Osho
- Ngón tay chỉ trăng
Chương
10. Bốn bước
Vậy, qua các
phát biểu như Tattvamasi, Cái đó là ngươi, theo đuổi các ý nghĩa như tính mở của
jiva, linh hồn hiện thân, và Brahman, thực tại tuyệt đối, là shravana, lắng
nghe. Và theo đuổi hợp lí ý nghĩa của bất kì cái gì đã được nghe chính là
manan, suy tư.
Việc thiết lập
tâm trí ông trong ý nghĩa không thể nghi ngờ được đạt tới được qua việc lắng
nghe và suy tư này, việc làm hoà hợp với nó là nididhyasan, hấp thu.
Vứt bỏ thiền
nhân và việc thiền tương ứng, khi cái được thiền, mục đích, vẫn còn là mục tiêu
duy nhất và tâm trí trở thành tĩnh lặng như ngọn lửa đèn ở nơi không gió - điều
này được gọi là samadhi, chứng ngộ.
Bốn từ đã được
dùng trong đoạn kinh này. Mỗi từ là một thế giới bên trong bản thân nó. Bốn từ
đó là: shravana, lắng nghe, manan, suy tư, nididhyasan, hấp thu, và samadhi, chứng
ngộ. Trong bốn từ này toàn bộ cuộc hành trình tới chân lí được bao hàm. Với người
có thể hoàn thành được đúng bốn bước này, không cái gì còn lại để được làm.
Chính xoay quanh bốn từ này mà toàn kỉ luật tâm linh được phát triển, cho nên
việc hiểu rõ từng từ trong bốn từ này, với đủ mọi sự tinh tế của chúng, là rất
có ích.
Từ thứ nhất là
shravana, lắng nghe.
Lắng nghe không
có nghĩa đơn thuần nghe. Tất cả chúng ta đều có thể nghe, có tai là đủ để nghe
được. Nghe là hiện tượng cơ giới. Có âm thanh, nó lọt vào tai bạn và bạn nghe
thấy nó. Nhưng lắng nghe không chỉ là điều này. Lắng nghe nghĩa là nó đã không
chỉ được nghe bằng tai, rung động này đã thấm vào tâm thức sâu bên trong bạn. Cố
hiểu điều này một chút.
Bạn đang đi dọc
con đường, nhà của bạn đang bốc cháy và bạn chạy về phía nó. Người nào đó đi
ngang qua đường lên tiếng chào bạn. Tai bạn sẽ nghe thấy lời đó nhưng bạn sẽ
không nghe. Hôm sau bạn sẽ không có khả năng ngay cả nhớ được rằng ai đó đã
chào bạn trên đường. Khi nhà bạn đang bị cháy, nếu ai đó đang hát trên đường,
tai bạn sẽ nghe nhưng bạn không nghe.
Nghe bằng tai
không phải là lắng nghe bởi bạn. Không nhất thiết là nếu tai bạn nghe, bạn cũng
lắng nghe. Tai là cần cho việc nghe nhưng chưa đủ; cái gì đó thêm nữa là được cần
tới bên trong. Khi nhà bạn bị cháy, lời chào với bạn không được bạn nghe thấy.
Tại sao? Cơ chế của tai bạn
không thay đổi nhưng chú ý tới tai bị phá vỡ từ bên trong. Chú ý là với nhà
đang cháy. Tai đang nghe, nhưng cây cầu của chú ý cần để đưa nội dung lên ý thức
bị mất, cây cầu đó đã bị loại bỏ. Nó đang được dùng cho ngôi nhà bị cháy. Cho
nên tai có khả năng nghe nhưng bạn không. Liên hệ, cây cầu chú ý giữa bạn và
tai, bị gẫy.
Lắng nghe nghĩa
là cả bạn và tai bạn đều hiện diện, được nối - thế thì việc lắng nghe xảy ra.
Đó là vấn đề khó khăn. Tạo ra liên hệ với tai là vấn đề của nỗ lực tâm linh.
Lắng nghe có
nghĩa là khi bạn nghe, toàn bộ ý thức của bạn trở thành việc nghe; chỉ có việc
nghe còn lại, không có cái gì khác nữa. Không suy nghĩ nào thoáng qua bên
trong, bởi vì nếu có ý nghĩ thoáng qua bên trong bạn, chú ý của bạn bị phân tán
vào trong việc suy nghĩ và rời bỏ tai.
Chú ý là điều rất
tinh tế và nhạy cảm. Chỉ thoáng suy nghĩ vương vấn bên trong là chú ý đi sang
nó. Bạn đang lắng nghe tôi và một con kiến cắn chân bạn - không cần đến việc
nhà bạn bị cháy - thế thì trong một khoảng thời gian bạn trở nên nhận biết về
con kiến cắn, việc lắng nghe của bạn bị mất. Việc nghe của bạn vẫn tiếp tục
nhưng chú ý đã bị phân tán.
Vấn đề khác với
chú ý là ở chỗ nó không thể đồng thời ở trên hai điều một lúc, nó bao giờ cũng
chỉ trên một đối tượng mỗi lúc. Khi nó chuyển sang đối tượng kia, lập tức nó bị
bỏ khỏi đối tượng đầu. Nó có thể nhảy từ sự vật nọ sang sự vật kia - và đấy
chính là điều chúng ta vẫn làm. Kiến cắn chân, chú ý chuyển ngay xuống đó; chú
ý trở lại và bạn lắng nghe. Bạn cảm thấy ngứa, chú ý của bạn nhảy tới nó; sau
đó nó quay lại với việc nghe lần nữa. Cho nên có lỗ hổng trong việc lắng nghe
khi chú ý chuyển đi đâu đó khác, và do đó không mấy sáng tỏ trong nghĩa có thể
được thấy từ điều bạn nghe vì nhiều thứ đã bị mất. Nhiều lần nghĩa được bạn suy
diễn ra theo ý riêng của mình, bởi vì nhiều thứ đã bị mất; và điều bạn kết luận
sau khi lấp vào lỗ hổng đó hoàn toàn là của riêng bạn.
Tôi đã đọc một
cuốn sách do một nữ đệ tử của Ouspensky viết. Cô ấy viết: "Khi tôi bắt đầu
làm việc với Ouspensky về kỉ luật tâm linh, tôi thấy rất khó hiểu bởi một điều
là ông ấy hay nhấn mạnh lặp đi lặp lại, và tôi không thể nào thấy được vấn đề bởi
vì dường như là không có gì trong nó đáng nhấn mạnh cả. Tôi cũng không thể nào
hiểu được tại sao một người như Ouspensky lại nhấn mạnh nhiều đến thế vào một
việc nhỏ nhoi như thế này. Con người này tuyệt vời đến độ nếu ông ấy nhấn mạnh
về điều gì đó, hẳn phải có ý nghĩa nào đó đằng sau. Nhưng trí năng của tôi không
thể nào hiểu thấu được ý nghĩa đó. Và ông ấy sẽ lặp lại điều này năm mươi lần một
ngày."
Một đệ tử có thể
tham chiếu điều gì đó Ouspensky đã nói ngày hôm trước, chẳng hạn, 'Hôm qua thầy
đã nói thế này và thế này,' và Ouspensky lập tức chặn người đó lại và bảo người đó đừng nói điều này; nhiều nhất
người đó có thể nói rằng đấy là điều người đó đã hiểu thầy đã nói hôm trước. 'Đừng
nói rằng đây là điều đã được nói.' Ông ấy sẽ đưa ra lời lưu ý này cho mọi phát
biểu - đừng bao giờ nói "Thầy đã nói thế,' mà phải nói, 'Tôi hiểu điều này
từ điều thầy đã nói!'"
Đệ tử này đã viết,
"Chúng tôi hay bị bối rối. Phải nói trước mọi câu, 'Đây là điều tôi đã hiểu;
đây là điều tôi đã hiểu từ điều thầy đã nói.' Cần gì phải làm như vậy? Tại sao
không đơn giản nói rằng thầy đã nói thế, và vấn đề xong." Dần dà cô ấy đi
tới hiểu rằng có hai điều phân biệt trong đó.
Chỉ những người
đã đạt tới nghệ thuật lắng nghe mới có thể hiểu được điều vừa được nói. Nếu bạn
chỉ là việc nghe, bạn sẽ hiểu chỉ điều bạn có thể hiểu và không hiểu những điều
đã được nói, bởi vì nhiều thứ sẽ bị mất ở giữa. Và cái bị mất đi đó sẽ được bạn
tự lấp đầy bằng ý kiến của mình - vì không gian trống rỗng bao giờ cũng bị lấp
đầy.
Bạn nghe, nhưng
giữa chừng nghe, khi chú ý của bạn dời đi, ai sẽ lấp vào không gian trống rỗng
này? Bạn sẽ làm điều đó. Tâm trí bạn, kí ức bạn, thông tin của bạn, tri thức của
bạn, kinh nghiệm của bạn sẽ tràn vào những lỗ hổng đó. Và bạn sẽ là người sáng
tạo ra hình dạng cuối cùng, điều không phải là điều đã được nói đúng đắn. Người
nói điều đó tận cội nguồn không chịu trách nhiệm về nó.
Lắng nghe nghĩa
là tâm thức dịch chuyển về ngay tai, không suy nghĩ, không lí trí hay tranh cãi
bên trong. Điều này không có nghĩa là bạn chấp nhận mọi thứ được nói mà không
hiểu. Nhưng chấp nhận không có vai trò gì trong quá trình lắng nghe cả. Lắng
nghe ngụ ý chỉ là lắng nghe thôi; chấp nhận hay không chấp nhận là vấn đề về
sau - không cần phải vội vàng.
Chúng ta đang
làm gì? Chúng ta đang nghe và đồng thời chúng ta cứ chấp nhận hay bác bỏ. Đầu
chúng ta tiếp tục gật đồng ý hay lắc không đồng ý. Người ta cứ nói, 'Đúng, điều
ấy hoàn toàn đúng." Ai đó khác nói, "Không, điều ấy không hấp dẫn
tôi." Bản thân họ không nhận biết về sự gật đầu liên tục này và quá trình
tâm trí liên tục, nhưng tôi có thể quan sát được nó.
Điều đó nghĩa
là khi tôi nói điều gì đó, trong khi nghe nó bạn cũng cứ quyết định về nó ở bên
trong. Trong lúc bạn đang quyết định, việc lắng nghe bị lỡ. Bản thân bạn không
nhận biết được rằng đầu bạn đã gật, nhưng bên trong bạn đã đồng ý với cái gì
đó, do đó có gật đầu. Khi tôi nói điều gì đó không hấp dẫn bạn, đầu bạn cứ lắc
phủ nhận, "Không, điều ấy không hấp dẫn tôi." Đấy không phải là chuyển
động của đầu bạn, đấy là chú ý bên trong của bạn di chuyển. Chính bởi vì chú
ý di chuyển
mà đầu cũng
di chuyển theo.
Trong chuyển dịch nhỏ bé đó mà việc lắng nghe của bạn bị mất.
Khi người ta
nói rằng bạn không nên nghĩ trong khi lắng nghe, điều đó không có nghĩa là bạn
chấp nhận mọi thứ một cách mù quáng. Không, tại điểm này không có vấn đề chấp
nhận hay bác bỏ, tại điểm này người ta chỉ phải lắng nghe cho rõ điều đã được
nói ra. Bạn phải lắng nghe đích xác điều đã được nói; chỉ sau đó bạn sẽ có khả
năng quyết định liệu nên chấp nhận hay bác bỏ.
Đem quá trình
chấp nhận hay bác bỏ vào trong việc nghe là bỏ lỡ việc lắng nghe. Nghe nghĩa là
chỉ nghe thôi.
Ngay bây giờ
chúng ta đang lắng nghe. Ngay bây giờ chúng ta sẽ không cứ suy nghĩ đồng thời nữa.
Tâm trí không thể làm hai việc một lúc; hoặc bạn nghe hoặc bạn nghĩ. Những người
nghĩ không có khả năng lắng nghe, còn những người lắng nghe không có cách nào
nghĩ đồng thời. Nhưng chẳng vội vàng gì - suy nghĩ có thể được thực hiện muộn về
sau. Điều phải và đúng là trước hết người ta lắng nghe thế rồi người ta nghĩ...
bởi vì bạn sẽ nghĩ về cái gì? Nếu bạn không nghe đúng, hay nếu bạn đã thêm cái
gì đó của riêng bạn vào điều bạn nghe, hay nếu có lỗ hổng trong điều bạn vừa
nghe, bạn sẽ nghĩ về cái gì? Bất kì điều gì bạn nghĩ, nó không có giá trị. Nếu
cái gì đó không được nghe đúng, việc suy nghĩ về nó là vô tích sự. Cho nên bước
đầu tiên người thấy đã nói, là shravana, lắng nghe.
Khi ai đó tới
Phật hay khi ai đó tới Mahavira, họ thường hay hỏi về người đầu tiên trở thành
shravaka, người lắng nghe. Trở thành một shravaka có nghĩa là trở thành người lắng
nghe. Tận đến bây giờ người Jainas vẫn tiếp tục phân loại theo cùng cách thức:
sadhu-sadhvi và shravaka- shravika. Nhưng thực sự không có shravaka hay
shravika nào, bởi vì những thuật ngữ này ngụ ý lắng nghe. Một shravika là người
đã đạt tới nghệ thuật lắng nghe. Nhưng thực ra không có cả shravaka lẫn
shravika - người lắng nghe - mà bây giờ cũng không có ai đáng để lắng nghe nữa.
Bạn đi và nhìn
các shravaka và shravika trong các đền đài mà xem. Thường bạn sẽ thấy họ ngủ -
lắng nghe còn xa xôi lắm. Mệt mỏi và kiệt lực sau cả ngày làm việc, họ nghỉ và
ngủ ở đó. Cho dù họ không ngủ đi chăng nữa, họ chắc chắn cũng không lắng nghe.
Họ đang bận rộn với những náo động tinh thần và ý nghĩ riêng của họ.
Tâm trí bạn nên
hoàn toàn dừng lại, chuyển động của nó nên dừng lại; chỉ thế thì lắng nghe xảy
ra. Lắng nghe là bước đầu tiên. Và vấn đề được thảo luận càng có ý nghĩa, lắng
nghe càng phải sâu sắc hơn, chỉ thế thì nó mới có thể được hiểu. Cho nên kinh
nói:
Vậy, qua các
phát biểu như Tattvamasi, Cái đó là ngươi, theo đuổi các ý nghĩa như tính mở của
jiva, linh hồn hiện thân, và Brahman, thực tại tuyệt đối,là shravana, lắng
nghe.
Tattvamasi là
phát biểu tối cao. Chỉ có ba hay bốn phát biểu tối cao về chân lí trong thế giới
nhưng không có phát biểu nào cao quí hơn phát biểu này. Tattvamasi nghĩa là,
Cái đó là ngươi, bạn là cái đó. 'Cái đó', tat, chúng ta đã thảo luận hôm qua
xem như một mô tả về Thượng đế. Đó là ý nghĩa của tattvamasi, rằng 'cái đó'
không là gì bên ngoài và xa khỏi bạn, bạn là cái đó. Điều chúng ta gọi là tat,
'cái đó', tạo ra ấn tượng về khoảng cách - 'cái đó' là chỉ dẫn về khoảng cách.
Tattvamasi nghĩa là 'cái đó' là bạn, 'cái đó' không xa mà rất gần, gần hơn bao
giờ hết. Chính sự tồn tại của bạn là 'cái đó'.
Đây là phát biểu
tối cao. Phát biểu tối cao nghĩa là nếu người ta khám phá nó đầy đủ, nó sẽ dẫn
người ta tới trạng thái tối thượng. Đây là lí do tại sao chúng được gọi là các
phát biểu tối thượng. Thế thì không kinh sách khác được cần nữa - không Veda,
không Koran không Kinh thánh - Tattvamasi là đủ.
Nếu người ta thực
sự nghe đúng, suy tư, hấp thu và kinh nghiệm về một phát biểu này, không kinh
sách nào khác được cần nữa.
Phát biểu tối
cao nghĩa là phát biểu cô đọng bao quát hết thảy - tựa như công thức trong hoá
học, hay tựa như công thức tương đối của Einstein, trong đó mọi điều đều được
gói ghém trong hai hay ba từ.
Phát biểu tối
cao này là công thức cho hoá học tâm linh. Có ba điều trong đó: Tat - cái đó,
tvam - ngươi, asi - bạn. Chúng là như nhau, 'cái đó' và 'ngươi' là một, đây là
tất cả về kinh này. Nhưng toàn bộ Vedanta - triết lí của Veda - toàn bộ kinh
nghiệm của người thấy được bao quát bởi ba từ đó. Nó giống như công thức toán học:
'cái đó', sự tồn tại, Thượng đế, và 'ngươi', tâm thức ẩn bên trong bạn, không
phải là hai điều, chúng là một. Và điều này là tinh hoa của tất cả Veda, mọi thứ
khác chỉ là việc mở rộng của điều này.
Cho nên trong
Upanishad những phát biểu như vậy được mô tả là những phát biểu tối cao. Từ một
phát biểu này, triết học, bộ môn tâm linh và kinh nghiệm về toàn bộ cuộc sống được
suy ra.
Những phát biểu
như thế cần được nghe trong im lặng toàn bộ. Những phát biểu như thế không nên
nghe như người ta nghe bài hát. Phẩm chất của việc nghe phải rất khác, chỉ thế
thì những phát biểu này mới có thể đi vào lòng bạn được.
Những phát biểu
này không thể được nghe theo cách người ta nghe mọi thứ thoảng qua trên đường.
Đó là lí do tại
sao trong hàng nghìn năm những người thấy ở Ấn Độ cứ nhất quyết rằng tri thức tối
cao không nên được viết ra. Nhất quyết của họ là có giá trị. Nhưng không thể tiến
hành điều này mãi được, nó phải được viết ra. Nhưng nhất quyết không viết ra
tri thức tối thượng vẫn cứ còn dai dẳng kéo qua hàng nghìn năm. Nhiều người, đặc
biệt là các nhà ngôn ngữ, nghĩ rằng bởi vì
không có văn tự,
không có phương tiện để viết mọi thứ ra, đó là lí do tại sao Veda và Upanishad
đã không được viết ra trong thời gian lâu đến thế. Nhưng suy nghĩ của họ là
sai... bởi vì dường như là không thể nào có chuyện một người có thể đạt tới kinh nghiệm tầm cỡ Tattvamasi, người có thể
đưa ra những phát biểu tối cao từ kinh nghiệm sống của mình, không có năng lực
phát minh ra được nghệ thuật viết. Việc những người có thiên tài chạm tới những
đỉnh cao ngất như thế của kinh nghiệm mà không có khả năng phát minh ra được một
điều tầm thường như nghệ thuật viết tạo ra một cảm giác không phải.
Nghệ thuật viết
đã có đó, nhưng họ đã không sẵn lòng dùng nó. Tại sao? - bởi vì nếu những phát
biểu tối cao đó được viết ra, bất kì ai cũng có thể đọc chúng trong mọi điều kiện
không thích hợp. Và bằng cách đọc chúng, người ta có thể hình thành nên ảo tưởng
là đã hiểu được chúng - bởi vì ai đó cũng có thể đọc những phát biểu này mà
không có loại trạng thái tâm trí nào đó cần thiết cho việc đọc hay nghe chúng.
Đâu là khó khăn
trong khi đọc 'Cái đó là ngươi'? Ngay cả học sinh lớp một cũng có thể đọc được
nó. Và sau khi đọc nó, người đó sẽ rơi vào ảo tưởng đã hiểu được nó: "Tốt
thôi, mình là cái đó. Đây là điều câu này ngụ ý, và cái đó là cái đó." Thế
rồi người đó ghi nhớ điều đó, rồi người đó cứ lặp lại điều đó trong cả đời mình
- và toàn thể sự việc bị lỡ. Toàn thể mục đích của phát biểu này bị lỡ, điều bản
chất đã bị mất.
Những phát biểu
này xứng đáng được lắng nghe chỉ trong trạng thái nào đó của tâm trí, với phẩm
chất nào đó của tâm trí, ở chỗ nào đó. Chỉ thế thì chúng mới thấm vào bản thể bạn.
Có nguy hiểm trong việc nghe nó vào bất kì lúc nào, tại bất kì đâu. Nguy hiểm
đó có hai phần: một là, điều đó sẽ được ghi nhớ và người ta sẽ cảm thấy rằng
người ta đã biết về nó. Và nguy hiểm thứ hai là ở chỗ do cảm giác sai lầm về việc
biết, người ta có lẽ sẽ không bao giờ cố gắng để tạo ra trạng thái của tâm trí
mà những phát biểu này đáng phải được lắng nghe trong trạng thái đó.
Có mùa vụ, một
thời gian đặc biệt, và một khoảnh khắc thuận lợi cho việc gieo hạt. Và đây là hạt
mầm phi thường - không thể chỉ ném lung tung đi khắp mọi nơi. Đây là lí do tại
sao thầy thường thì thào chúng vào tai của đệ tử. Cố hiểu điều này đi.
Tất cả chúng ta
đều nghe nói rằng các câu mật chú điểm đạo thường phải được thì thào vào tai của
người tìm kiếm. Điều chúng ta nghĩ là ở chỗ các thầy phải thì thào những câu mật
chú nào đó vào tai đệ tử. Điều đó là vô nghĩa.
Thầy thường
trao những hạt mầm tối thượng này cho đệ tử chỉ khi đệ tử đã trở thành chỉ là
cái tai, khi toàn bộ bản thể của đệ tử đã sẵn sàng nghe, khi người đó không chỉ
lắng nghe qua tai mà bằng mọi thớ thịt trong người, khi toàn bộ bản thể người
đó có đó tụ tập đằng sau lỗ tai, khi chính linh hồn của người đó, hoàn toàn rút
ra khỏi mọi giác quan khác, đang hoà hợp đằng sau tai - thế thì thầy sẽ truyền
điều đó sang. Thầy nói mỗi điều này: Tattvamasi - 'Cái đó là ngươi'.
Từ ngữ vẫn thế,
không có gì thay đổi trong từ ngữ cả, nhưng đệ tử đang đứng trước thầy, phẩm chất
tâm thức của người đó, năng lực của tâm thức của người đó...
Và thì thào câu
mật chú vào tai như thế có ý nghĩa gì trong việc điểm đạo cho mọi người? Cho đến
tận bây giờ, không biết có bao nhiêu kẻ khờ vẫn cứ tiếp tục thì thào câu mật
chú điểm đạo vào tai của biết bao kẻ khờ khác.
Họ truyền những câu mật chú này vào tai của ai đó mà không hề bận tâm thậm
chí không hề biết 'tai' nghĩa là gì.
Không có gì
liên qua đến cái tai vẫn được gắn vào hộp sọ bạn. Điều mà cái tai ở đây được ngụ
ý là cách thức của bản thể bạn, sự cởi mở trong bản thể bạn, sự hiện diện của một
loại an bình, sẵn sàng lắng nghe, khao khát náo nức, niềm khao khát nơi toàn thể
bản thể người ta sẵn sàng lắng nghe. Thế thì thầy đơn giản rót những phát biểu
tối cao đó vào tai. Và đôi khi việc xảy ra là chính việc xuyên thấu của lời thốt
ra tối cao như thế đi vào trong đệ tử lập tức trở thành bùng nổ tối thượng của
chứng ngộ.
Có nhiều người
đã đạt tới tự chứng ngộ chỉ bởi việc lắng nghe. Ba bước kia không được cần cho
họ. Bạn sẽ ngạc nhiên mà biết rằng ba bước kia không được cần nữa, rằng chỉ bằng
cách lắng nghe mà người ta đã trở nên chứng ngộ.
Nhưng vấn đề
không dễ dàng thế đâu. Bạn có thể nghĩ, "Nếu có thể trở nên chứng ngộ chỉ
bởi việc lắng nghe, thế thì tại sao mình phải bận tâm làm cái gì khác? Chúng
tôi đang ở đây, chỉ cần thầy thốt ra điều đó cho chúng tôi và chúng tôi sẽ trở
nên chứng ngộ!"
Duy nhất những
người có thể trở nên được chứng ngộ bằng việc lắng nghe là những người có tính
toàn bộ được đầu tư vào việc lắng nghe, khi thậm chí không còn một phần của họ
bị giữ lại, khi người nghe không còn tồn tại chút nào và chỉ có hành động nghe
còn lại; khi thậm chí cảm giác là 'tôi đang lắng nghe' không còn lại, thậm chí
cảm giác 'tôi đây' không còn có đó; khi người ta đã trở thành chỉ việc nghe...
Khi chỉ quá trình lắng nghe còn lại, khi mọi thứ khác bên trong đã trở thành
hoàn toàn yên lặng, cái không, trong cái không đó, chỉ tác động này -
Tattvamasi, 'Cái đó là ngươi' - gây ra bùng nổ của bản thể... chỉ tác động này!
Nhưng một điều
nữa cũng phải tâm niệm trong kết nối này - rằng toàn bộ sự chuẩn bị về phần đệ
tử hay người tìm kiếm là ở chỗ người đó phải là cái không; nhưng đồng thời, bất
kì ai đến và thốt ra Tattvamasi, 'Cái đó là ngươi', vào tai người đó sẽ không
có tác dụng. Bất kì ai cũng có thể thốt ra điều đó; thậm chí không cần đến người
để làm điều đó, máy ghi âm cũng có thể làm công việc thốt ra điều đó.
Nhưng không, điều
này sẽ không có tác dụng. Lời nói có sức mạnh, nhưng sức mạnh đó phụ thuộc vào
người nói, nó không ở trong lời. Nó tất cả phụ thuộc vào việc những ngôn từ đó
được phát ra từ chiều sâu nào, bao nhiêu năng lượng sống được hàm chứa trong lời
đó, bao nhiêu tinh hoa của kinh nghiệm trực tiếp có trong chúng. Và người nói
ra những lời này cũng phải đã biến mất vào lúc thốt ra chúng. Người nói đơn giản
phải không có đó, tiếng vọng phải ngân lên trực tiếp từ linh hồn: Tattvamasi.
Và người nghe cũng phải không có đó, tiếng vọng phải đi thẳng tới linh hồn:
Tattvamasi, 'Cái đó là ngươi'. Tại điểm này của gặp gỡ, cho dù không làm gì nhiều,
thế cũng đủ hoàn thành mọi việc... và cách mạng xảy ra, bùng nổ xảy ra, và người
đã là dốt nát bỗng nhiên trở thành người hiểu biết.
Đã có những sự
xảy ra như thế trong lịch sử được ghi lại, khi nó đã xảy ra chỉ bằng việc nghe.
Chúng ta thấy khó tin được, bởi vì ngay cả với rất nhiều nỗ lực và việc làm điều
ấy không xảy ra cho chúng ta; chúng ta cố gắng
theo nhiều cách, nhưng dầu vậy vẫn cảm thấy rằng không cái gì xảy ra.
Khi gặp gỡ của
hai tâm thức như vậy xảy ra - nơi người nói không có mà chỉ lời được hiển lộ,
và nơi người nghe không có nhưng việc nghe xảy ra - lắng nghe là đủ để khởi sự
cho cuộc hành trình.
Nhưng trùng hợp
như vậy khó tìm thấy lắm. Cho dù trùng hợp như vậy được tìm thấy, khó dùng được
nó. Trùng hợp như thế là chuyện rất tinh tế. Cho nên đệ tử thường ở gần thầy
trong nhiều năm chờ đợi trùng hợp như vậy, khi thời gian cho một cơ hội như thế
có thể tự nó hiện diện và khi người đó cũng có thể sẵn sàng. Cho nên đệ tử phải
cần đến nhiều năm theo đuổi kỉ luật tâm linh để quen dần cách giữ yên tĩnh và
im lặng.
Svetketu đã tới
sống với thầy. Trong nhiều năm thầy thậm chí không hỏi anh ta tại sao anh ta tới.
Svetketu cũng đã cảm thấy rằng khi đúng thời điểm, thầy sẽ hỏi, cho nên anh ta
chờ đợi. Thầy không hỏi anh ta trong nhiều năm. Câu chuyện thật hay: yagyagui của
thầy, ngọn lửa thiêng liêng thường cháy suốt ngày đêm, và cái lư giữ ngọn lửa
đó – thậm chí chúng cũng trở nên không kiên nhẫn được nữa... Câu chuyện quả thực
hay: Svetketu đã tới và thậm chí havankunda – cái lư chứa ngọn lửa thiêng –
cũng bắt đầu thấy ái ngại cho Svetketu. Bao nhiêu năm đã qua từ khi anh ta tới
mà thầy vẫn không hề bận tâm thậm chí hỏi, “Điều gì khiến con tới đây?”
Svetketu chặt
và đem củi về, nhóm lửa, vắt sữa bò, nắn bóp chân thầy, và khi đêm xuống anh ta
ngủ dưới chân thầy. Tỉnh dậy vào buổi sáng anh ta lại bận rộn với hàng mớ việc
thường ngày. Thậm chí đến ngọn lửa thiêng cháy suốt hai mươi tư giờ một ngày
cũng bắt đầu cảm thấy thương hại: “Điều gì diễn ra ở đây thế nhỉ? Svetketu
không nói lời nào về phần mình, tại sao anh ta đã tới còn Uddalaka, thầy, không
hỏi tại sao anh ta đến.”
Chờ đợi như vậy,
kiên nhẫn như vậy, tĩnh lặng như vậy làm người ta tự động trở thành người lắng
nghe. Dần dần, dần dần không chỉ có lời nói của thầy mà ngay cả hơi thở của thầy
cũng có thể nghe thấy được; ngay cả nhịp tim của thầy cũng có thể nghe thấy được
trong chờ đợi như thế và im lặng như thế. Không cần thầy phải nói nữa, ngay cả
di chuyển của thầy cũng có thể nghe thấy được. Và khi đúng khoảnh khắc tới, thầy
nói. Khi đúng khoảnh khắc tới, việc nói xảy ra; thầy không phải nỗ lực gì để
nói cả, đệ tử cũng không phải cố gắng gì để biết cái gì. Tại đúng khoảnh khắc
biến cố xảy ra.
Lắng nghe là bước
tiến rất có giá trị. Bạn có thể nhớ được hai hay ba điều này: một, là bản thân
việc lắng nghe trong khi lắng nghe; quên người nghe đi, chỉ là tai thôi – được
mở rộng khắp thân thể bạn - để cho toàn bộ thân thể bạn trở thành tai lắng nghe
từ mọi hướng. Điều nữa, để có việc không suy nghĩ; để tâm trí bị cuốn hút hoàn
toàn trong việc lắng nghe và để không ý nghĩ nào thoáng qua.
Tất cả chúng ta
đều sợ rằng nếu chúng ta không nghĩ, có lẽ ai đó có thể để cái gì sai vào tâm
trí chúng ta. Ai biết được, người nào đó có thể làm tan vỡ niềm tin của chúng
ta. Cho nên chúng ta thường tham gia vào việc tự bảo vệ: mình chỉ để những thứ
có thể hữu dụng cho mình đi vào; nếu chúng không hữu dụng cho mình, mình sẽ
không cho chúng vào.
Bạn sẽ ngạc
nhiên mà biết rằng các nhà tâm lí học nói rằng nếu một trăm thứ được nói cho bạn,
tâm trí bạn khó mà để cho năm thứ trong chúng được lọt vào. Chín mươi nhăm điều
còn lại trở ra, không vào được. Và tại sao? Bởi vì niềm tin của bạn dựa trên
quá khứ, chúng được xác định trước. Ai đó là người Mô ha mét giáo, ai đó là người
Hindu giáo, ai đó là người Jaina giáo và ai đó là người Ki tô giáo. Đấy tất cả
đều bên trong bạn, chính tâm trí bạn được tích lũy từ quá khứ, ngồi đó bên
trong bạn. Toàn bộ thời gian nó vẫn đang theo dõi: nếu có gì đó hài hoà với một
số ý tưởng của bạn, làm mạnh cho chúng thế thì để nó vào. Nếu nó không thiên về
ý tưởng của bạn, nếu nó không làm mạnh thêm chúng, thế thì không cho nó vào; dừng
nó ngay bên ngoài, hoặc nghe nó theo cách dường như bạn đã không nghe chút nào;
hay nếu bạn đã nghe nó, đối lập nó ngay lập tức và mãnh liệt để nó không thể
vào nổi.
Chỉ một chút
chú ý tới tâm trí mình và bạn sẽ thấy rằng bạn cứ nói có hay không bên trong
vào mọi lúc. Ai là việc nói có hay nói không bên trong bạn? Đấy không phải là bạn,
đấy là tâm trí mà bạn đã tích lũy được từ quá khứ.
Cho nên tâm trí
chọn cái tán thành nó và bác bỏ cái chống lại nó. Đó là nhiệm vụ khó khăn: đây
là tâm trí cái cần phải bị vứt bỏ và đây cũng là tâm trí cái chọn những điều
tán thành và chống điều không tán thành – cho nên làm sao việc vứt bỏ này được
hoàn thành? Đây là tâm trí cái là kẻ thù của bạn và kẻ kiểm soát bạn, và đây
cũng là tâm trí bạn bắt đầu vứt bỏ – và nếu bạn bắt đầu vứt bỏ nó với sự giúp đỡ
riêng của nó, thế thì bạn sẽ không bao giờ có khả năng vứt bỏ nó. Chỉ một chút
xíu lo lắng, rằng cái này không hé mở cho bạn vào ánh sáng của niềm tin của bạn,
và lập tức tâm trí bạn đóng ngay cánh cửa lại. Nó nói, “Không nghe nữa,” “Vứt
béng đi,” hay “Ông cứ chống bên trong đấy.”
Chúng ta thường
hay lâm vào việc tự bảo vệ mình cứ như là trận chiến nào đó đang diễn ra. Trong
trường hợp đó sẽ không có khả năng lắng nghe nào cả, thay vì thế, xung đột được
lẩy cò. Nhưng lắng nghe không có nghĩa là chấp nhận mù quáng. Lắng nghe không
liên can gì tới chấp nhận cả. Lắng nghe phải có liên quan với việc nghe đúng điều
đã được nói.
Bước thứ hai là
manan, suy tư - sau khi nghe điều đã được nói, suy tư về nó. Suy tư về điều đã
được nói sau khi nghe nó trong tính chân thực của nó là điều kiện đầu tiên cho
suy tư. Nhưng nếu bạn chọn điều bạn thích và suy tư về chỉ điều đó thôi, đấy
không phải là suy tư, đấy chỉ là lừa dối.
Cho nên điều kiện
đầu tiên cho suy tư là ở chỗ bạn nghe mà không nói có hay không – không lên án,
không ca ngợi, không chấp nhận, không bác bỏ, không gì cả; không bình phẩm,
không đánh giá - không ủng hộ không chống đối. Bạn chỉ nghe một cách yên lặng
và tự nhiên điều đã được nói, và để cho nó chìm vào trong góc sâu thẳm nhất của
trái tim bạn để cho có thể có quen biết với nó, bởi vì suy tư chỉ có thể xảy ra
với cái mà người ta đã quen thuộc.
Đây là khác biệt
giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ được tiến hành về điều gì đó mà chúng ta còn
chưa hoàn toàn quen thuộc. Suy nghĩ là hoạt động trí tuệ với cái mới – thể dục
tâm trí. Suy tư là việc suy ngẫm về cái gì đó đã được hấp thu, cái đã được đưa
vào sâu bên trong người ta. Có khác biệt rất lớn giữa hai điều này. Suy nghĩ chứa
xung đột bên trong bản thân nó, suy tư chứa thông cảm. Trong suy nghĩ có đương
đầu, trong suy tư có ngẫm nghĩ. Và đấy là những khác biệt lớn lao. Suy nghĩ có
nghĩa là bạn đang đánh nhau với cái gì đó. Nếu bạn không có khả năng chiến thắng
thế thì bạn sẽ đồng ý với nó, nhưng sẽ có đau trong việc đồng ý đó.
Khi bạn tranh
cãi một điểm với ai đó, bạn không có khả năng biện minh về mặt logic quan điểm
của mình và bạn phải nhận thua, bạn có quan sát cái đau bạn cảm thấy bên trong
mình không? Bạn nhận thua bởi vì bạn không thể cãi thêm nữa... nhưng bên trong
thì sao? Bên trong bạn có cảm giác rằng nếu không phải hôm nay, thế thì ngày
mai, cuối cùng bạn cũng sẽ lật bàn chống lại người đó và có thể bác bỏ quan điểm
của họ.
Vậy không thể
nào biến đổi được bất kì ai trong thế giới này qua tranh biện, bởi vì tranh biện
ngụ ý thất bại. Cho dù bạn có khả năng chứng minh cái gì đó cho người kia qua
tranh biện, người đó sẽ cảm thấy bị thua – không được biến đổi, mà bị thua. Người
đó sẽ kinh nghiệm thua bại: “Thôi được, ta không thể đáp lại đúng hay tìm đúng
luận cứ hôm nay, nhưng một ngày nào đó ta có luận cứ đúng và ta sẽ tới và gặp
anh.” Người đó cảm thấy bị thua.
Và nhớ lấy, người
bị thua không phải là người được biến đổi. Bạn có thể làm cho ai đó im lặng qua
tranh biện nhưng bạn không thể biến đổi được người đó theo cách đó. Và điều đó
cũng đúng, rằng không ai sẽ trở nên được biến đổi qua tranh biện, bởi vì khi
hai người tranh cãi điều gì đó, điều đó không nhất thiết có nghĩa là người thua
trong tranh cãi là sai hay người thắng là đúng. Tất cả điều nó ngụ ý là người
thắng có thể tranh biện tốt hơn còn người thua trong tranh cãi không thể biện
minh tốt được như vậy – không nhiều hơn điều này được chứng minh.
Cho nên điều tự
nhiên là không ai đã bao giờ được biến đổi và không cuộc cách mạng nào xảy ra
trong đời người ta bằng tranh biện. Việc bị thua về tranh biện chỉ làm đau cho
bản ngã người ta, và bản ngã bị tổn thương này muốn báo thù. Tranh biện chỉ là
cuộc đấu.
Trong suy nghĩ
có vật lộn bên trong. Bất kì cái gì bạn nghĩ tới, bạn đang đánh nhau với nó; cuộc
vật lộn bên trong đang tiếp diễn. Bạn động viên tất cả kí ức quá khứ của mình
và mọi ý nghĩ quá khứ để chống lại nó. Nếu bạn vẫn bị thua bạn chấp nhận, nhưng
trong chấp nhận đó đau đớn, cay đắng, gai đâm được kinh nghiệm. Chấp nhận này
là do bất lực của bạn. Không có vui vẻ xảy ra trong chấp nhận này; đoá hoa bên
trong của bạn không nở do chấp nhận này, mà khô héo đi. Cho nên, bởi tất cả những
suy nghĩ mà mọi nhà tư tưởng đang tiến hành trên khắp thế giới, bạn sẽ không thấy
niềm vui của vị phật trên khuôn mặt họ.
Tại sao, khác
biệt là gì?
Bạn sẽ không
tìm thấy nhân cách thoải mái của Mahavira trong những người suy nghĩ. Trên
khuôn mặt của người suy nghĩ bạn sẽ thấy những nếp nhăn lo âu, không phải là
hoa của suy tư. Trên trán của người suy nghĩ những nếp nhăn sẽ hằn sâu thêm
theo thời gian. Mọi nếp nhăn trên trán sẽ được phát biểu sâu sắc – sau tất cả
những gì người đó đã làm lụng vất vả trong cả đời. Nhưng cái xảy ra cho một Phật
hay một Mahavira, việc nở hoa đó sẽ không được thấy. Suy nghĩ là gánh nặng, bạn
bị oằn lưng mang nó. Người suy nghĩ trông lo âu. Không có khác biệt về chất giữa
suy nghĩ và lo lắng. Mọi suy nghĩ đều là một dạng của lo lắng. Bất ổn ẩn giấu đằng
sau nó, căng thẳng, bởi vì có vật lộn bên trong, xung đột, trận chiến. Cho nên
người suy nghĩ theo thời gian người đó trở nên già đi, oằn lưng bởi sức nặng, bởi
sức nặng vô cùng của suy nghĩ của người đó.
Hiện tượng ngược
lại xảy ra với Phật và Mahavira. Khi họ càng già đi, cái gì đó bên trong họ cứ
trở nên trẻ trung hơn; cái nhìn tươi tắn của họ tăng lên.
Đây là khác biệt
giữa suy nghĩ và suy tư.
Suy nghĩ bắt đầu
với logic, suy tư bắt đầu với lắng nghe. Suy nghĩ bắt đầu với vật lộn, suy tư bắt
đầu với lắng nghe. Lắng nghe là cảm nhận, nơi không có vật lộn. Đây là khác biệt
giữa suy nghĩ và suy tư. Suy nghĩ bắt đầu với xung đột bởi vì cơ sở của nó là
trong logic. Không có thông cảm ở đó; đối lập, thù địch, tranh biện là cơ sở của
nó. Chính sự kiện suy tư bắt đầu bằng lắng nghe chỉ ra thông cảm là cơ sở ở đó.
Thông cảm nghĩa
là gì? - cân nhắc đồng cảm. Bất kì cái gì chúng ta đang nghĩ, hay trong bất kì
kết nối nào chúng ta đang nghĩ, chúng ta làm như vậy với tình yêu và đồng cảm lớn
lao.
Cái gì là khác
biệt về chất giữa suy nghĩ và suy tư? Khi bạn đang xem xét điều gì đó với đồng
cảm, toàn thể ước muốn bên trong của bạn là cảm thấy rằng, “Bất kì điều gì mình
đã nghe đều có thể đúng. Và nếu nó đúng, nó có thể có ích cho mình nữa chứ?”
Cho nên trước hết bạn cố gắng tìm những điểm đúng. Khi bạn suy nghĩ, bạn bắt đầu
từ niềm tin rằng bất kì điều gì bạn đã nghe đều sai, cho nên trước hết bạn cố
tìm ra những điểm sai.
Hiểu điều đó
theo cách này. Một người đang đứng gần một luống hoa hồng: nếu người đó đang
nghĩ, người đó trước hết sẽ đếm gai; nếu người đó đang suy tư, trước hết người
đó sẽ đếm hoa hồng. Điều này tạo nên khác biệt nền tảng - bạn bắt đầu từ đâu.
Một người trước
tiên đếm gai, thái độ đối lập của người đó là hiển nhiên. Người đó trước tiên sẽ
đếm gai, và hàng nghìn gai sẽ được tìm thấy. Và trong khi đếm gai, một số gai sẽ
đâm vào tay người đó, máu sẽ chảy ra. Việc bị đâm bởi gai ấy, số gai và máu chảy
từ tay người đó, tất cả sẽ trở thành cơ sở cho sự đối lập với hoa hồng. Và khi
người đó đã đếm hàng nghìn chiếc gai và có thể một hay hai hoa hồng sẽ được thấy,
tâm trí người đó sẽ nói, “Những hoa này chỉ là lừa dối, chúng không thật, bởi
vì nơi có nhiều gai thế, làm sao hoa có thể thanh tao được? Đây là ảo tưởng.”
Điều đó là tự
nhiên, điều đó sẽ cho cảm giác đúng. Nơi có nhiều gai thế, gai có khả năng gây
ra chảy máu, làm sao những hoa này có thể nở ở đấy được? Điều đó là không thể
được. Và cho dù người đó có đồng ý rằng quả là có hoa ở đó, người đó sẽ nói,
“Chúng không có giá trị gì; giữa hàng nghìn cái gai một hai đoá hoa có giá trị
gì? Dường như đấy là âm mưu của những chiếc gai, để cho hàng nghìn cái gai vẫn
còn trong thế giới với cái cớ chỉ để có một đoá hoa. Đây là lừa dối. Hoa này là
mặt nạ che cho gai. Hoa này là kẻ tham dự vào âm mưu của chúng.”
Người bắt đầu
suy tư về hoa trước hết sẽ chạm vào hoa. Bàn tay người đó tràn đầy hương thơm của
hoa, mắt người đó sẽ được tràn đầy mầu sắc của hoa. Vẻ thanh tao của hoa sẽ
sawcn có cho cái chạm của người đó, cái đẹp của hoa sẽ vây quanh người đó từ mọi
phía. Thế rồi người đó sẽ tiến tới gai - sau khi đã thấy hoa, sau khi đã biết
và sống với hoa, người đó đã rơi vào tình yêu. Bây giờ khi người đó tiến tới
gai, chúng sẽ có phẩm chất hoàn toàn khác.
Người tiếp cận
tới gai sau khi hiểu hoa sẽ hiểu rằng gai là để bảo vệ hoa - chúng không phải
là kẻ thù của hoa, chúng không chống lại hoa. Cùng dòng nhựa cây chảy tới hoa
cũng chảy tới gai. Và gai là để bảo vệ hoa. Người thấy được hoa, người đã có khả
năng thấy được hoa một cách đúng đắn cho dù chỉ một hoa... cả nghìn gai cũng sẽ
mất tầm quan trọng với người đó, bởi vì sự hiện diện của một hoa là đủ đưa cả
nghìn gai thành không quan trọng. Và nếu một hoa có thể nở giữa bao nhiêu là
gai đó là phép màu không thể có được; thế thì điều không thể cũng có thể xảy
ra. Và nếu một hoa có thể nở giữa biết bao nhiêu gai nhọn, người đó sẽ thấy một
điểm là nếu người đó nhìn sâu hơn, có lẽ những gai đó cũng có thể chứng tỏ
không gì ngoài hoa.
Suy tư bắt đầu
với đồng cảm, suy nghĩ bắt đầu với đối lập. Nếu hoàn cảnh lắng nghe được đáp ứng
đồng cảm được nảy sinh.
Nếu đồng cảm được
nảy sinh, chính dòng suy nghĩ quay một trăm tám mươi độ và trở thành suy tư.
Suy tư không có nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng. Cho nên người thấy đã
nói: ... theo đuổi hợp lí ý nghĩa của bất kì cái gì đã được nghe chính là
manan, suy tư.
Không ai cần phải
nghĩ rằng suy tư nghĩa là chấp nhận một cách mù quáng. Lắng nghe không có nghĩa
là chấp nhận mà suy tư không có nghĩa là chấp nhận, lí trí phải được dùng.
Nhưng việc dùng
lí trí cũng thay đổi. Lí trí bản thân nó là trung lập. Chẳng hạn, có một lưỡi
kiếm trong tay tôi... Bây giờ lưỡi kiếm là trung lập: nếu tôi muốn tôi có thể lấy
mạng của ai đó hoặc tôi có thể cứu mạng ai đó - lưỡi kiếm là trung lập. Lí trí
là trung lập, nhưng có các mẫu hình khác, và tác động của lí trí có thể thay đổi.
Nếu tâm trí đầy những thù nghịch, đối lập và đương đầu, lí trí trở thành bạo
hành. Nếu tâm trí tràn đầy đồng cảm, lắng nghe, tình yêu, tìm kiếm và khát khao
chân lí, lí trí trở thành một lưỡi kiếm bảo vệ. Lí trí trong nó là không xấu.
Cho nên ở nước
này chúng ta đã chấp nhận hai kiểu lí trí: một, lí trí tích cực; kiểu kia, lí
trí tiêu cực. Lí trí tiêu cực cũng là lí trí. Đôi khi lí trí tiêu cực thậm chí
dường như còn logic hơn lí trí tích cực, bởi vì lí trí tiêu cực có góc cạnh,
góc cạnh sắc nét, cái có khả năng cắt đứt và giết chết.
Cho nên lí trí
tiêu cực đôi khi dường như là logic sâu sắc. Làm sao bạn phân biệt được cái gì
là lí trí tích cực và cái gì là lí trí tiêu cực? Đây là khác biệt: rằng nếu lí
trí là trong việc đi tìm cái thiện và chân lí - nó đầy đồng cảm, bắt đầu từ hoa
và thế rồi chuyển tới gai...
Khi tôi nói điều
gì đó với bạn, quan sát từ chỗ bạn bắt đầu. Tôi ngạc nhiên bao nhiêu lần: tôi
nói liền một giờ, thế rồi sau đó ai đó đến với tôi và bất kì điều gì tôi đã nói
trong giờ này đã không tới được người đó, người đó bị mắc vào trận chiến chống
lại chỉ một điều. Người đó vớ lấy một điểm và đi tới đối lập với nó. Bất kì cái
gì khác đã được nói trong giờ này người đó đều không nhớ, chỉ quẩn quanh với một
điều tí hon này. Và cả điều ấy nữa người đó dứt nó ra ngoài hoàn cảnh của nó.
Nó có nghĩa trong hoàn cảnh này; bị dứt ra khỏi hoàn cảnh nó sẽ mang một ý
nghĩa hoàn toàn khác. Nhưng người đó chỉ nghe điều đó. Người đó phải đã sẵn
sàng chỉ cho điều đó thôi. Người đó phải đã chuẩn bị để tìm ra cái gì đó sai ở
đâu đó.
Nếu bạn đang
nghe tôi chỉ để tìm ra cái gì đó sai bạn sẽ không bao giờ có khả năng chuyển
vào trong suy tư được.
Nhớ lấy, dù bạn
có thể phát hiện ra bao nhiêu cái sai, điều đó không bao giờ trở thành sự giúp
đỡ cho trưởng thành bên trong của bạn. Bạn có thể chỉ ra bao nhiêu vị trí của mọi
cái sai rõ ràng thế nào cũng không thành vấn đề - bạn có thể đi tới biết mọi
cái sai trên toàn thế giới - vẫn không trưởng thành bên trong nào có thể xảy ra
cho bạn qua nó.
Người đang tìm
kiếm và quan tâm tới trưởng thành của mình không bận tâm tới việc tìm ra cái gì
là sai, người đó bận tâm tìm ra cái gì là đúng. Người đó bắt đầu với cái đúng.
Và người bắt đầu với cái đúng một ngày nào đó có thể đạt tới điểm từ đó người
đó hiểu ra rằng cái dường như sai cũng có nghĩa nào đó, cũng có giá trị nào đó.
Vậy điều dường như sai trước đây có thể dường như đúng sau này. Khác biệt chỉ
là ở chỗ nhấn mạnh.
Lí trí tiêu cực
tìm kiếm cái sai, nó bắt đầu cuộc hành trình từ đó. Lí trí tích cực bắt đầu với
cái đúng.
Bạn đưa Koran
cho ai đó đọc; nếu người đó là người Hindu, người đó sẽ không thấy gì có ý
nghĩa trong Koran, mọi thứ trôi qua không được người đó chú ý. Người đó sẽ gạch
dưới ngay mọi cái không đúng theo người đó, rồi đem đoạn kinh đến cho bạn và
nói, “Trông đây này! Tôi luôn luôn nói rằng Koran không phải là kinh sách tôn
giáo!” Hay bạn đưa Gita cho người Mô ha mét giáo, người đó cũng sẽ chỉ ngay
đích xác cái gì là sai trong đó. Và nếu bạn muốn học nghệ thuật này, học nó từ
nhóm chính thống Hindu, nhóm Arya Samajis. Họ là các chuyên gia trong việc tìm
ra cái gì sai và sai ở đâu. Không người nào khác chuyên gia được như họ. Giữ
tâm trí đừng trở thành như người Arya Samaji đi, chỉ thế thì suy tư mới có thể
trở nên có thể được. Bằng không suy tư là không thể được bởi vì bạn vẫn đang
tìm kiếm cái sai, và cái sai sẽ được tìm thấy đầy. Sau rốt, đâu là sự hiếm hoi
của gai? Nhưng gai phục vụ cho mục đích gì? Bạn có định chuẩn bị một vòng gai
không, và đeo nó quanh cổ mình không?
Mục đích, mối
quan tâm là với hoa, không phải với gai. Cho nên nếu có lí trí tích cực, hoa sẽ
được lượm lặt từ
Koran nữa - và
những hoa này không thua kém gì hoa của
Gita. Nếu có lí
trí tích cực, hoa sẽ được nhặt từ trong Gita nữa - và những hoa này cũng không
thua kém gì hoa trong Koran hay Kinh thánh cả.
Người suy tư là
đang tìm kiếm hoa, người suy nghĩ đang tìm kiếm gai. Bạn phải tự mình quyết định.
Nhưng nhớ một điều, rằng bạn sẽ trở nên bị bao bọc bởi những cái bạn đang tìm
kiếm.
Nếu bạn tìm
gai, bạn sẽ được bao quanh bởi gai, nếu bạn tìm hoa, bạn sẽ được bao quanh bởi
hoa.
Cho nên nhớ rằng
bằng cách tìm kiếm gai bạn không làm hại bất kì ai ngoài bản thân mình, bởi vì
bạn sẽ nhận được điều bạn tìm kiếm. Cuộc sống trở thành địa ngục bởi vì bạn bị
vây quanh bởi mọi người sai; không ai dường như là người đúng. Và không phải bởi
vì không có người đúng mà bởi vì việc tìm kiếm của bạn hướng về những người
sai.
Bạn nói với ai
đó rằng người nào đó là người thổi sáo kì tài. Người đó liền nói, “Nó biết thổi
sáo gì? Nó là thằng ăn cắp, kẻ bịp bợm. Làm sao nó có thể thổi sáo được?”
Bây giờ mâu thuẫn
nào tồn tại giữa kẻ ăn cắp hay kẻ bất lương và người thổi sáo? Người đó có thể
là bất lương, nhưng ai nói rằng kẻ bất lương không hay không thể thổi sáo được?
Ai tạo ra liên hệ này? Trong kẻ ăn cắp, hoa thổi sáo cũng có thể nở chứ. Trộm cắp
là gai, thổi sáo sẽ là hoa. Khi hoa có thể nở giữa gai, tại sao kẻ cắp không thể
thổi sáo được?
Nhưng không, điều
ấy làm hại tới việc chấp nhận rằng ai đó có thể làm điều gì đó tốt. Chúng ta lập
tức sẽ kết án người đó: “Nó là kẻ cắp, kẻ bất lương - làm sao nó có thể thổi
sáo được?”
Thái độ của người
đang suy tư sẽ khác. Nếu bạn nói với người đó rằng một người thế nọ thế kia là
kẻ bất lương và kẻ cắp, người đó sẽ nói, “Có thể, nhưng người đó là người thổi
sáo cực hay.”
Đây là khác biệt
của chọn lựa. Và khi một người thổi sáo tuyệt vời đến vậy, ngay cả việc là kẻ cắp
hay là kẻ bất lương của người đó bắt đầu trở nên đáng ngờ. Khi một người là kẻ
cắp hay kẻ bất lương như thế, khả năng thổi sáo của người đó bắt đầu trở nên
đáng ngờ. Bất kì cái gì chúng ta bám chặt vào, nó ảnh hưởng đến thứ khác nữa.
Cái gì là nhu cầu
xác định xem một người là bất lương hay kẻ cắp? Nếu chúng ta muốn hàng xóm mình
là kẻ cắp và bất lương, thế thì chúng ta sẽ tìm thấy người đó là vậy. Hay nếu
chúng ta muốn hàng xóm mình là người thổi sáo giỏi, chúng ta nên nhìn về điều
đó. Trong cuộc sống cả hai điều đều có đó. Đêm có đó, ngày cũng có đó; và cái tốt
có đó, cái xấu cũng có đó.
Đừng nghĩ rằng
cõi trời ở đâu đó bên ngoài trái đất này hay rằng địa ngục là ở đâu đó xa xôi với
trái đất này; nó là trong mắt bạn thôi. Trên ngay chính trái đất này mọi người
sống trong cõi trời, và cũng ngay chính trên trái đất này mọi người đang sống
trong địa ngục. Điều bạn tìm kiếm trở thành thế giới của bạn.
Suy tư bắt đầu
cuộc hành trình với hoa - với đồng cảm. Nó không vội vã tấn công vào vào cái
sai, trước hết nó đồng hoá cái đúng. Và khi cái đúng được đồng hoá hoàn toàn,
chỉ thế thì nó phản ánh điều đã dường như là sai trong quan sát thứ nhất.
Và nhớ lấy,
khác biệt thực của biến chuyển này trong thái độ chỉ bắt đầu được thấy về sau.
Người suy tư trưởng thành dần, đâm chồi dần; đồng hoá cái đúng, bản thân người
đó trở thành đúng. Và người thường xuyên tìm kiếm cái sai, thường xuyên đồng
hoá cái sai, bản thân người đó trở thành sai. Người thấy chỉ bất lương, trộm cắp
và sai sót ở người khác không thể vẫn còn là người lương thiện lâu dài được. Sự
thực là ở chỗ người như vậy không thể là người lương thiện ngay chỗ đầu tiên.
Thực tại kẻ cắp
không thể tin được người khác không là kẻ cắp - hay có thể là kẻ cắp? Không,
người đó không bao giờ tin người khác không là kẻ cắp. Chính mẫu hình suy nghĩ
của kẻ cắp trở thành mẫu hình kẻ cắp. Người đó lập tức tìm và thấy phẩm chất kẻ
cắp trong người khác nữa. Kẻ đồi bại không thể tin được rằng bất kì người nào
có nhân cách. Người đó không thể chấp nhận được việc đó. Chính kinh nghiệm của
người đó trở thành cản trở trong việc tin vào điều đó.
Đây là điều rất
thú vị: không kẻ đồi bại nào có thể tin rằng ai đó là vô dục. Người đó đơn giản
không thể tin được! Điều này là phải thôi, bởi vì nếu ai đó thực sự vô dục, người
đó nữa cũng không thể tin rằng ai đó khác có thể bị đồi bại. Nhưng điều thú vị
là ở chỗ không chỉ người đồi bại không bao giờ tin rằng bất kì ai là vô dục, mà
người vô dục cũng không tin rằng bất kì ai là người vô dục.
Thế thì đây là
sự việc rất có vấn đề. Kẻ đồi bại không tin rằng bất kì ai có thể là vô dục là
điều logic, bởi vì “Khi mình đã không có khả năng là người như thế, làm sao bất
kì ai khác có thể như thế được?” Nhưng khi người vô dục cũng không sẵn sàng tin
rằng người khác có thể là vô dục, tình huống của người đó trở nên đáng ngờ; thế
thì người đó nữa không phải là vô dục. Kinh nghiệm bên trong riêng của người đó chỉ là ở chỗ mọi người đều nói
chuyện về vô dục, vân vân những thứ như thế chỉ là hời hợt, có đồi bại bên
trong. Người đó, do đó, không tin nữa.
Nếu bạn bắt gặp
bất kì thánh nhân nào, người coi những người khác là phi thánh, bạn có thể chắc
chắn rằng bản thân người đó chưa có khả năng trở thành thánh được. Chính ý
nghĩa của việc trở thành thánh là ở chỗ, đối với người đó, toàn bộ thế giới đều
trở thành thánh ngay lập tức. Đối với người đó toàn bộ mọi thứ đã thay đổi, bởi
vì góc nhìn của người đó đã thay đổi. Khi người ta trở thành thánh nhân bên
trong, tại mọi nơi trên thế giới này người đó đều thấy tính thánh thiện, tính tốt
lành, bởi vì cái ở bên trong là cái được thấy ở bên ngoài.
Nếu bạn đang chỉ
thấy cái xấu trong mọi người, nếu trong mọi người bạn thấy kẻ cắp, sự bất lương
và ác, thế thì gạt chúng sang bên đi và lo về bản thân bạn ngay đi. Điều được
thấy bên ngoài là bên trong bạn đấy. Đó là cái bạn có khả năng thấy. Đó là cái
được thấy ngay, bởi vì cái đó rơi vào hoà điệu với cái bên trong ngay lập tức.
Suy tư bắt đầu
với phía sáng của cuộc đời. Suy nghĩ bắt đầu với phía tối của cuộc đời. Nếu bạn
có thể nhớ được điều này, lí trí vậy sẽ là điều kì diệu; thế thì suy nghĩ và
logic sẽ rất có ích. Thế thì lí trí có thể được dùng toàn tâm toàn ý. Và thế
thì lí trí sẽ không có hại, nó trở thành có ích, thân thiện.
Việc thiết lập
tâm trí ông trong ý nghĩa không thể nghi ngờ được đạt tới được qua việc lắng
nghe và suy tư này, việc làm hoà hợp với nó là nididhyasan, hấp thu.
Bạn lắng nghe
phát biểu tối cao ‘Cái đó là ngươi’, bạn là Brahman. Bạn lắng nghe nó toàn tâm
toàn ý, thế thì với đồng cảm bạn suy nghĩ về nó, ngẫm nghĩ về nó, tìm kiếm ý
nghĩa đúng đắn của phát biểu này, nhiều, nhiều kết luận của nó. Bạn đã dò tìm
chiều sâu cố hữu của nó từ nhiều, nhiều góc độ, chạm chúng, nếm chúng, đắm chìm
bản thân mình trong chúng, suy tư và thế rồi thấy rằng điều đó là đúng.
Nó chắc chắn được
thấy là đúng bởi vì những người đã nói nó đều đã nói nó sau khi đã đạt tới nó.
Đây không phải là kết luận được đạt tới bởi những người suy nghĩ, đây là lời của
những người đã trải nghiệm. Đây không phải là phát biểu của những người đã suy
nghĩ và suy nghĩ và thế rồi quyết định nó là như vậy, đây là điều gợi ý từ những
người đã biết nó, đã đắm chìm trong nó và đã tìm ra.
Họ nhất định
tìm ra. Nếu lắng nghe và suy tư kĩ, họ dứt khoát sẽ tìm ra nó là đúng. Nếu nó
đúng, thế thì trở nên được hoà hợp với nó là nididhyasan, hấp thu. Nếu đúng là
“Tôi là Brahman,” thế thì bắt đầu sống như Brahman là nididhyasan, hấp thu.
Trong việc làm của bạn, trong hành vi của bạn, trở nên được hoà hợp từ mọi
phía; thế thì làm nỗ lực để cho vẫn còn không phân tách giữa bạn và cái là
đúng, bởi vì nếu phát biểu này là đúng, thế thì “tôi bị sai lầm.”
Chỉ có hai khả
năng: hoặc bạn đúng, thế thì phát biểu này là sai; hoặc nếu phát biểu này là
đúng thì bạn là sai. Và giả định thông thường của chúng ta là gì? Cố hiểu điều
này một chút. Giả định của chúng ta bao giờ cũng là “mình là đúng.” Đây là vấn
đề của chúng ta. Cái rắc rối, cái lo âu, cái buồn khổ lớn nhất của cuộc đời
chúng ta là ở chỗ chúng ta hành động với niềm tin rằng “mình là đúng.” Đây là
điểm bắt đầu của chúng ta trong mọi thứ, rằng “mình là đúng.” Chúng ta kiểm tra
mọi thứ dựa trên cơ sở này. Đây là hòn đá thử của chúng ta, rằng “mình là
đúng.” Bây giờ bất kì cái gì không khớp với bạn đều là sai.
Vấn đề này phải
được quyết định, người tìm kiếm phải quyết định rằng ý nghĩ ngu xuẩn này “mình
là đúng” không trở thành bước khởi đầu. Nếu bạn là đúng, không tìm kiếm nào là
cần.
Điều này rất
thú vị. Một người đàn bà hôm qua lại chỗ tôi: cô ấy bảo tôi rằng quãng hai mươi
năm trước đây cô ấy đã được một swami điểm đạo, rằng luồng hoả xà kundalini
cũng đã thức tỉnh nhưng không có an bình chút nào, cô ấy rất bất ổn.
Nếu luồng hoả
xà đã thức tỉnh, làm sao bất ổn này có đó được? Và nếu bất ổn có đó, xin chấp
nhận rằng luồng hoả xà vẫn còn đang ngủ và không thức tỉnh.
Nhưng không,
người ta đồng thời nói từ hai phía. Nếu bạn là đúng, nếu bạn nghĩ bạn biết, thế
thì chẳng cái gì còn lại để tìm kiếm, vấn đề xong rồi. Mọi người đều hành động
với tự phụ rằng “mình là đúng,” và rồi nói, “tôi muốn đi tìm chân lí.” Nếu một
người đi tìm chân lí, quyết định phải rõ ràng trước ý thức là “tôi không biết.”
Chỉ như thế thì mới có thể tìm kiếm được. Khi tôi không biết, việc đi vào chân
lí của tôi mới là điều có thể; nếu tôi biết từ ngay ban đầu thì bản thân chân
lí sẽ dường như sai, bởi vì khi một người biết niềm tin rằng mình biết, người
đó không bao giờ thấy được chân lí như nó vốn có.
Chính cách làm
việc của tâm trí là ra đi với giả thiết rằng “mình là đúng” - ý tưởng của tôi,
quan điểm của tôi, tôn giáo tôi, kinh sách của tôi là đúng. Nếu bạn bắt đầu từ
“mình là đúng,” thì không cần gì phải bắt đầu hết cả; bạn đã đạt tới đích, bạn
không cần tạo rắc rối bây giờ nữa. Mà bạn sẽ tìm đâu ra được mục tiêu? Bạn đang
đứng trên mục tiêu rồi. Bạn là mục tiêu.
Điều này phải
được làm rõ ra: nếu cái điên khùng về “tôi biết” đã từng chiếm lĩnh người ta, vấn
đề xong rồi, không tìm kiếm gì cần được tiến hành.
Chính ý nghĩa của
việc tìm là ‘tôi không biết.” Có khổ sở, phiền não, đau đớn và căng thẳng: “Tôi
đang có vấn đề, bị bệnh, và bị bao quanh bởi bệnh của tôi; tôi không là gì ngoài
tổ hợp của tất cả những bệnh này.” Ra đi với niềm tin như thế là tìm kiếm.
Và đây cũng là
thực tại nữa. Bạn không là gì khác hơn một tổ hợp những bệnh - một bọc chứa đủ
loại bệnh. Và mọi người đều là nhà phát minh, người đó phát minh ra bệnh riêng
của mình. Và ngay cả bên trong những bệnh này, người đó vẫn khăng khăng trong cảm
giác rằng “mình là đúng.”
Hấp thu nghĩa
là: người ta thấy rằng phát biểu tối cao này là đúng. Người ta lắng nghe, suy
ngẫm về nó và thấy rằng nó là đúng. Tâm trí đã thấy ra sự kiện về cái đúng của
nó, tâm thức đã bắt đầu nhận ra sự kiện về cái đúng của nó; bây giờ việc tạo
khuôn bản thân bạn theo điều đó chính là hấp thu - bắt đầu sống với cái tỏ ra
là đúng.
Và nhớ lấy, một
khi cái gì đó được thấy là đúng, thế thì không có gì khó khăn trong việc sống
nó. Khoảnh khắc nó được thấy việc sống bắt đầu. Ai đưa tay vào lửa một cách có
chủ ý? Chỉ trong dốt nát tay mới đưa vào lửa. Ai làm điều xấu một cách có chủ
ý? Chỉ trong dốt nát điều xấu mới được làm. Ai mời chào điều điên khùng một
cách có chủ ý? Chỉ trong dốt nát điên khủng mới được mời vào. Một khi bạn bắt đầu
thấy được cái gì là đúng, chính thoáng nhìn đó sẽ bắt đầu biến đổi bạn từ bên
trong - mọi rung động của bạn sẽ dần bắt đầu hài hoà với điều bạn đã thấy.
Hoà điệu này,
điều hoà này được gọi là hấp thu.
Ngay cả sau điều
này, nếu hài hoà không xảy ra hay nó dường như khó khăn, người tìm kiếm bây giờ
biết rằng khó khăn là thuộc về phần mình. Cho nên người đó làm tan chảy mình
thêm nữa. Nếu cuộc hành trình dường như là phức tạp, người đó biết rằng đấy là
cái phức tạp của mình. Cho nên người đó cố gắng gỡ rối bản thân mình.
Nhưng nếu người
này bắt đầu với khái niệm về việc
mình đúng lấy hai bước và không thấy kết quả gì tới, người đó nghĩ rằng khái niệm
‘Ngươi là cái đó’ bản thân nó là sai... cho nên từ bỏ nó.
Mọi người tới
tôi... hôm qua một người bạn tới: anh ta đã thiền lần đầu tiên ngày hôm qua, và
ngày hôm qua anh ta nói với tôi rằng không có gì xảy ra cả.
Có giới hạn cho
ngu xuẩn của con người không? Trong thế giới này ngu xuẩn và Brahman là hai điều
duy nhất dường như vô giới hạn; dường như không có giới hạn cho chúng.
Anh ta mới chỉ
tới đây hôm qua, lần đầu tiên. Buổi sáng anh ta phải đã nhảy lên nhảy xuống
chút ít, và buổi trưa anh ta tới tôi nói rằng không cái gì đã xảy ra tới lúc
đó. Anh ta nói, “Dường như không có bản chất gì trong phương pháp này cả. Không
cái gì xảy ra cho tôi cho tới giờ.”
Tôi hỏi anh ta
rằng anh ta đã thực hiện phương pháp này được bao nhiêu kiếp rồi.
Người đó nói,
“Tôi mới tới hôm nay. Không có vấn đề đến các kiếp khác.”
Cho phương pháp
này ít ra cũng một cơ hội nhỏ để làm việc đi. Có chút ít khoan dung về phương
pháp đi, cho nó một cơ hội nào đó.
Con người ra đi
với giả định bản thân mình là đúng. Cho nên bất kì chỗ nào bất kì khó khăn nào
xuất hiện, người khác phải sai. Người đó giữ cái đúng của mình không suy suyển
và tiến hành cuộc hành trình. Thế thì bạn sẽ phải lang thang hết lần sinh này đến
lần sinh khác; không cái gì sẽ gắn lại với nhau, bởi vì hoà hợp là nỗ lực lớn.
Nó sẽ không xảy ra như vậy, bởi vì những ước định của kiếp nọ đến kiếp kia ở
trong nền tảng; bạn sẽ phải phá vỡ chúng. Cho dù bạn tới xem hôm nay - bỗng
nhiên, rõ ràng, trong một khoảnh khắc - cái gì là đúng, dầu vậy chân bạn vẫn
đưa theo thói quen bước; thân thể bạn có thói quen, tâm trí bạn có thói quen,
có mạng lưới dài những thói quen.
Mạng lưới đó sẽ
không bị phá vỡ đột nhiên hôm nay đâu.
Người ta sẽ phải
làm việc vất vả để phá vỡ mạng lưới đó.
Vấn đề không phải
là ở phương pháp, vấn đề là về bạn. Bất kì phương pháp nào cũng có tác dụng,
nhưng bạn... Chú ý về nó đi, toàn thể cuộc đời chúng ta là thói quen. Từ việc
nhỏ cho tới việc lớn, mọi thứ đều là thói quen. Có một hàng dài những thói quen
này và ý thức của chúng ta được huấn luyện để trôi theo gắn bó vào và đi theo
cùng lối mòn. Cho dù bỗng nhiên hôm nay chúng ta thấy rằng con đường cũ là sai,
con đường mới phải được tạo ra để đi theo nó. Và nhớ lấy, bạn sẽ phải tạo ra lối
mòn sâu hơn lối mòn cũ cho dòng suối lấy con đường mới, để thay đổi sang con đường
khác. Nhưng chỉ bằng suy nghĩ của bạn rằng điều gì đó là đúng, không cái gì sẽ
được giải quyết.
Hấp thu nghĩa
là bất kì cái gì đã được lắng nghe và được hiểu là đúng, cuộc đời người ta cũng phải được biến đổi
tương ứng. Sẽ cần có thời gian để hài hoà với nó. Tâm trí sẽ tạo ra cản trở,
thân thể sẽ tạo ra chướng ngại - tất cả những thứ này sẽ xảy ra. Nhưng một khi
con đường đúng đã được thấy thế thì cần có dũng cảm để ném bản thân bạn hoàn
toàn, theo mọi khía cạnh, vào cuộc hành trình này. Thế thì ngồi lại sẽ không có
tác dụng.
Nếu ngôi sao dẫn
đường đã được thấy - dù nó có thể xa xôi đến đâu - nếu ngôi sao đã được thấy,
thế thì lao tới cuộc hành trình đi. Và đừng bắt đầu nghĩ rằng bây giờ bạn đã bước
một bước và bạn còn chưa đạt tới được ngôi sao, rằng bạn đã bước hai bước và bạn
vẫn chưa tới được ngôi sao. Đừng bị bận tâm. Cho dù với hai bước này, bạn cũng
đã tới gần hơn; hai bước này bạn đã qua không phải là điều nhỏ. Có nhiều người
đơn giản ngồi lì đấy suốt cả đời; họ thậm chí chưa buồn đứng dậy, họ đơn giản
đã quên mất rằng người ta thậm chí còn phải đứng lên, rằng người ta thậm chí
còn phải bước.
Phật đã nói, cứ
bước đi. Không có bận tâm về những sai lầm bạn có thể phạm phải. Rằng bạn bước
đi là đủ. Bạn đã bước đi, bạn đã phạm sai lầm, chúng ta sẽ sửa chúng. Bạn đi lạc
lối - đừng lo, ít nhất chân bạn cũng đã làm chuyển động nào đó. Hôm nay bạn lạc
đường, ngày mai bạn sẽ quay lại theo đường đúng. Phật nói, chỉ có một sai lầm
và đó là việc bạn không bước chút nào mà cứ tiếp tục ngồi lì đấy.
Mặc dầu người
ngồi đấy không bao giờ phạm phải sai lầm nào. Làm sao người ta có thể phạm phải
sai lầm khi chỉ ngồi lì một chỗ? Trong thế giới này sai lầm bị mắc phải bởi những
người chuyển động, những người làm cái gì đó.
Làm sao những
người không làm gì và những người chỉ ngồi đấy phạm phải sai lầm được? Họ là những
người tuyệt đối không sai lầm. Nhưng chỉ có một sai lầm thực duy nhất trong thế
giới này là cứ ngồi yên một chỗ.
Đứng dậy và đi
vào cuộc hành trình của điều cảm thấy là đúng đi. Cho dù nó tỏ ra sai vào ngày
mai, ít nhất vẫn có một điều lợi, là bạn đã học bước đi. Và một khi bạn đã học
bước đi, ngày mai hướng đúng cũng có thể được tìm thấy. Hướng đi không phải là
điều thực, cái thực là khả năng đi, năng lực bước đi.
Nididhyasan, hấp
thu, là nỗ lực để trở nên hoà hợp. Nó là một từ kì diệu.
Việc thiết lập
tâm trí ông trong ý nghĩa không thể nghi ngờ được đạt tới được qua việc lắng
nghe và suy tư này, việc làm hoà hợp với nó là nididhyasan, hấp thu.
Bây giờ tâm trí
chúng ta nên trở nên hoà hợp với bất kì cái gì đã được hiểu thông qua lắng
nghe. Không nên vẫn còn như một thoáng nhìn, nó nên trở thành toàn bộ tâm trí của
chúng ta. Nó không nên còn lại là một ý nghĩ trong nhiều ý nghĩ, nó nên trở
thành chính tâm trí chúng ta.
Chẳng hạn, một
người nhân tính chất sannyas, người từ bỏ. Bây giờ tính chất sannyas có thể được
nhận khi nó là quyết định trí tuệ, ý tưởng; nó dường như đúng, nó có nghĩa -
cho nên người ta lấy tính chất sannyas. Nhưng nó vẫn chỉ là một ý nghĩ trong
tâm trí, cũng như có hàng nghìn ý nghĩ khác, cho nên chưa hoà hợp nào sẽ được
sinh ra. Dần dần, dần dần mầu sắc của cái đã đi vào người ta như một ý nghĩ
riêng lẻ sẽ lan trên mọi ý nghĩ.
Điều được ngụ ý
trong việc nói lan rộng trên tất cả các ý nghĩ là ở chỗ ngay cả trong khi ăn bữa
ăn... cũng phải có khác biệt nổi bật giữa một sannyasin ăn và một phàm nhân ăn.
Cái đượm mầu của sannyas thậm chí còn phải lan rộng trên hành động ăn.
Sannyasin phải ăn theo cách dường như là người đó không ăn, sannyasin phải bước
đi theo cách dường như người đó không bước đi, sannyasin phải đứng dậy dường
như là người đó không đứng dậy; người đó phải vứt bỏ mọi việc làm.
Một dạng của
tính chất sannyas là điều được lấy ra theo con đường của ý nghĩ, và một dạng
khác là khi toàn bộ cuộc đời người ta trở nên hoà hợp với nó; thế thì chính tâm
trí này trở thành sannyasin.
Cho nên Phật đã
nói, thậm chí khi một sannyasin ngủ... người ta phải có khả năng phân biệt được
giữa một sannyasin ngủ và một phàm nhân ngủ. Chính phẩm chất, chính cách thức của
giấc ngủ của một sannyasin phải thay đổi, bởi vì tâm trí của bất kì ai đã hoàn
toàn được chuyển hoá, cái bóng của nó, cái đượm mầu của nó, cái rung động của
nó phải lan rộng trên mọi hành động của người đó. Nó nhất định lan rộng.
Vậy hấp thu xuất
hiện không phải như ý nghĩ mà như hoà hợp. Và...
Vứt bỏ thiền
nhân và việc thiền tương ứng, khi cái được thiền, mục đích, vẫn còn là mục tiêu
duy nhất và tâm trí trở thành tĩnh lặng như ngọn lửa đèn ở nơi không gió - điều
này được gọi là samadhi, chứng ngộ.
Samadhi là việc
xảy ra tối thượng. Ba điều đầu tiên là các bước hướng tới nó, bước thứ tư là bản
thân samadhi. Bên ngoài điều đó thế giới từ ngữ không tồn tại. Bên ngoài điều
đó không còn thế giới lời nói nữa. Chỉ tới samadhi không cái gì có thể được nói
ra. Cái đó là ở ngoài lời nói, không cái gì đã bao giờ được nói về nó và không
cái gì sẽ bao giờ được nói về nó.
Bất kì ai đứng
tại cửa của samadhi đều đi tới thấy cái là vô hình, đi tới biết cái là không thể
biết được, gặp cái mà không có nó cuộc đời là toàn khổ, toàn đau đớn, toàn tủi
cực. Cái là không thể biết được trở thành được biết và cái là bí ẩn được hiển lộ
ra và phơi ra. Mọi phức tạp vỡ tan, tâm thức trở thành một với chân lí trong bầu
trời mở của nó.
Samadhi là cái
gì đó đến sau hấp thu đối với người đã hoà hợp tâm trí mình với những lời phát
biểu tối cao như Tattvamasi, “Cái đó là ngươi’, Aham Brahmasmi, ‘tôi là
Brahman’, Soham, ‘ta là cái đó’. Người có tâm trí và hành vi đã trở thành sự diễn
đạt của những lời phát biểu này, người trong những chuyển động của mình có giai
điệu ‘Cái đó là ngươi’, người trong những chuyển động của mình có cử chỉ và chỉ
dẫn rằng người đó đang đi tới hoà hợp với Brahman - người như vậy có khả năng đạt
tới samadhi.
Khi thiền nhân
và việc thiền cả hai đều mất đi, chỉ còn cái được thiền, mục tiêu, còn lại -
đây là samadhi.
Để chúng ta hiểu
điều này. Có ba từ: thiền nhân, việc thiền và cái được thiền - mục tiêu. Chẳng
hạn, ‘Cái đó là ngươi’ là mục đích, cái được thiền. Chúng ta đang cố gắng lĩnh
hội lời phát biểu tối cao này. Đây là mục đích. Điều này đáng đạt tới, chỉ điều
này xứng đáng đạt tới. Đây là mục đích, đây là đích đến cuối cùng. Thế thì
‘tôi’, thiền nhân, là người đang nghĩ về mục tiêu này, là người đang suy tư về
mục tiêu này, người đang khao khát mục
tiêu này, người đang khát khao mục tiêu này; người đang hăm hở đạt tới mục
đích này... Đây là tôi, thiền nhân - tâm thức chuyển hướng tới mục đích này. Và
khi thiền nhân chạy xô về mục đích này, khi tất cả những việc chạy đua khác đều
dừng lại và chỉ mỗi việc chạy này của tâm thức hướng tới mục đích này còn lại,
điều này được gọi là việc thiền.
Khi mọi luồng
tâm thức bắt đầu chảy hướng về mục đích thống nhất và không chảy tách bạch
thành hàng chục luồng nữa, khi chúng được hội nhập thành một, khi tâm thức trở
thành một luồng duy nhất và bắt đầu chảy hướng về mục đích, liên tục - bay thẳng
tựa mũi tên - tâm thức này được gọi là việc thiền.
Samadhi -
Upanishad nói rằng khi việc thiền chìm vào trong mục đích không để lại thậm chí
một dấu vết của năng lượng sống lại sau, khi toàn bộ năng lượng và toàn bộ tâm
thức của thiền nhân trở thành một với mục đích, khoảnh khắc tới khi thiền nhân
thậm chí không nhận biết rằng ‘tôi đây’. Một khoảnh khắc tới khi thiền nhân thậm
chí không nhận biết rằng việc thiền có đó, rằng chỉ có Tattvamasi, chỉ có mục
đích, là còn lại. Trạng thái đó được gọi là samadhi, khi cả ba không có đó -
thiền nhân, việc thiền và cái được thiền - khi không có cả ba mà chỉ cái một
còn lại.
Để điều này được
hiểu thêm một chút, bởi vì các bộ môn tâm linh khác nhau đã chọn lựa khác nhau
về cái nào trong ba điều này cuối cùng cần phải còn lại.
Upanishad nói rằng
cái được thiền, mục đích, nên còn lại; thiền nhân và việc thiền nên mất đi.
Mahavira nói rằng thiền nhân nên còn lại, việc thiền và cái được thiền nên mất
đi; chỉ còn linh hồn, ‘tôi’ thuần khiết nên còn lại. Điều ấy tất cả dường như
mâu thuẫn. Sankhya, con đường bất nhị, nói cả thiền nhân và cái được thiền nên
mất đi; chỉ có việc thiền là nên còn lại, chỉ có tâm thức là nên còn lại - chỉ
nhận biết.
Dường như là cả
ba cách quan niệm này là những phát biểu rất mâu thuẫn, nhưng chúng không mâu
thuẫn nhau chút nào cả. Các học giả bao giờ cũng có những cuộc tranh cãi lớn,
tranh cãi buồn cười. Họ đã từng tranh cãi kịch liệt, và những cuộc tranh cãi này
nhất định nảy sinh. Những người chỉ hiểu lời sẽ tranh cãi rằng ba điều này là
những phát biểu mâu thuẫn nhau.
Upanishad nói rằng
chỉ cái được thiền là nên còn lại, ai đó khác nói thiền nhân nên còn lại, và rồi
người nữa lại nói việc thiền nên còn lại. Thế thì thực sự samadhi là gì? Có
samadhi của ba loại không? Hơn nữa, nếu samadhi là khi chỉ có mục đích, cái được
thiền còn lại, thế thì làm sao cái đó có thể là samadhi khi chỉ có thiền nhân
còn lại? Cho nên điều đó sẽ phải được quyết định xem cái nào là samadhi đúng.
Hai trong chúng sẽ sai, chỉ một cái có thể đúng.
Học giả sống
theo lời, không theo kinh nghiệm. Kinh nghiệm có hương vị hoàn toàn khác về nó:
tất cả ba điều này là một và cùng một. Tại sao? Bởi vì có một điều rất thú vị về
ba điều này, đó là khi bất kì hai trong ba điều này biến mất và chỉ một điều
còn lại, thế thì tên cho điều còn lại là chất liệu bề ngoài đến mức bạn có thể
tuỳ ý đặt tên cho nó.
Ngay bây giờ có
ba điều này - thiền nhân, việc thiền và cái được thiền. Với người tìm kiếm, với
người tìm kiếm đã tới trạng thái hấp thu, có ba điều này. Khi ba điều này biến
mất và chỉ một điều còn lại, thế thì người đó chọn cho nó bất kì một cái tên
nào trong ba điều đó. Chọn lựa này hoàn toàn mang tính cá nhân, nó không tạo ra
khác biệt gì về cái tên nào bạn đặt ra cho nó. Nếu bạn muốn bạn có thể chọn thậm
chí cái tên thứ tư cho nó. Nhiều người theo Upanishad thực ra đã cho nó cái tên
là ‘cái thứ tư’; cho nên cả ba điều trước đều mất, không còn lại gì mà tranh
cãi... Bởi vì nếu bất kì một trong ba điều đó được chọn, nếu hai điều bị vứt bỏ
chỉ để giữ lại một điều, điều ấy có vẻ được thiên vị, cho nên họ gọi nó là
turiya, cái thứ tư.
Họ không đặt
cho nó một cái tên nào, chỉ gọi nó là ‘cái thứ tư’, cho nên không còn tranh cãi
gì nảy sinh. Nhưng những người đang đi tìm tranh cãi không có vấn đề, họ nói rằng
chỉ có ba điều này, điều thứ tư từ đâu tới? Cái nào là điều thứ tư này? Điều
nào trong ba điều này là điều thứ tư? Hay tất cả ba điều này tan biến và cái thứ
tư này là hoàn toàn khác với chúng, hay nó là tổ hợp của cả ba điều này? Điều
thứ tư là gì?
Điều đó không tạo
ra khác biệt gì - những người muốn tranh cãi, họ lấy ra bất kì cái gì để bắt đầu
một luận cứ. Nhưng người quan tâm tới việc tìm kiếm thực sự, cuộc hành trình của
người đó là khác toàn bộ.
Từ ba điều này,
Upanishad đã chọn cái được thiền là cái còn lại; Mahavira chọn thiền nhân là
cái còn lại; Sankhya, con đường của bất nhị, nói đó là việc thiền còn lại.
Nhưng tất cả những điều đó chỉ là cái tên.
Một điều là chắc
chắn, rằng chỉ một trong ba là còn lại. Tên tất cả đều nhân tạo, bạn có thể cho
nó bất kì cái tên nào. Chỉ nhớ một điều, là khi chỉ có một điều còn lại, có
samadhi, chứng ngộ. Chừng nào vẫn còn lại hai điều biết rõ là cả ba điều vẫn
còn đó, bởi vì chừng nào hai điều còn lại, điều thứ ba, gắn với chúng ở giữa,
là điều phải có.
Một mình hai điều
không thể còn lại, hai bao giờ cũng có nghĩa ba. Cho nên những người luôn luôn
nghĩ theo kiểu toán học không gọi thế giới là dwaita, nhị nguyên, họ gọi nó là
traita, tam nguyên, bởi vì khi có hai điều thứ ba nhất định có đấy, bằng không
ai sẽ kết hợp hay phân tách hai điều này? Điều thứ ba trở thành không thể tránh
khỏi khi đã có hai điều. Ba là cách thức của sự tồn tại.
Đây là lí do tại
sao chúng ta đã tạo ra trimurti, bức tượng ba mặt biểu thị cho Brahma, Vishnu
và Mahesh: đó là chỉ dẫn về bộ ba, rằng thế giới được tạo nên từ ba. Nhưng ba
khuôn mặt là của cùng một người, chính là “cái thứ tư.” Bạn đi vào qua bất kì một
trong ba khuôn mặt này và khi bạn đạt tới bên trong, ba khuôn mặt này không còn
nữa. Nhưng người tìm kiếm sẽ chiêm ngưỡng khuôn mặt qua đó người đó đã vào. Một
số người tìm kiếm có thể đi vào qua Brahman, một số qua Vishnu và một số qua
Mahesh; mỗi người sẽ đặt tên cho kinh nghiệm theo khuôn mặt mà người đó đã đi
vào. Cho nên người đó sẽ nói điều thứ tư phải là Vishnu hay Mahesh hay Brahma.
Nhưng sau khi đạt tới bên trong, tất cả ba khuôn mặt đó đều mất. Không có chỗ
bên trong, mọi thứ có đó là một.
Bộ ba này không
chỉ là bức tượng, nó là kết luận của nỗ lực tối thượng của chúng ta trong việc
tìm kiếm.
Ba là ở ngay
trước bước nhảy chung cuộc; chúng vẫn còn đó - thiền nhân, việc thiền và cái được
thiền. Và từ bất kì điều nào trong ba điều này đều tạo nên bước nhảy, mà một
còn lại. Bất kì cái tên nào bạn muốn đặt cho nó, đấy là tuỳ bạn; tên không tạo
ra bất kì cái gì khác biệt. Nếu bạn không muốn đặt tên cho nó, điều đấy là tuỳ
bạn. Nếu bạn muốn gọi nó là ‘cái thứ tư’, càng hay. Nếu bạn không muốn gọi nó
là gì và bạn còn im lặng, điều đó là tốt nhất.
Nghe: biến nghe
thành lắng nghe. Nghĩ: biến suy nghĩ thành suy tư. Suy tư: đưa đến kết luận và
để các kết luận trở nên được hấp thu, cho phép hoà hợp.
Và cho phép hoà
hợp không đơn thuần là hoà hợp, để cho nó cuối cùng trở thành cái một.
Hiểu khác biệt
này. Hoà hợp có nghĩa là hai vẫn còn; qua hài hoà, hoà hợp đã xảy ra giữa hai
điều, vậy mà hai vẫn còn lại. Cái một nghĩa là hai mất đi và chỉ hài hoà còn lại.
Hoà hợp là hấp
thu; cái một là samadhi, tỉnh thức.
Xem tiếp Chương 11 – Quay về Mục lục
Chương 10. Bốn bước
4/
5
Oleh
John Nguyen
