niệm về Thượng đế của chúng thì ngài phải trông như ngựa! Không
con ngựa nào có thể quan niệm Thượng đế của chúng lại có khuôn mặt người - điều
này là chắc chắn, điều này chúng ta biết. Khi người da đen vẽ tranh Thượng đế,
ngài sẽ có tóc rậm ngắn - nó phải như thế chứ! Môi ngài sẽ giống như môi người
da đen, còn làn da sẽ sẫm mầu, đen. Khi người Trung quốc vẽ khuôn mặt của Thượng
đế thì nó sẽ có xương gò má cao, vì “Thượng
đế của chúng
ta mà không
giống người chiếu ra. Người Anh
có thể quan niệm về thượng đế da đen không? Không có khả năng nào như thế cả. Bạn
có thấy tưởng tượng của người Hindu trong các thượng đế của họ không? Rama,
Krishna... tất cả đều ngăm ngăm đen. Với tâm trí Hindu mầu ngăm ngăm đen là biểu
tượng của cái đẹp lớn - tất nhiên nó sẽ là như vậy! Bạn có thấy bức tranh của họ
không? Khái niệm về cái đẹp mà tâm trí người Hindu có nhất định được phóng chiếu
lên Ram và Krishna. Nó phải là như vậy.
Bạn có thể đã
quan sát rằng tai của Rama, Krishna, Christ và Mohammed đều không lớn lắm,
chúng nhỏ cả. Nhưng nếu bạn đã thấy các bức tượng của Phật và Mahavira, bạn sẽ
thấy rằng tai dài thế, chấm vai. Phật tử và người Jaina tin rằng các
tirthankara đều có tai dài chấm vai. Toàn bộ lí do cho điều này dường như là có
lẽ tai của tirthankara đầu tiên của người Jaina có thể rất dài, chấm vai - và
điều đó đã trở thành một khái niệm liên tục.
Không có lí do
nào để tin rằng tất cả hai mươi bốn tirthankara đều có tai dài chấm vai. Nhưng
một khi một khái niệm đã bắt rễ, các bức tượng đều được làm tương ứng theo khái
niệm đó và không tương ứng với từng cá nhân được tạc tượng. Nếu bạn thấy những
bức tượng của cả hai mươi bốn tirthankara bạn sẽ không có khả năng nói được cái
nào là của Mahavira, cái nào là của Parshvanatha và cái nào là của Neminatha. Tất
cả hai mươi bốn tượng đều trông giống nhau. Chúng chỉ có thể được nhận diện bằng
cách xem biểu tượng đặc biệt được khắc ở chân đế của từng tượng.
Một khái niệm
được nhất trí và rồi chúng ta di chuyển và sống theo khái niệm đó. Tất cả các
thượng đế đều được tạo ra từ khái niệm của chúng ta, nhưng có thể không có khái
niệm nào được tạo ra về ‘cái đó’. Cho nên cái ngày có một tôn giáo phổ dụng
trên thế giới, ngày đó lần đầu tiên Upanishad sẽ được hiểu đúng. Ngày đó chúng
ta sẽ hiểu rằng Upanishad, lần đầu tiên, đã dùng ngôn ngữ khoa học và đã gạt
sang bên cái lưới của ngôn ngữ coi con người là trung tâm của con người.
Có hai thuộc
tính: maya, ảo tưởng, cho linh hồn vũ trụ, và avidya, dốt nát, cho linh hồn hiện
thân. Khi bỏ hai cái đó, cái được thấy chính là Param Brahman phúc lạc, hoàn
toàn đúng đắn, ý thức - thực tại tối cao tối thượng.
Kinh này là hơi
khó. “Thượng đế có thuộc tính ảo tưởng và linh hồn hiện thân có thuộc tính dốt
nát.” Gọi nó là thuộc tính hay gọi nó là bệnh tật.
“Thượng đế có
thuộc tính ảo tưởng.” Chúng ta cần xuyên thấu vào hiểu biết này. Điều này khá
phức tạp và tinh tế; chúng ta cố gắng hiểu nó. Có nhiều, nhiều cách lĩnh hội
trong tâm trí con người. Chúng ta hãy hiểu một số cách lĩnh hội, và thế rồi
chúng ta có thể đi vào kinh được.
Một khó khăn
bao giờ cũng có đó cho bất kì ai hay suy nghĩ là ở chỗ nếu một người chấp nhận
Thượng đế, sẽ trở nên rất khó chấp nhận thế giới này; nếu chúng ta chấp nhận
Thượng đế, sẽ trở nên rất khó giải thích được thế giới này. Chẳng hạn, nếu Thượng
đế đã tạo ra thế giới này tại sao nó đầy những bệnh, khổ, đau và tội thế? Nếu
Thượng đế đã tạo ra thế giới này, cần gì đẩy con người vào dốt nát đến thế? Con
người không thể chịu trách nhiệm cho tất cả những điều này, chỉ Thượng đế phải
chịu trách nhiệm.
Vài ngày trước
đây một linh mục Ki tô giáo đến gặp tôi.
Tôi hỏi ông ta
rằng ông ta đang tham gia vào việc gì. Ông ta trả lời, “Chúng tôi đang bận chiến
đấu với tội lỗi.” Tôi nói, “Tội lỗi à! Tội lỗi đến từ đâu vậy?” Ông ta nói, “Nó
do Quỉ tạo ra.”
Đến đấy ông ta
vẫn còn cảm thấy dễ chịu. Thông thường không ai hỏi sâu thêm vào những vấn đề
như vậy, bởi vì nếu làm như thế thì tình trạng lúng túng sẽ nảy sinh. Tôi hỏi
ông ta, “Ai tạo ra Quỉ?” Thế là ông ta cảm thấy hơi khó chịu, bởi vì bây giờ sự
việc thành có vấn đề. Ông ta sợ rằng nếu ông ta nói rằng Thượng đế tạo ra Quỉ
thế thì điều đó trở nên khó khăn, vì nếu Thượng đế đã tạo ra Quỉ, và Quỉ tạo ra
tội lỗi, tất cả đống lộn xộn luẩn quẩn này là gì? Không lẽ Thượng đế không có đủ
thông minh để đừng tạo ra Quỉ à? Và cho dù Thượng đế có lẫm lỡ tạo ra Quỉ, đâu
là khó khăn nếu bạn và tôi lỡ phạm phải tội lỗi? Và nếu tội lỗi được Quỉ tạo
ra, và Quỉ được Thượng đế tạo ra, còn chúng ta phạm tội, ai chịu trách nhiệm?
Chúng ta chỉ là
nạn nhân, bị trừng phạt không cần thiết. Chúng ta không liên quan gì đến nó cả.
Thượng đế tạo ra chúng ta, Thượng đế tạo ra Quỉ, Quỉ tạo ra tội lỗi, chúng ta
phạm tội - trong toàn bộ cái vòng này chúng ta trở nên có trách nhiệm ở đâu?
Chúng ta không tạo ra Thượng đế, chúng ta không tạo ra Quỉ, chúng ta không tạo
ra tội lỗi - và chúng ta đau khổ không cần thiết trong đống lộn xộn này.
Ông linh mục trở
nên hơi bất ổn. Ki tô giáo không có câu trả lời cho nó. Khó mà tìm được câu trả
lời với bất kì những người này vì nó có quá nhiều vấn đề. Hay ai đó... chẳng hạn,
người Zarathustra tin, như Zarathustra nói, rằng Thượng đế và Quỉ là hai phần tử.
Không ai tạo ra ai, cả hai đều vĩnh viễn. Bây giờ trong niềm tin này nguy hiểm
thậm chí còn lớn hơn, bởi vì nếu cả hai đều vĩnh viễn thế thì không ai trong
hai người này có thể thắng hay thua. Thượng đế và Quỉ sẽ cứ đánh nhau hoài. Và
bạn là ai - bạn là chiến trường nơi họ đánh nhau chăng? Không ai trong cả hai
có thể thắng hay thua vì cả hai đều vĩnh viễn.
Người
Zarasthustra cũng trong khó khăn nếu họ không tin cả hai đều vĩnh viễn và nói rằng
Quỉ có thể bị đánh bại, bởi vì thế thì câu hỏi lại nảy sinh: Làm sao nó vẫn
chưa bị đánh bại cho đến giờ? Bao nhiêu thế kỉ đã qua mà nó vẫn chưa bị đánh bại.
Và đâu là đảm bảo cho thất bại của nó trong tương lai? Thực ra, tình huống dường
như là điều đối lập - rằng Quỉ đang thắng. Với nó bị thất bại là một giấc mơ xa
xôi; Quỉ dường như ngày nào cũng thắng.
Bạn sẽ ngạc
nhiên khi biết rằng gần đây, năm 1970, ở California, Mĩ, một nhà thờ mới đã dược
đăng kí dưới cái tên Nhà thờ đầu tiên về Quỉ. Nó có tín đồ và tổng giám mục, và
họ đã in kinh thánh của riêng họ và công bố, “Chúng ta đã có đủ thời gian để
kinh nghiệm rằng Thượng đế đang bị thất bại và Quỉ đang thắng.”
Điều được nói
dường như đúng. Nếu chúng ta nhìn vào thế giới, phát biểu của họ dường như
không sai. Tín đồ của Quỉ thắng và tín đồ của Thượng đế bị thất bại. Tín đồ của
Quỉ chiếm địa vị cao, và tín đồ của Thượng đế vẩn vơ đây đó.
Bạn có thể tự
mình thử - bây giờ ngay cả tín đồ của Thượng đế cũng đã học được thủ đoạn này.
Họ vẫn tụng niệm tên của Thượng đế, nhưng nhận các thứ qua Quỉ; họ đã hiểu ai
thực sự thắng. Trong tính toán cuối cùng chính Quỉ thắng. Nhưng sợ vẫn còn lẩn
khuất trong tâm trí rằng có lẽ, bởi sai lầm nào đó, Thượng đế có thể thắng! Cho
nên họ cũng giữ tụng niệm tên Thượng đế: Rama, Rama, Rama. Họ vẫn cố ngồi trong
cả hai con thuyền - mọi người thận trọng đều giống thế. Khi có nhu cầu, họ nhận
công việc từ Quỉ, còn khi không có nhu cầu và họ có thời gian rỗi, họ quay sang
tràng hạt cầu nguyện để làm vui lòng Thượng đế. Một loại thoả hiệp được duy
trì, một loại cân bằng. Và thế nữa ai biết được đến cuối cùng ai sẽ thắng?
Nếu thế giới
cho bất kì chỉ dẫn nào, đấy là thắng lợi của Quỉ. Thắng lợi của Thượng đế không
được thấy ở đâu cả. Việc tốt dường như không tăng lên mà việc xấu dường như
không giảm đi. Ánh sáng dường như không tăng lên mà bóng tối dường như không giảm
đi.
Cho nên có rắc
rối trong việc tin Quỉ là vĩnh viễn. Và nếu người ta tin rằng nó không là vĩnh
viễn, rằng Quỉ chung cuộc sẽ bị thất bại - không thành vấn đề việc nó thắng đến
đâu trong thời kì ở giữa, rằng đến cuối nó sẽ bị thất bại - cái gì là đảm bảo
cho điều đó? Đâu là đảm bảo cho những việc như thế xảy ra? Người đang thắng bây
giờ - sao phải bị thất bại về cuối? Dường như không có nhất quán hay logic
trong niềm tin rằng người đang thắng sẽ đột nhiên bị thất bại về cuối.
Điều này vẫn
còn là câu hỏi kso dài mãu cho loài người. Các tôn giáo khác nhau đã dự kiến những
phương pháp khác nhau để giải quyết vấn đề nhị nguyên này, nhưng chẳng cái gì
được giải quyết cả. Quan niệm của Upanishad dường như ít sai lầm hơn cả khi so
sánh với tất cả các phương pháp đó - chỉ sai lầm ít nhất, nhưng không hoàn toàn
đúng. Nhưng nếu nó được cân nhắc so với tất cả các quan niệm khác, ý tưởng của
Upanishad dường như là đúng đắn nhất - không hoàn toàn đúng, chỉ là đúng nhất.
Upanishad nói rằng
không có đối lập giữa Thượng đế và thế giới: không có Quỉ, và không có quyền
năng nào đối lập Thượng đế. Thế thì thế giới này được tạo ra như thế nào?
Upanishad nói rằng
Thượng đế không tạo ra thế giới này bằng cách tạo ra một thành phần đối lập nào
đó để làm công việc đó. Trong chính hiện hữu của Thượng đế, trong chính sự rực
rỡ của Thượng đế - cái mà họ gọi là ảo vọng, ảo tưởng - trong chính bóng hình của
Thượng đế - cái mà họ cũng gọi là ảo vọng, ảo tưởng - thế giới có đấy, hệt như
một người đứng đấy và bóng người đó tự nhiên hình thành. Không có sự tồn tại rắn
chắc của cái bóng: lưỡi gươm không thể chém đứt nó, lửa không thể đốt cháy nó,
nước không thể nhấn chìm nó. Thử tuỳ ý bạn, nó vẫn tồn tại. Nó không có tồn tại
thực, vậy mà cái bóng vẫn có. Nó bước sau bạn; nếu bạn chạy, nó chạy theo bạn,
nếu bạn dừng, nó dừng.
Upanishad nói rằng
bất kì khi nào cái gì đó tồn tại, nó cũng có cái bóng của nó. Và những nghiên cứu
mới nhất trong khoa học và tâm lí cũng ủng hộ cho sự kiện này. Để điều này được
hiểu. Không cái gì tồn tại mà không có bóng. Bất kì cái gì có đó, nó tạo ra cái
bóng của nó. Nếu có Brahman, thực tại tuyệt đối, nó sẽ phải có cái bóng của nó.
Cái bóng đó họ gọi là ảo vọng, ảo tưởng. Cái bóng của thực tại tuyệt đối là thế
giới này.
Jung, một nhà
tâm lí học lớn, đã nghiên cứu rất nhiều về thực tại này từ một chiều hướng khác
và ông ấy đã thấy rằng mọi người cũng có sự tồn tại hình bóng, nhân cách hình
bóng. Bạn cũng nên hiểu điều này bởi vì cả bạn nữa cũng có sự tồn tại hình bóng
của mình.
Bạn là người tốt,
an bình và kiên nhẫn, và bạn không trở nên giận dữ. Nhưng một hôm bỗng nhiên, với
một việc cỏn con, bạn trở nên giận dữ thái quá đến mức nó vượt ra ngoài hiểu biết
riêng của bạn, bạn không biết việc gì đang xảy ra và ai đang làm việc này. Bản
thân vấn đề đâu có nghiêm trọng đến mức sinh ra bất kì giận dữ nào, mà bạn thì
cũng không phải là người thường trở nên giận dữ - bạn không trở nên giận dữ
ngay cả với những vấn đề lớn, nghiêm trọng! Nhưng hôm nay, với việc cỏn con
này, bạn phát rồ.
Đó là lí do tại
sao sau đó người ta thường hay nói, “Sự việc đã xảy ra bất chấp cả tôi. Tôi đâu
có chủ định mà nó cứ xảy ra.” Tại sao? Làm sao điều đó đã xảy ra? Bạn đâu có định
làm việc đó, thế thì làm sao nó đã xảy ra?
Đôi khi bạn
không định nói điều gì đó và nó buột ra từ mồm bạn. Bạn đơn giản không muốn nói
điều đó còn nó lại phun ra từ mồm bạn. Sau đó bạn hối hận rằng, “Mình chưa bao
giờ nghĩ mình sẽ nói điều đó; mình đã quyết định không nói nó, thế mà mình lại
buột mồn nói nó ra!”
Jung nói rằng bạn
có nhân cách hình bóng của riêng bạn trong đó mọi điều mà bạn chối bỏ bên trong
bạn cứ tích luỹ nó. Đôi khi tìm ra một cơ hội nào đó, trong khoảnh khắc yếu đuối
nào đó nó tìm ra một khe nứt trong hệ thống, thế là nhân cách hình bóng biểu hiện
chính nó.
Vì nhân cách
hình bóng này, một bệnh nghiêm
trọng được biết tới với tên ‘nhân cách chia chẻ’, đã thành chủ đề nghiên
cứu trong tâm lí học. Một người bị phân làm hai phần. Đôi khi sự việc xảy ra tới
mức trở thành có hai nhân cách phân biệt trong người này - dường như là có hai
người bên trong một người. Người này nói điều này và làm điều khác, không có phối
hợp; người đó là người này vào buổi sáng và là người khác vào buổi tối. Lời nói
của người đó, con người người đó - không cái gì hoàn toàn tin cậy được. Bản
thân người đó sợ điều người đó làm và điều người đó nói, đơn giản không có hài
hoà. Cứ dường như là có hai người bên trong người đó. Đôi khi người đó rất an
bình, đôi khi rất khuấy động; đôi khi yên lặng, đôi khi huyên thuyên - người đó
chỉ phân chia ra làm hai phần.
Có hàng nghìn
những người điên như thế trong hàng nghìn nhà thương điên. Bệnh tật của họ là ở
chỗ bỗng nhiên họ hoàn toàn mất một nhân cách và trở thành người khác hẳn. Mới
hôm qua người đó là Rama, rồi bỗng nhiên điều gì đó xảy ra - một tai nạn, hay
người đó bị ngã và bị thương ở đầu - và người đó trở thành Rahim. Bây giờ người
đó đơn giản không nhớ rằng người đó là Rama;
người đó không nhận ra bố mình, mẹ mình hay vợ mình. Bây giờ người đó
tuyên bố người đó là Rahim và đưa ra một giải thích hoàn toàn khác về cuộc đời
mình mà không có gì liên quan tới gia đình này cả - thậm chí không quen biết
gì.
Điều gì đã xảy
ra? Trong tai nạn nhân cách chính của người này đã bị đẩy vào hậu cảnh do cú sốc
của tác động và nhân cách hình bóng đã trở nên hoạt động, cho nên người đó đã
thay đổi tên mình và mọi thứ khác.
Việc mang nhân
cách hình bóng này cũng bị đảo ngược lại bởi cách trị liệu gây sốc. Thỉnh thoảng
khi người này được chữa khỏi thì người đó lại trở thành Rama, con người trước
đây, và toàn bộ hành vi của người đó thay đổi trở lại nhân cách nguyên gốc.
Nhân cách hình
bóng này ẩn kín trong mọi người. Nếu chúng ta mô tả điều này theo ngôn ngữ
Upanishad, đó là dốt nát, avidya, cái bị gắn vào mọi người - đó là nhân cách
hình bóng của người đó. Giống như đó là ảo tưởng, ảo vọng được gắn vào Brahman,
thực tại tối cao - đó là nhân cách hình bóng của nó. Ảo tưởng này không đối lập
với Brahman, nó chính là cái bóng, một phần bản chất của sự hiện hữu của nó. Thế
giới này không phải là kẻ thù của Brahman, nó chỉ là cái bóng của chính sự tồn
tại của Brahman. Nếu chúng ta cố hiểu điều này theo ngôn ngữ khoa học có thể trở
nên dễ nắm bắt hơn, bằng không thì không dễ gì hiểu thấu được hết cả.
Năm 1960, một
nhà khoa học đã được giải thưởng Nobel vì phát minh ra phản vật chất. Đây là một
từ rất lạ: phản vật chất. Phát minh của người này là ở chỗ trong thế giới này
có vật chất và cũng có cái đối lập của nó, phản vật chất.
Mọi thứ đều có
cái đối lập của nó. Không cái gì trong thế giới này tồn tại mà không có cái đối
lập nó cả. Chẳng hạn, nếu có ánh sáng, có bóng tối; nếu có sống, có chết; nếu
có nóng, có lạnh; nếu có đàn ông, có đàn bà. Toàn bộ thế giới đều tồn tại thông
qua nhị nguyên. Bạn có thể quan niệm được một thế giới chỉ có đàn bà và không
có đàn ông không? Điều ấy không thể được. Bạn có thể quan niệm về một thế giới
chỉ có đàn ông mà không có đàn bà không? Điều ấy không thể được. Sự phối hợp là
sâu sắc đến mức khi trẻ con được sinh ra, một trăm mười lăm đứa con trai sinh
ra và chỉ có một trăm đứa con gái sinh ra; nhưng đến độ tuổi mười lăm, mười lăm
đứa con trai đã chết và tỉ lệ con trai và con gái là bằng nhau.
Các nhà sinh vật
nói rằng bởi vì con trai yếu hơn con gái nên tự nhiên phải cho sinh ra nhiều
con trai hơn, bởi vì đến trước độ tuổi mười lăm, tuổi hôn nhân được, thì mười
lăm đứa con trai sẽ chết.
Bạn có thể ngạc
nhiên mà biết rằng theo sinh học đàn bà khoẻ hơn đàn ông. Sức mạnh của đàn ông
là cơ bắp; anh ta có thể mang tảng đá lớn hơn nhưng anh ta không thể mang nỗi
đau lớn hơn. Sức mạnh của đàn bà là ở sức chịu đựng của cô ấy, cho nên đàn bà
có khả năng chống đỡ với bệnh tật tốt hơn. Và điều đó là cần thiết, bởi vì cần
có sức chịu đựng lớn nhất để sinh con, và cô ấy còn mang đứa trẻ trong chín
tháng.
Nếu đàn ông phải
sinh con anh ta chắc đã tự tử từ lâu rồi. Bạn sẽ không tìm được một người đàn
ông nào trên thế giới.
Cưu mang đứa trẻ
trong chín tháng bên trong bạn - cứ thử mang trên vai một đứa trẻ trong chín
ngày, thậm chí chỉ chín giờ thôi, thậm chí chín phút thôi, mà xem! Đấy là việc
khó khăn. Và rồi còn đau đẻ, cái đau sinh nở! Tự nhiên làm cho người đàn bà có
khả năng chịu đựng những cái đau như thế. Cô ấy mạnh khoẻ, vững chắc. Sức mạnh
của cô ấy thuộc vào kiểu khác. Cô ấy không thể đánh nhau, cô ấy không thể chạy
thật nhanh, nhưng bởi vì điều này không nên coi cô ấy là yếu. Chiều hướng sức mạnh
của cô ấy là khác. Cô ấy có khả năng lớn.
Cho nên trước độ
tuổi mười lăm, tỉ lệ con trai và con gái là ngang nhau. Tỉ lệ này được duy trì
trên toàn thế giới. Trong chiến tranh, nhiều con trai bị giết chết - chắc chắn,
vì con trai ra chiến trường. Vậy số phần trăm đàn bà tăng lên. Và sau thời gian
chiến tranh tỉ lệ sinh con trai tăng lên và tỉ lệ con gái giảm đi. Ai có thể lập
kế hoạch cho mọi điều này? Và làm sao mọi điều này xảy tới?
Trong chiến
tranh thế giới thứ nhất hàng trăm nghìn người đã bị giết. Trong hai đến ba năm
của thời kì hậu chiến, tỉ lệ sinh con trai tăng lên đáng lưu ý và tỉ lệ con gái
giảm đi. Về sau tỉ số của tỉ lệ sinh lắng xuống về bình thường. Điều này lẩy cò
cho suy nghĩ nào đó. Cùng điều này được lặp lại lần nữa sau chiến tranh thế giới
thứ hai. Thế thì người ta nhận ra rằng tự nhiên giữ cân bằng các phía đối lập từ
bên trong.
Bạn không bao
giờ cần nghĩ rằng một ngày nào đó trên trái đất này sẽ chỉ có ánh sáng mà không
có bóng tối. Điều này không thể xảy ra được. Bóng tối và ánh sáng bao giờ cũng
còn được giữ cân bằng.
Việc khám phá
ra phản vật chất dựa trên cùng nguyên lí này rằng thế giới là cân bằng giữa các
phía đối lập. Cho nên nếu có vật chất, cái đối lập của nó là gì? Và khái niệm của
các nhà vật lí là rất phức tạp. Chẳng hạn, nếu một hòn đá được giữ trên bàn,
chúng ta thấy nó. Khi nó bị lấy đi, chúng ta không thấy gì trong chỗ của nó nữa.
Bây giờ hình
dung rằng trên bàn đó có một không gian hổng hệt như hình dạng của hòn đá. Khi
hòn đá bị lấy đi, không gian hổng đó vẫn còn đấy và không gian hổng đó là phản
vật chất. Tới giờ không ai đã thấy nó, trừ người đã nhận giải thưởng Nobel. Và
lí do ông ta có thể nhận được giải thưởng Nobel là ở chỗ ông ta không thể bị chứng
minh là sai, bởi vì khi mọi thứ trong thế giới này đều có phía đối lập của nó,
điều cần thiết là vật chất cũng phải có cái đối lập của nó, cái có thể bị che
giấu đâu đó gần nó. Nó có thể được thấy, nó có thể không được thấy, nhưng về
nguyên tắc không có phương án nào khác ngoài việc chấp nhận nó.
Ảo vọng là hình
bóng của Brahman. Brahman không thể có đó nếu không có ảo vọng, ảo vọng không
thể có đó nếu không có Brahman. Và chính trên qui mô bao la mà ảo vọng là hình
bóng của Brahman. Bạn có thể gọi nó là phản- Brahman. Trên qui mô nhỏ hơn của
con người, dốt nát là cái bóng. Dốt nát là ảo vọng trên qui mô con người.
Xung quanh bạn
dốt nát tồn tại. Bây giờ cái gì có thể được làm về nó? Nó có đó cùng với con
người. Làm sao từ bỏ dốt nát? Và nếu đây là định mệnh, nếu có thu xếp trong vũ
trụ để cái đối lập sẽ có đó và nếu thậm chí Brahman đã không có khả năng vứt bỏ
ảo vọng, nếu thậm chí sự tồn tại tối cao bị bao bọc bởi ảo vọng, làm sao chúng
ta, những cá nhân nhỏ bé tí hon này, có thể vứt bỏ được dốt nát? Brahman không
có khả năng vứt bỏ ảo vọng, vậy làm sao chúng ta có khả năng vứt bỏ được dốt
nát? Và nếu chúng ta không có khả năng vứt bỏ được dốt nát, thế thì tất cả những
nỗ lực của tôn giáo đều trở thành vô nghĩa.
Không, chúng ta
có thể vứt bỏ dốt nát chứ, nhưng để quá trình này được hiểu. Chúng ta có thể vứt
bỏ dốt nát khi chúng ta sẵn lòng biến mất. Nếu chúng ta không sẵn lòng biến mất,
dốt nát không thể biến mất; nhị nguyên sẽ tiếp tục. Hoặc cả hai sẽ cùng còn hoặc
cả hai sẽ cùng ra đi. Nếu tôi nói rằng tôi muốn tồn tại nhưng tôi cũng muốn phá
huỷ dốt nát, thế thì dốt nát sẽ không bao giờ bị phá huỷ, nó là cái bóng của bạn.
Điều đó cũng giống như nói rằng tôi muốn còn lại nhưng tôi muốn cái bóng của
tôi biến mất. Nó sẽ không bao giờ biến mất cả.
Chỉ có một cách
và đó là tôi có thể biến mất để cho cái bóng biến mất. Do đó có biết bao nhấn mạnh
vào việc xoá bỏ bản ngã. Nếu tôi biến mất cái bóng của tôi sẽ biến mất. Khi tôi
biến mất cái bóng của tôi cũng biến mất, và tôi hoà hợp và trở thành một với
Brahman - không như cái ‘tôi’ mà như cái trống rỗng. Điều gì có thể xảy ra cho
dốt nát của tôi? Khi tôi biến mất, khi tôi hoà vào Brahman, dốt nát của tôi hoà
vào ảo vọng. Tôi biến mất trong Brahman, dốt nát biến mất trong ảo vọng. Bất kì
khi nào tôi được tạo ra, tôi nổi ra từ Brahman, và dốt nát nổi ra từ ảo vọng. Dốt
nát là phần ảo vọng chung nhỏ bé của chúng ta được trao cho chúng ta, phần nhỏ
bé của mảnh đất ảo vọng được phân cho ta.
Ảo vọng, dốt
nát, đem lại khổ và đau. Đây là lí do tại sao chúng ta muốn gạt bỏ nó. Phải
chăng nó không gây ra đau đớn cho Brahman? Phải chăng Brahman không muốn gạt bỏ
nó? Bởi Brahman không được ngụ ý là người mà là sự tồn tại bao la, vô hạn này.
Phải chăng nó không đau đớn? Phải chăng nó không muốn gạt bỏ cái đó? Chúng ta cảm
thấy đau, chúng ta muốn gạt bỏ nó đi; Brahman không muốn gạt bỏ nó đi sao?
Ở mức độ
Brahman có chấp nhận toàn bộ. Ở mức độ Brahman sự tồn tại của ảo vọng được chấp
nhận, không có việc chối bỏ nó. Không có việc chối bỏ nó cho nên không có đau. Ở
mức độ chúng ta có đau; nếu chúng ta cũng chấp nhận, không có đau.
Khi tôi làm đau
tay tôi, cái đau không phải do việc làm đau mà do ý tưởng của tôi rằng đau đáng
ra không nên đến với tôi. Nếu tôi chấp nhận rằng tôi phải bị đau, rằng việc đau
đó nhất định xảy ra, rằng bị đau là định mệnh của người ta, thế thì sẽ không có
đau. Đau là ở phía đối lập, trong việc không chấp nhận. Đau là bởi vì chúng ta
không thể nào chấp nhận được nó. Một số người trong chúng ta dám chấp nhận -
như một Janaka, hay một Krishna - họ chấp nhận. Krishna chấp nhận mọi thứ. Và với
việc chấp nhận, không làm điều gì, dốt nát trở thành ảo vọng, Krishna trở thành
Brahman.
Đây là khác biệt
giữa con đường của Krishna và Phật hay Krishna và Mahavira. Mahavira phá huỷ bản
thân mình để cho dốt nát cũng bị phá huỷ. Krishna không phá huỷ bản thân ông ấy
không phá huỷ dốt nát, ông ấy chỉ đơn giản chấp nhận. Mahavira phá huỷ dốt nát
bằng cách phá huỷ bản thân ông ấy; Krishna trở thành chính Brahman thông
qua việc chấp nhận, ngay lập tức,
vì khi Brahman không phá huỷ ảo vọng và chấp nhận nó, Krishna cũng chấp nhận
nó.
Bởi những lí do
này chúng ta đã gọi Krishna là hoá thân toàn bộ. Không có việc không chấp nhận ở
đó và do đó có tính toàn bộ. Ngay cả một không chấp nhận nhỏ nhặt nhất và không
có tính toàn bộ.
Đây là lí do tại
sao chúng ta chưa bao giờ gọi Rama là hoá thân toàn bộ. Chúng ta không thể gọi
thế được, bởi vì trong tâm trí của Rama có nhiều cái không chấp nhận, nhiều giới
hạn, nhiều khái niệm hạn chế. Trong câu chuyện về Ramayana một thợ giặt nói rằng
người đó hoài nghi đạo đức của Sita bởi vì cô ấy lén đi với Ravana. Rama nghe
thấy điều này và không thể nào chịu đựng nổi việc nghi vấn về đạo đức của vợ
mình... người thợ giặt, và nghi vấn về tính cách của vợ ông ta? Liệu có thiếu kẻ
đần trong thế giới này không? Bất kì ai cũng có thể nói bất kì cái gì. Và không
có gì chắc chắn rằng những người thợ giặt trong thời của Rama là những người rất
khôn ngoan.
Nhưng nếu ngay
cả một người thợ giặt cũng có thể nói, “Tôi có hoài nghi về Sita,” và có thể
nói với vợ người đó, “Em đã đi suốt cả đêm do đó anh sẽ không cho phép em được
vào nhà - anh không giống Rama...” Vì bao nhiêu ngày Sita đã bị buộc phải ở tại
lâu đài của Ravana trước khi Rama đánh bại người đó và đem cô ấy về nhà. Lời chế
nhạo của người thợ giặt, “Anh nghĩ tôi là loại người gì? Tôi không giống Rama,”
đã được nói cho Rama và điều đó làm tổn thương ông ấy sâu sắc, đã tạo ra một
chiếc gai trong tim ông ấy.
Rama không có
chấp nhận toàn bộ về mọi việc. Ông ấy không thể chịu đựng được ý tưởng về việc
có vết nhơ trên tên mình, trên tính cách mình. Ông ấy có thể từ bỏ Sita, ông ấy
có thể tống cô ấy ra, bởi vì ông ấy không thể chấp nhận điều sỉ nhục này. Cho
nên tâm trí người Hindu chưa bao giờ gọi Rama là hoá thân toàn bộ. Ông ấy được
gọi là Maryada Purushottam, siêu nhân đạo đức; trong loài người chưa bao giờ có
người nào có đạo đức lớn lao hơn.
Nhưng nhớ lấy,
siêu nhân đạo đức... trong con người! Nhưng có giới hạn! Ông ấy rất thuần khiết,
nhưng nhấn mạnh vào thuần khiết nhiều đến mức có sợ về ô uế. Nhưng Krishna là một
kiểu người khác; ông ta không sợ bất kì phỉ báng nào về bất kì cái gì. Cứ dường
như là ông ta làm nỗ lực để thử và trở thành ngày càng bị phỉ báng hơn. Khác biệt
có thể là gì?
Không có sự
không chấp nhận trong Krishna. Bất kì cái gì có đó đều tốt. Cho nên nhiều hiện
tượng lạ thường xảy ra trong cuộc đời Krishna. Đích xác cùng hiện tượng này đã
xảy ra đó đang xảy ra vô hạn giữa Brahman và ảo vọng - dường như cái vô hạn
giáng xuống một dạng nhỏ hơn trên sâu khấu nhỏ hơn của con người, và bao quanh
nó vở kịch nhỏ hơn của ảo vọng xảy ra. Trong Krishna có chấp nhận toàn bộ.
Khi dốt nát được
chấp nhận, không cần phá huỷ nó. Những nơi không có chấp nhận, dốt nát sẽ phải
bị phá huỷ. Nhưng chỉ có một cách phá huỷ nó và đó là bằng cách phá huỷ cái ta
riêng của người ta. Chỉ thế thì nó sẽ bị phá huỷ.
Cho nên con đường
của Mahavira và Phật là gian truân. Nó là cắt bỏ, đập tan, phá huỷ bản ngã. Mọi
thứ đều phải bị đập tan, phá huỷ, từng chút một, từ tận gốc rễ; chỉ thế thì cái
bóng sẽ bị phá huỷ và người ta sẽ gạt bỏ nó.
Con đường của
Krishna là con đường của chấp nhận. Không cái gì bị phá huỷ ở bất kì đâu. Nhưng
con đường này không phải là dễ dàng. Nó có vẻ dễ, nhưng tìm kiếm sâu có lẽ nó
còn tỏ ra thậm chí khó hơn, bởi vì tâm trí không bao giờ đồng ý chấp nhận. Tâm
trí nói, “Điều này phải là vậy, điều kia không thể thế” - tâm trí chỉ tiếp tục
tán gẫu về cái gì nên thế, cái gì không nên thế. Tâm trí cứ phân chia.
Chỉ có hai con
đường trên thế giới. Con đường này là phá huỷ cả hai và con đường kia là chấp
nhận cả hai. Giải thoát đến từ cả hai con đường.
Có hai thuộc
tính: maya, ảo tưởng, cho linh hồn vũ trụ, và avidya, dốt nát cho linh hồn hiện
thân. Khi bỏ hai cái đó, cái được thấy chính là Param Brahman phúc lạc, hoàn
toàn đúng đắn, ý thức - thực tại tối cao tối thượng.
Khi bỏ hai cái
đó... Tôi bảo bạn có hai con đường để từ bỏ. Một con đường là: bạn dừng, dốt
nát dừng. Con đường thứ hai là: đồng ý, chấp nhận, vứt bỏ ý tưởng đi ra ngoài
cái hiện có - không nghĩ tới việc làm dù một thay đổi nhỏ nhất trong nó như nó
hiện thế. Thế nữa cái còn lại là thực tại tối cao, phúc lạc, ý thức, đúng hoàn
toàn.
Xem tiếp Chương 10 – Quay về Mục lục
Chương 9. Cái đó - tôn giáo vũ trụ
4/
5
Oleh
John Nguyen
