Osho
- Ngón tay chỉ trăng
Chương
11. Cơn khát của linh hồn
Trong samadhi,
các đối tượng của kinh nghiệm không tách biệt với linh hồn, do đó chúng không
được kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm vinh quang này của người tìm kiếm, người đã
đi ra từ samadhi, được suy diễn thông qua việc hồi tưởng của tâm trí.
Trong thế giới
vô thuỷ này, hàng triệu hàng triệu nghiệp, dấu ấn hành động được tích luỹ. Tất
cả chúng đều bị samadhi này phá huỷ và pháp thanh tịnh, bản tính tự nhiên trưởng
thành.
Những người biết
về yoga gọi nó là Dharmamegha - đám mây mưa pháp - samadhi, bởi vì nó trút xuống
dòng suối cam lồ pháp, bản tính tự nhiên, tựa như đám mây mưa.
Trong samadhi
này, mạng lưới ham muốn tan biến hoàn toàn và những tầng dầy nghiệp tích tụ, dù
đức hạnh hay tội lỗi, đều bị nhổ bật mọi gốc rễ tại chính ngọn nguồn của chúng.
Ban đầu, phát
biểu vô hạn này - Tattvamasi, Cái đó là ngươi - là đúng, chỉ được nhận ra một
cách gián tiếp; thế rồi tri thức trực tiếp, tựa như quả myrobalan trên lòng bàn
tay, được sinh ra.
Sáng nay chúng
ta đã nói về lắng nghe, suy tư, hấp thu và samadhi. Samadhi, chứng ngộ, là chỗ
tận cùng của thế giới trong bạn và là chỗ bắt đầu của chân lí. Samadhi là cái
chết của tâm trí và cái sinh của linh hồn. Nhìn từ đầu này samadhi là bước cuối
cùng, nhìn từ đầu kia samadhi là bước đầu tiên.
Tâm trí cứ trơ
nên bị thu lại và tan biến ngày càng nhiều qua lắng nghe, suy tư và hấp thu;
trong samadhi, nó bị tan biến hoàn toàn. Và khi tâm trí đã hoàn toàn tan biến, có
bắt đầu kinh nghiệm về chúng ta thực sự là gì. Kinh này là về samadhi đó. Và
trong kinh này là một số điều rất sâu sắc cần được hiểu.
Trong samadhi,
các đối tượng của kinh nghiệm không tách biệt với linh hồn, do đó chúng không
được kinh nghiệm. Nhưng kinh nghiệm vinh quang này của người tìm kiếm, người đã
tới samadhi, được hàm ý thông qua việc hồi tưởng của tâm trí.
Để điều đầu
tiên này được hiểu bằng sự chăm chú đầy đủ của bạn. Nếu không phải hôm nay, thế
thì ngày mai điều đó sẽ có ích cho những người đang thiền. Không có kinh nghiệm
trong samadhi. Bạn sẽ băn khoăn khi nghe điều này. Không thể có bất kì kinh
nghiệm nào trong samadhi, và vậy mà samadhi là kinh nghiệm tối thượng. Đây là một
phát biểu ngược đời; nó có vẻ mâu thuẫn, nhưng có một số lí do cho nó. Trong
samadhi phúc lạc tối thượng được kinh nghiệm, nhưng người tìm kiếm người đang
trong samadhi không đi tới biết nó bởi vì người tìm kiếm và phúc lạc đã trở
thành một, và không có khoảng cách giữa hai điều này xảy ra.
Chúng ta đi tới
biết chỉ những điều tách biệt với chúng ta, ở một khoảng cách nào đó với chúng
ta. Việc nhận ra, kinh nghiệm về phúc lạc trong
samadhi không được cảm
thấy trong samadhi. Khi người tìm kiếm đi ra khỏi trạng thái samadhi, người đó
suy diễn rằng phúc lạc đã xảy ra; đấy là nhận thức muộn mằn rằng phúc lạc tối
thượng đã xảy ra, rằng nước cam lồ đã mưa rào xuống. Rằng người ta đã sống
trong một chiều khác, rằng người ta đã kinh nghiệm trạng thái sâu sắc hơn nào
đó của cuộc sống - tất cả những điều này chỉ được nhớ lại về sau khi tâm trí
quay lại.
Chúng ta hãy hiểu
điều ấy theo cách này. Lắng nghe, suy tư, hấp thu và samadhi - đây là bốn bước.
Chính qua những bước này mà người tìm kiếm đạt tới cánh cửa của chứng ngộ và nhận
ra. Nếu người tìm kiếm không có khả năng bước ra khỏi samadhi và vẫn còn trong
nó, người đó sẽ không bao giờ có có khả năng kể lại kinh nghiệm của mình cho bất
kì ai. Thế thì đơn giản không có cách nào kể lại kinh nghiệm của người ta.
Nhưng bất kì
người tìm kiếm nào đạt tới trạng thái samadhi không bao giờ trở lại là cùng người
đó nữa; người đó trở lại là một người hoàn toàn mới. Khi quay trở lại mọi mối
quan hệ đều thay đổi trong tâm trí người đó; tuy nhiên, người đó không trở lại
trong tâm trí. Trước đây, khi người đó quen sống trong tâm trí, người đó là nô
lệ của tâm trí, người đó không làm chủ bất kì cái gì; tâm trí có khả năng bắt
người đó làm bất kì cái gì nó muốn. Người đó phải đồng ý với bất kì cái gì tâm
trí sai khiến, người đó phải chạy theo bất kì cái gì tâm trí làm cho người đó
chạy theo. Đó là cảnh nô lệ cho tâm trí; tâm trí cầm cương linh hồn trong tay
nó.
Khi người tìm
kiếm trở về từ cánh cửa của samadhi vào trong tâm trí, người đó trở về như người
chủ. Bây giờ dây cương là trong tay người đó. Bây giờ người đó chuyển tâm trí đến
nơi người đó muốn chuyển nó tới. Nếu người đó không muốn chuyển nó đi đâu, người
đó không chuyển nó. Nếu người đó muốn nó hoạt động, người đó làm cho nó hoạt động,
bằng không thì thôi. Bây giờ tâm trí không có quyền hành riêng của nó. Nhưng
người tìm kiếm đã đạt tới samadhi có thể nhớ mọi thứ chỉ sau khi người đó trở về
tâm trí - tất nhiên, như người chủ của nó lần này. Bởi vì kí ức chỉ là khả năng
của tâm trí, đó là lí do tại sao người đó có thể nhìn lại qua tâm trí để xem điều
gì đã xảy ra.
Điều này có
nghĩa là tâm trí ghi không chỉ các sự kiện của cuộc sống đời thường mà còn ghi
lại cả điều đang xảy ra khi người tìm kiếm bước vào samadhi. Tâm trí là tấm
gương hai phía. Trong nó thế giới bên ngoài được phản ánh, trong nó thế giới
bên trong được phản ánh. Cho nên chỉ khi người tìm kiếm trở về với tâm trí người
đó có khả năng kinh nghiệm điều đã xảy ra. Nếu người đó trở về qua cùng ba bước,
chỉ thế thì người đó mới có thể diễn tả được nó.
Trong khi trở về
từ samadhi, bước đầu tiên của người tìm kiếm sẽ là hấp thu. Chính tại bước hấp
thu người đó sẽ bắt đầu kinh nghiệm điều người đó đã biết trong samadhi dưới dạng
vi diệu, ở mức sâu sắc, tại trung tâm tối thượng của riêng mình. Người đó sẽ bắt
đầu thấy nó được phản ánh trong hành vi của riêng mình. Khi người đó nhấc chân,
sẽ cảm thấy dường như nó không phải cùng chân cũ nữa; chân sẽ có một loại vũ điệu
của nó. Khi người đó ngước mắt lên và nhìn, mắt sẽ cảm thấy dường như chúng
không còn là cùng mắt cũ nữa mà tươi tắn trong sáng như giọt sương sớm. Khi tỉnh
dậy người đó sẽ cảm thấy dường như phi trọng lượng, dường như người đó có thể
bay trên trời. Khi người đó ăn người đó sẽ thấy rằng thức ăn đang đi vào thân
thể mình và bản thân người đó chưa từng ăn.
Bây giờ bất kì
cái gì người tìm kiếm vừa trở về từ samadhi làm trên bước đầu tiên của hấp thu,
sẽ có phản ánh của samadhi trong hành vi của người đó; ở mọi nơi hành vi của
người đó sẽ có duyên dáng mới. Con người đó của ngày hôm qua chết thôi. Người
đó không còn là cùng người đã có đó trước samadhi, đứng bên trong biên giới của
hấp thu. Bước này là vẫn thế, nhưng người trèo xuống là khác. Người đó đã trở về
có việc biết về cái gì đó, và người đó đã trở về bằng việc biết một điều là
toàn bộ cuộc đời người đó được biến đổi. Và trong việc biết này con người cũ đã
chết và con người mới được sinh ra.
Tại bước hấp
thu người đó sẽ thấy rằng điều đã xảy ra trong samadhi được phản ánh. Phần tinh
tuý chảy bên trong người đó sẽ được thấy chảy ra theo mọi hướng trong hành vi
người đó, từ mọi tế bào của người đó.
Mahakashyapa
hay tới hỏi Phật khi nào samadhi sẽ xảy ra. Phật bảo ông ta đừng bận tâm, và rằng
ông ta không cần đến hỏi Phật khi nào điều ấy xảy ra. Khi nó xảy ra bạn sẽ nhận
ra nó. Và không chỉ bạn sẽ nhận ra nó, bất kì ai gặp bạn sẽ nhận ra nó nếu cho
dù họ có một chút ít khả năng thấy, bởi vì khi cuộc cách mạng đó xảy ra bên
trong, những tia sáng của nó sẽ toả sáng ra, xuyên rọi theo cách của chúng qua
thân thể người này, bản thể và mọi thứ.
Trong bước hấp
thu người tìm kiếm biết rằng mình là một người khác, rằng người đó là người mới,
rằng người đó được sinh ra lần nữa. Người đó sẽ biết rằng mình không phải là
cùng con người đã đi vào samadhi, ai đó đã đi vào, ai đó khác đã đi ra.
Bước tiếp dưới
hấp thu là suy tư. Khi người tìm kiếm đi vào trong tâm trí sâu hơn từ hấp thu,
khoảnh khắc của suy tư sẽ nảy sinh. Bây giờ người tìm kiếm sẽ có khả năng suy
nghĩ, nhìn lại và suy tư về điều đã thực sự xảy ra: “Mình đã thấy gì? Cái gì là
cái mình đã đi tới biết? Mình đã sống cái gì?” Bây giờ người đó sẽ cố gắng đặt
kinh nghiệm của mình vào trong ý nghĩ, lời nói và khái niệm.
Chính những người
có khả năng đưa kinh nghiệm của mình vào trong lời nói tại bước suy tư là những
người đã cho sinh thành nên Veda, Upanishad, Kinh Thánh và Koran. Nhiều người
đã đạt tới trạng thái samadhi, nhưng đem điều đã được biết vào bước suy tư quả
là nhiệm vụ khó khăn.
Nhớ lấy, cuộc
hành trình trước đây hướng tới samadhi không khó như chúng ta nghĩ nó vậy. Nếu
chúng ta so sánh nó với cuộc hành trình trở về nó là rất dễ. Cuộc hành trình trở
về rất khó. Hàng nghìn người đạt tới samadhi, nhưng chỉ rất ít người trong họ
có khả năng quay lại và đặt chân vào bước hấp thu. Còn ít người hơn nữa có khả
năng hạ xuống bước suy tư. Và còn ít người hơn nữa làm nó cho bước đầu tiên có
tên lắng nghe.
Tên của bước
này bị thay đổi theo cuộc hành trình quay lại, về điều đó tôi sẽ nói với bạn
sau. Hàng nghìn người đạt tới trạng thái samadhi, nhưng hiếm khi một người
trong họ trở thành vị phật. Phật nghĩa là người có khả năng đi xuống cả bốn bước
và đem cho thế gian điều ông ấy đã biết. Suy tư nghĩa là gắn tất cả những cái
là vô ý nghĩ thành ý nghĩ trên cuộc hành trình quay về. Gắn những cái không thể
được nói ra, không thể được nghĩ, vào bên trong biên giới của từ ngữ là điều
không thể được nhất trong thế giới này.
Bạn thấy điều
đó khi mặt trời buổi sáng mọc lên. Hiếm khi một hoạ sĩ có khả năng nắm bắt được
khía cạnh rạng lên của mặt trời trong bức tranh của mình. Vẽ mặt trời không phải
khó lắm, bất kì hoạ sĩ nào cũng có thể làm được điều đó, nhưng bắt được khía cạnh
rạng lên của mặt trời là khó.
Hiện tượng mặt
trời rạng lên, phẩm chất đó của việc phát triển mà vẫn tiếp tục phát triển - nếu
cái đó được vẽ ra, sao cho khi nhìn vào bức tranh người ta cảm thấy rằng mặt trời
đang sắp chuyển... bây giờ, bây giờ nó đang lên, lên cao... Điều này hiếm khi xảy
ra. Bắt được cây trong một bức tranh là không khó, nhưng bắt được cái sống động
của nó là khó. Nhìn vào nó người ta có thể cảm thấy rằng lá nó đang lay động
vào mọi khoảnh khắc, làn gió nhẹ thoảng qua và hoa sẽ rụng xuống. Điều này rất
khó vẽ - khó lắm. Và đó là khác biệt giữa chụp ảnh và vẽ tranh. Bức ảnh chụp dù
sắc nét đến đâu cũng không thành vấn đề, nó chỉ thể hiện khía cạnh chết, nó
không hoạ được cái sống động.
Tuy nhiên mặt
trời, cây, hoa là kinh nghiệm của cuộc sống bình thường; chúng có thể được bắt
lấy. Samadhi là kinh nghiệm phi thường - nó xảy ra chỉ cho một người trong hàng
triệu người. Và điều xảy ra ở đấy, mọi giác quan đều trở nên không có khả năng
thông báo về nó. Tai không nghe ở đó, mắt không không thể thấy được ở đó, tay
không thể sờ được ở đó, và kinh nghiệm xảy ra không có giới hạn. Sụp đổ lớn lao
của mái nhà bạn, hay toàn bộ bầu trời sập xuống mảnh sân nhỏ bé của bạn, hỗn loạn,
chết lặng sẽ đến với bạn - cái gì đó tương tự như điều này xảy ra trong khoảnh
khắc của samadhi. Không gian cá nhân nhỏ nhoi này của tâm thức, và toàn thể đại
dương giáng lên nó.
Kabir đã nói rằng
ban đầu ông ấy hình dung rằng giọt nước đã rơi vào trong đại dương. Nhưng khi
ông ấy trở lại cảm nhận, ông ấy hiểu rằng tình huống chính là cái ngược lại: chính
đại dương đã rơi vào trong một giọt nước. Cho nên Kabir đã nói rằng ban đầu ông
ấy nghĩ rằng ông ấy có thể có khả năng kể điều gì đó này khác sau khi trở về -
nhưng điều ấy đã tỏ ra khó khăn. Nó thật khó.
Lời của Kabir
là:
Herat herat hey
sakhi rahya Kabir herayi Bunda samani samunda men so kat heri jayi.
“Hỡi người bạn!
tìm kiếm và dò tìm, Kabir đã bị mất dần. Giọt nước đã rơi vào trong đại dương,
làm sao giọt nước có thể được tìm lại?”
Giọt nước rơi
vào trong đại dương, làm sao đem nó trở ra lần nữa để nó có thể thuật lại điều
đã xảy ra cho thế giới? Điều này đã là khó, nhưng Kabir sau đó đã thay đổi các
dòng của bài ca, huỷ bỏ dòng trước, và nói, “Đó là sai lầm phạm phải bởi hấp tấp.
Kinh nghiệm này là mới. Tôi hoàn toàn không thể hiểu cái gì đã xảy ra. Từ thói
quen cũ tôi thấy các thứ xung quanh theo cách sai lầm.” Thế rồi ông ấy viết bài
thơ khác đi:
Herat herat hey
sakhi rahya Kabir herayi Samunda samana bunda men so kat hera jayi.
“Hỡi người bạn!
tìm kiếm và dò tìm, Kabir đang mất dần. Đại dương đã rơi vào trong giọt nước,
làm sao giọt nước có thể được tìm lại?”
“Đại dương đã
giáng vào trong giọt nước. Giá như giọt nước đã rơi vào trong đại dương, có lẽ
bằng cách nào đó tôi sẽ tìm lại được nó ra, nhưng chính điều đối lập đã xảy ra:
chính toàn thể đại dương đã rơi vào trong giọt nước này. Bây giờ cho dù tôi muốn
tôi sẽ không biết tìm đâu ra giọt nước này. Bây giờ giọt nước nào không thể nào
được tìm ra.”
Những phương tiện
đã tạo khả năng cho chúng ta biết được mọi thứ mà chúng ta đã biết trong thế giới
này đều trở thành vô dụng trong việc biết điều xảy ra vào khoảnh khắc của
samadhi. Bản thân chúng ta trở thành vô dụng. Chính sự tồn tại của chúng ta bị
tan tành. Sự tồn tại lớn hơn nào đó, không giới hạn, bùng ra trên chúng ta - bất
thần. Chúng ta chết trong quá trình này.
Samadhi là cái
chết chung cuộc, lớn hơn cái chết vật lí; bởi vì trong cái chết vật lí chỉ thân
thể chết, tâm trí vẫn tồn tại, trong khi trong samadhi tâm trí chết. Lần đầu
tiên toàn bộ mối quan hệ của chúng ta với tâm trí vỡ ra; lần đầu tiên tất cả
dây nối của tâm trí đứt ra, làm cho chúng ta tách biệt. Và toàn thể tri thức của
chúng ta là của tâm trí. Cho nên trong samadhi, lần đầu tiên, chúng ta đứng
hoàn toàn dốt nát.
Để tôi nhắc lại
nó: trong samadhi tri thức của chúng ta không còn ích gì, vì tất cả những tri
thức đó được học bởi tâm trí, và tâm trí đó bị bỏ lại xa đằng sau, xa xăm.
Chúng ta đã đi ra ngoài tâm trí. Người đã biết không còn là đồng hành ở đó nữa.
Người đã hiểu mọi điều, người đã có tri thức về mọi lời nói và học thuyết, người
đã tiêu hoá mọi kinh sách, bị bỏ lại xa đằng sau. Không chỉ lớp vỏ bên ngoài,
thân thể, bị bỏ lại đằng sau, mà chính tâm trí bị bỏ lại đằng sau. Tất cả những
cái đã từng là kinh nghiệm sâu sắc nhất của chúng ta đều bị bỏ lại đằng sau. Nhảy
từ tâm trí, người tìm kiếm bây giờ đứng ở chính ngưỡng cửa của samadhi; bây giờ
người đó không có cách nào để biết nữa.
Bất kì ai đi
vào cánh cửa tới samadhi đều bỗng nhiên thành hoàn toàn dốt nát. Không có cách
nào ở đó để biết bất kì điều gì, không hệ thống để biết về bất kì cái gì, không
phương tiện để biết bất kì cái gì; chỉ việc biết thuần tuý còn lại. Rất khó cho
bất kì thông tin nào sau khi quay lại. Ai có đó để cho thông tin? Ai có đó để
đem đến tin tức? Nhưng thông tin đã được trao. Một số người đã nỗ lực không mệt
mỏi để làm việc này.
Họ là những người
từ bi nhất trong thế giới này, người đã cho thông tin sau khi trở về từ
samadhi. Tại sao? Bởi vì ngay cả ham muốn trở về từ samadhi không nảy sinh. Trở
về từ samadhi tựa như trở về từ một tình huống nơi bạn đã đạt được mọi thứ bạn
muốn, nơi mọi mong ước đã được thực hiện, nơi không còn lí do nào cho dù chỉ một
chuyển động nhỏ nhất, một hành động nhỏ nhặt nhất để trở về từ nơi như vậy.
Tương truyền rằng
khi Phật đạt tới samadhi, ông ấy đã không ra khỏi nó trong bẩy ngày. Đấy là câu
chuyện hay. Chuyện kể rằng tất cả các thần tụ tập dưới chân ông ấy, Indra bắt đầu
khóc còn Brahma thì để đầu dưới chân Phật, tất cả họ đều yêu cầu Phật đừng vẫn
còn như thế, “Bởi vì,” họ nói, “ngay cả chư thần chúng tôi cũng mong mỏi khát
khao về thông điệp mà người trở về từ samadhi trao cho. Và biết bao người trong
bao nhiêu kiếp sống chờ đợi ai đó trở thành phật và chuyển giao thông điệp sau
khi trở về từ samadhi, để nói và kể về điều người đó đã biết. Cho nên xin đừng
vẫn còn im lặng, xin thầy nói.”
Nhưng Phật nói,
“Không ai còn lại ở đây để nói, không có ham muốn còn lại để nói. Hơn thế nữa,
điều ta đã chứng kiến - thật khó ngay cả cho ta tin rằng nó có thể được nói ra.
Thế thì cơ hội cho người nghe hiểu nó là ở đâu?”
Khi chư thần
không đồng ý, Phật nói thêm, “Nếu các ông không đồng ý, ta sẽ nói; nhưng ta nói
cho các ông rằng những điều ta có thể nói cho ai đó, tự bản thân ta sẽ không hiểu
nếu như có ai đó khác kể chúng cho ta trước việc nhận ra riêng của ta. Cho nên
làm sao bất kì ai khác sẽ hiểu? Qua kinh nghiệm này ta cũng đi đến việc hiểu
khác, rằng những người sẽ có khả năng hiểu điều ta phải nói cũng có thể đạt tới
không cần ta; còn những người không có khả năng hiểu điều ta phải nói - chẳng
có nghĩa gì để nặn óc người ta ra trước họ.”
Nhưng chư thần
đưa ra một luận cứ rất đáng yêu. Họ nói, “Chúng tôi có hiểu chứ, như thầy đã
nói đúng, rằng những người có khả năng hiểu là những người đang đứng bên bờ của
kinh nghiệm này, chỉ một bước nữa đi từ nó thôi; bằng cách nào đó họ cũng có khả
năng vượt qua khoảng cách này nữa cho dù không có thầy. Không, chúng tôi không
yêu cầu thầy nói cho họ. Và điều này nữa chúng tôi cũng chấp nhận, rằng có những
người thậm chí còn chưa bước được bước nào trên con đường. Tiếng nói của thầy sẽ
không tới những người này - họ sẽ không hiểu. Chúng tôi không yêu cầu thầy nói
cho họ. Nhưng có những người ở giữa hai loại người này - những người có lẽ sẽ
không có khả năng hiểu được nếu thầy không nói, nhưng có lẽ họ có thể hiểu được
nếu thầy nói.”
Tuy thế chư thần
nhấn mạnh vào ‘có lẽ’. Nhưng họ cũng nói thêm một điều nữa với Phật: “Những người
trong loại ‘có lẽ’ này, họ có thể hiểu, họ có thể không hiểu. Nhưng ngay cả một
người có thể đã hiểu cũng sẽ lỡ bởi vì thầy không nói... Thầy nghĩ về điều đó
đi. Đấy sẽ là nỗi đau cho thầy, đấy sẽ là nỗi đau trên thầy. Và điều như vậy
chư phật chưa bao giờ làm trước đây.” Thế là Phật nói.
Vào khoảnh khắc
của samadhi điều rất tự nhiên là cảm thấy rằng bây giờ tất cả việc nói, kể, giải
thích đều vô dụng. Kể cho ai? Nói cho ai? Ai nghe? Nhưng mặc tất cả những điều
đó, một số người đã trở về từ samadhi.
Quay về tới bước
suy tư, điều khó khăn nhất xảy ra cho những người như vậy. Do đó nghệ sĩ vĩ đại
không phải là những người soạn ra bài hát hay bài thơ, không
phải là những người tạo ra bức
tranh hay bức điêu khắc, mà nghệ sĩ vĩ đại là những người tại bước suy tư này
đưa cái tuyệt đối vô hình và kinh nghiệm không thể cảm nhận được của samadhi
thành thấy được và những bức tranh lời nói cảm nhận được. Nghệ sĩ vĩ đại là những
người nỗ lực đó bằng cách nào đó, cho dù vài hướng dẫn có thể được cho... người
tạo ra được một số thiết bị, phát minh ra được hệ thống tư tưởng nào đó, hệ quả
nào đó của tư tưởng để từ đó cả bạn nữa cũng có được ít nhất một thoáng nhìn nhỏ,
cảm giác sơ sơ, chút ít xúc động về kinh nghiệm đó - cho dù ở mức tinh thần.
Nhiều người đạt
tới bước suy tư này. Nhưng bước cuối cùng - điều được gọi là shravana, lắng
nghe, bước đầu tiên khi đi - cùng bước đó bây giờ trở thành pravachan, diễn
thuyết, khi trở về từ chứng ngộ. Bước này là như nhau - nghe, nói. Điều là
shravana, nghe đúng, trên đường hướng tới sammadhi trở thành pravachan, nói
đúng, trên đường trở về từ samadhi.
Và nhớ lấy,
trên bước đầu tiên đó hướng tới samadhi là đệ tử, và trên bước cuối cùng trên
đường trở về từ samadhi là thầy, và cuộc gặp gỡ đã xảy ra giữa hai người là
upanishad. Nơi người nghe hiện diện đúng và nơi người nói hiện diện đúng, hiện
tượng gặp gỡ giữa hai người là upanishad.
Từ upanishad
nghĩa là cái người ta biết khi ở gần thầy, cái người ta lắng nghe khi ngồi gần
thầy, cái đi vào kinh nghiệm của người ta trong sự hiện diện của thầy, cái được
vọng lại trong việc ở gần thầy, cái được động chạm tới trong sự gần gũi thầy.
Upanishad nghĩa
là ngồi gần, ở gần, có sự gần gũi.
Cho nên công việc
của đệ tử chỉ là lắng nghe, còn thầy nên chuyên chú vào bài nói. Người nghe
không có đó, người nói không có đó; ở đây chỉ còn lại bài nói, chỉ còn lại khả
năng lắng nghe, thế thì upanishad xảy ra.
Kinh nói:
Trong samadhi,
các đối tượng của kinh nghiệm không tách biệt với linh hồn.
Dù đó là phúc lạc
đang được kinh nghiệm, im lặng đang được kinh nghiệm, an bình đang được kinh
nghiệm, tính không đang được kinh nghiệm
hay giải phóng đang được kinh nghiệm, không một kinh nghiệm nào trong những
kinh nghiệm này có thể được bắt trong samadhi ... do đó chúng không được kinh
nghiệm. Những khuynh hướng này không được kinh nghiệm một cách có ý thức.
Nhưng kinh nghiệm
vinh quang này của người tìm kiếm, người đã đi ra từ samadhi, được suy diễn
thông qua việc hồi tưởng của tâm trí...
Cho nên ngay cả
Phật cũng không thể nói rằng nó là như vậy trong samadhi. Ông ấy nữa cũng chỉ
nói chừng này, rằng chính suy diễn của ông ấy là nó là như vậy trong samadhi.
Mahavira hay nói bất kì cái gì chỉ với chữ đầu ‘có lẽ’ được thêm vào. Ông ấy sẽ
nói, “Có lẽ có phúc lạc ở đó.”
Không ai nên
suy luận từ điều này rằng Mahavira không biết. Theo lời ông ấy nó dường như vậy
- nếu Mahavira nói ‘có lẽ’, thế thì dường như là ông ấy cũng có đôi chút hoài
nghi nào đó. Đấy không phải là do bất kì hoài nghi gì mà do cực kì trung thành
với chân lí mà ông ấy nói như vậy. Trung thành của Mahavira với chân lí không hề
bị ô uế và trinh bạch đến độ thật khó để tìm ra trung thành đến thế với chân lí
ở đâu đó khác.
Cho nên điều
Mahavira đang nói là ở chỗ tâm trí mà qua đó ông ấy biết điều này đã không hiện
diện vào lúc kinh nghiệm. Với tâm trí, đây là tin tức nghe được từ một khoảng
cách; nơi sự việc xảy ra, tâm trí không hiện diện. Tâm trí không phải là nhân
chứng mắt thấy. Tâm trí đã đi mất. Bây giờ nó phải suy nghĩ và dùng suy diễn,
nhưng biến cố đã xảy ra xa xăm.
Dường như là nếu
ngồi ở đây chúng ta có thể thấy tuyết phủ trên đỉnh Gourishankar - từ đây! Tâm
trí là xa về mặt vật lí với đỉnh núi đó, và nó chỉ còn suy diễn về cái lạnh
tràn ngập ở đó trên đỉnh Gourishankar.
Do đó Mahavira
dùng từ syat, có lẽ. Ông ấy nói rằng có lẽ có phúc lạc tối cao ở đó. Ông ấy nói
như vậy bởi vì sự cực kì trung thành của ông với chân lí, bởi vì sau hết đây là
suy diễn của tâm trí. Mahavira đã biết, với ông ấy nó không phải là suy diễn.
Nhưng người biết trở thành một người biết nhiều đến độ vào khoảnh khắc biết
không cái gì được kinh nghiệm. Khi Mahavira trở về trong tâm trí, sau việc biết...
Chúng ta hiểu
điều đó theo cách này. Dường như là bạn đi lên đỉnh Gourishankar và trở thành một
với cái lạnh ở đó, bản thân bạn trở thành cái lạnh. Hay bạn trở thành một với
tuyết ở đó, bạn cũng đông cứng tựa như tuyết và do vậy không có kinh nghiệm nào
bởi vì người kinh nghiệm không tách biệt chút nào nữa. Thế rồi bạn đi xuống từ
đỉnh đó và sau khi tới vùng đất thấp bạn lấy ống nhòm và nhìn lại vào
Gourishankar qua chúng. Kinh nghiệm của điều đã được biết vẫn còn dội lại bên
trong. Nó gần gũi tới mức bởi vì thiếu khoảng cách cần thiết để biết nó không
thể được biết. Nó đã đạt tới toàn quan bởi vì khoảng cách. Bây giờ nâng ống
nhòm của tâm trí người ta nhìn lại. Bây giờ người ta cảm thấy qua suy diễn rằng
có cái lạnh tột bực ở đó, có mở rộng của tuyết trắng tuyệt đối không tì vết, nó
cao làm sao! Người ta cảm thấy rằng mọi sức hút đã biến mất, dường như người ta
đã đạt tới cánh và có thể bay trên bầu trời. Bầu trời trong vắt làm sao! Người
ta cảm thấy rằng bầu trời toàn mầu xanh biếc thậm chí mây cũng bị bỏ xa phía dưới
và chỉ bầu trời trống rỗng mây còn lại.
Nhưng tất cả những
điều này là ý nghĩ về sau khi đứng lại trên đất thấp. Do đó kinh nói: ... được
suy diễn thông qua việc hồi tưởng của tâm trí.
Trong thế giới
vô thuỷ, hàng triệu hàng triệu nghiệp, dấu ấn hành động đã được tích luỹ. Tất cả
chúng đều bị samadhi này phá huỷ và pháp thanh tịnh, bản tính tự nhiên trưởng
thành.
Trong kinh thứ
hai này có hai từ rất có giá trị: karma (nghiệp) và dharma (pháp), hành động và
tôn giáo. Điều chúng ta làm là hành động
và điều chúng ta là là tôn giáo. Tôn giáo nghĩa là tự tính của chúng ta và hành
động nghĩa là điều chúng ta làm. Hành động nghĩa là tự tính của chúng ta đạt tới
bên ngoài. Hành động nghĩa là chúng ta đạt tới bên ngoài bản thân chúng ta, vào
trong thế giới. Hành động nghĩa là chúng ta nối với ai đó khác hơn bản thân
mình. Tự tính nghĩa là tách biệt khỏi người khác, không có liên quan với thế giới
- cái ‘tôi đây’, bản thể bên trong. Nó không liên quan gì tới việc làm của bạn.
Nó không được tạo ra từ điều bạn làm. Nó hiện diện trước mọi việc làm của bạn.
Nó là bản tính của bạn.
Có thể có sai lầm
trong nghiệp, việc làm; không thể có sai lầm trong pháp. Nhớ lấy, từ pháp không
có nghĩa tôn giáo ở đây. Pháp ở đây nghĩa là phẩm chất - tự tính của chúng ta,
tự tính bên trong của chúng ta, bản thể chúng ta.
Cho nên việc
làm càng nhiều, tự tính càng cứ bị che phủ. Tất cả những điều chúng ta làm cứ
chôn vùi bản thể chúng ta bên dưới. Và có nhiều tầng việc làm của chúng ta đến
nỗi dần dần, dần dần chúng ta quên hoàn toàn rằng có bản thể nào của chúng ta
khác hơn với việc làm.
Nếu ai đó hỏi bạn,
“Bạn là ai?” - bất kì câu trả lời nào bạn cho đều là về việc làm của bạn, không
về bản thể bạn. Bạn nói bạn là kĩ sư, bạn nói bạn là bác sĩ, bạn nói bạn là
doanh nhân. Bạn có nhận ra rằng kinh doanh là việc làm không? Bạn không phải là
doanh nhân, bạn đang làm việc kinh doanh. Làm sao một người là bác sĩ? Một người
có thể làm công việc của bác sĩ. Làm sao một người có thể là kĩ sư? Nếu một người
có thể trở thành kĩ sư, người như thế sẽ bị mất. Người đó có thể làm công việc
của kĩ sư. Kĩ nghệ là việc làm của người đó, công việc của người đó, không phải
là bản thể của người đó.
Bất kì mô tả
nào bạn nêu cho mình, nếu bạn nhìn sâu vào trong nó bạn sẽ thấy rằng bạn bao giờ
cũng nói điều bạn làm và không bao giờ nói điều gì về bản thể bạn. Và bạn không
thể nói được. Bản thân bạn không biết gì về nó, bạn chỉ biết điều bạn làm. Bạn
hiểu thấu về phần việc làm - điều bạn làm, điều bạn có thể làm. Mọi điều bạn có
khả năng nói là cái bạn đã làm trong quá khứ và cái bạn có thể làm trong tương
lai. Tất cả những chứng chỉ đó bạn mang theo đều không nói gì ngoài điều bạn có
thể làm, không phải là điều bạn là gì. Nếu bạn nói bạn là một sadhu, người tìm
kiếm, điều đó có nghĩa là bạn là một người làm việc tìm kiếm. Nếu ai đó nói người
đó là kẻ cắp, điều đó có nghĩa là công việc của người đó là đánh cắp các thứ.
Hành động của người này là hành động tìm chân lí, hành động của người kia là
hành động đánh cắp các thứ.
Nhưng bản thể của
bạn là gì? Cái gì ở bên trong bạn? Khi bạn còn chưa được sinh ra từ bụng mẹ, là
một sadhu, kẻ cắp, kĩ sư hay bác sĩ có ý nghĩa gì? Nếu ai đó hỏi bạn trong khi
bạn còn đang trong bụng mẹ rằng bạn là ai, sẽ khó trả lời, bởi vì thế thì bạn
chưa là kĩ sư, thế thì bạn chưa là bác sĩ, bạn chưa làm bất kì việc kinh doanh
nào. Nếu ai đó hỏi bạn trong bụng mẹ của mẹ bạn, “Ai trong đó?” không câu trả lời
nào là có thể cả. Hay bạn nghĩ điều đó là có thể? Bạn vẫn trong bụng mẹ - không
câu trả lời nào có thể tới được.
Bây giờ nhiều
phương pháp đã được khám phá để tẩy não. Bạn nói bạn là kĩ sư, nhưng nào bạn có
thể bị tẩy, và sau việc tẩy não được thực hiện đúng, nếu bạn được hỏi, “Bạn là
ai?” bạn sẽ chỉ còn lại trắng trơn, bởi vì con người bạn như một kĩ sư chỉ có
trong hệ thống kí ức của bạn. Bạn đã học tập, đã được nhận chứng chỉ, đã làm
cái gì đó, đã nhận được công lao hay lầm lỗi; tất cả nó trong kí ức của bạn, mà
bây giờ đã bị tẩy sạch rồi. Bây giờ bạn không thể đưa ra bất kì câu trả lời nào
cho việc bạn là ai. Nhưng bạn vẫn hiện hữu. Bản thể của bạn không thể bị xoá đi
bởi việc tẩy xoá kí ức của bạn, nhưng dấu ấn về các hành động của bạn có thể bị
tẩy đi.
Kinh này nói:
Trong thế giới
vô thuỷ, hàng triệu hàng triệu nghiệp, dấu ấn hành động đã được tích luỹ.
Một cách tự
nhiên, mọi ngày, từng khoảnh khắc, dấu ấn hành động đang được tích luỹ lại.
Chúng ta đang ngồi, đứng, thở - hành động đang xảy ra. Chúng ta đang ngủ, mơ -
hành động đang xảy ra. Không ai có thể chạy khỏi hành động, bởi vì chạy trốn
cũng là hành động. Người ta sẽ đi đâu? Bạn sẽ đi và ngồi trong rừng sâu sao? Ngồi
cũng là hành động. Bạn sẽ nhắm mắt ở đó sao? Nhắm mắt cũng là hành động. Bất kì
cái gì bạn có thể làm, ở đâu có bất kì việc làm nào đều có nghiệp, hành động.
Từng khoảnh khắc
biết bao nhiêu hành động đang được làm. Bóng dáng của chúng, kí ức của chúng, ấn
tượng của chúng cứ tụ lại bên trong chúng ta. Bất kì cái gì bạn đang làm đều được
tích luỹ lên bản thể bạn. Nó tựa như đường rãnh được làm trên đĩa hát. Khi bạn
nghe đĩa, mọi thứ được lưu giữ trong những đường rãnh này trở nên sống động và
bắt đầu tự biểu hiện nó lần nữa. Tâm trí bạn cũng hệt như vậy - một tuyển tập
ghi lại tất cả các hành động của bạn, mọi thứ được tích luỹ lại. Bất kì cái gì
bạn đã làm, các đường rãnh đã được hình thành lên bạn. Và những đường rãnh này
là các kiếp sống vô tận của bạn. Nó là gánh nặng lớn. Và bạn cứ lặp đi lặp lại
gần như cùng những điều đó mãi. Hoàn cảnh của bạn gần giống như chiếc đĩa hát
cũ nơi kim mắc kẹt vào cùng một rãnh và bạn cứ tiếp tục chơi mãi nó - cùng một
đường lặp lại bản thân nó lần nữa và lần nữa và lần nữa.
Bạn đang làm
gì? Hôm qua bạn đã làm cùng một thứ, hôm kia bạn đã làm cùng một thứ, hôm nay bạn
đang làm cùng một thứ, ngày mai bạn cũng sẽ làm cùng một thứ - cùng giận dữ,
cùng tham lam, cùng gắn bó, cùng thèm khát, mọi thứ như cũ... bản ghi mòn cũ.
Chiếc kim bị mắc kẹt vào một rãnh, không có khả năng vượt qua nó, và tạo ra
cùng một âm thanh cứ thế lặp lại.
Đây là lí do tại
sao có nhiều chán thế trong cuộc đời. Nhất định là như vậy rồi, bởi vì chẳng
cái gì mới xảy ra.
Chiếc kim đơn
giản không tiến thêm. Nhìn lại ba mươi, bốn mươi năm cuộc đời bạn mà xem: Bạn
đã làm được gì rồi? Bạn vẫn đang chơi cùng một bản nhạc, cùng sự việc cứ lặp lại
hàng ngày. Đây là điều những người thấy ở Ấn Độ hay gọi là avagaman, vòng sinh
tử. Cùng một điều lặp lại, cùng một điều lặp lại; cùng một điều trong kiếp sống
này, cùng một điều trong kiếp sống tiếp, cùng mọt điều trong kiếp sống sau kiếp
này - câu chuyện của quá khứ là như nhau, câu chuyện của tương lai cũng là như
nhau. Cùng ham muốn dục, cùng giận, cùng ghét, cùng tình bạn,
cùng thù địch, cùng việc kiếm tiền, cũng việc làm nhà
- và sau khi làm tất cả những thứ này một hôm người ta thấy rằng một cơn gió mạnh
thổi tới và toàn thể ngôi nhà giấy đổ sập.
Nhưng hệt như đứa
trẻ lập tức thu nhặt lại giấy vụn và bắt đầu làm lại ngôi nhà lần nữa, chúng ta
cũng lập tức nhận việc sinh mới và bận bịu với việc xây nhà giấy mới. Lần này
chúng ta cố gắng làm ngôi nhà mạnh mẽ hơn; nhưng kế hoạch làm nhà thì vẫn như
cũ, cấu trúc ngôi nhà vẫn như cũ - tâm trí vẫn như cũ. Chúng ta kết thúc việc
làm hệt như cũ và cứ chìm đắm theo cùng cách cũ, hết lần này đến lần khác.
Không chỉ mặt
trời lặn mọi chiều và lại mọc buổi sáng - bạn cũng cứ lặn và mọc ra theo cùng
cách thức. Nó là vòng tuần hoàn, chiếc bánh xe. Từ samsara (luân hồi) có nghĩa
là chiếc bánh xe, cứ quay mãi, trên cùng một trục.
Nghiệp vô tận,
dấu ấn hành động được tích luỹ, bị phá huỷ bởi samadhi này. Điều này đáng hiểu,
bởi vì nhiều người nghĩ rằng nếu dấu ấn hành động xấu được tích luỹ, chúng ta
phải phá huỷ nó bằng hành động tốt. Họ lầm. Dấu ấn hành động xấu không thể bị
phá huỷ bởi dấu ấn hành động tốt. Dấu ấn hành động xấu vẫn sẽ còn không bị động
tới và hành động tốt sẽ được tích luỹ - đó chính là điều sẽ xảy ra nhiều nhất.
Chúng không huỷ lẫn nhau. Không có cách nào để chúng huỷ lẫn nhau được.
Một người phạm
phải lỗi lầm ăn cắp, thế rồi người đó ăn năn và trở thành sadhu, người tìm kiếm, người tốt. Bằng cách trở thành sadhu, những dấu ấn hành
động đó của kẻ cắp vẫn nằm bên trong người đó không bị huỷ đi. Không có cách
nào làm điều đó. Dấu ấn hành động tách biệt, dấu ấn của việc là sadhu, hình
thành. Dấu ấn hành động của việc là sadhu không trùng với dấu ấn hành động của
việc là kẻ cắp. Sadhu đó làm gì với kẻ cắp? Bạn đã là kẻ cắp, bạn đã vẽ một loại
rãnh hành động trên tâm trí. Thế rồi bạn trở thành sadhu. Bây giờ rãnh hành động
của việc là sadhu không được vẽ đè lên rãnh hành động của việc là kẻ cắp, bởi
vì việc là sadhu là việc xảy ra của phần khác của tâm trí bạn so với phần của
việc là kẻ cắp.
Thay vì thế cái
gì xảy ra?
Trên các rãnh
hành động của kẻ cắp, rãnh hành động của sadhu được lèn vào; không cái gì bị huỷ
cả. Sadhu cưỡi lên trên kẻ cắp, đó là mọi điều xảy ra. Điều này nghĩa là một
người khác, một kẻ cắp-sadhu, được sinh ra. Cái tốt của việc là sadhu không thể
huỷ đi cái xấu của việc ăn cắp. Kẻ cắp tiếp tục vẫn còn bên trong, chỉ việc chồng
lên xảy ra - đơn thuần một người nữa cưỡi lên chóp của nó.
Cho nên cho dù
kẻ cắp yên vị theo một đằng, cho dù sadhu yên vị theo một đằng, nhưng cái món hẩu
lốn kẻ cắp và sadhu được tạo ra ấy là rắc rối lớn. Đó là xung đột liên tục bên
trong, bởi vì kẻ cắp tiếp tục nỗ lực của nó và sadhu tiếp tục nỗ lực của mình.
Và một mình Thượng đế biết có bao nhiêu dạng khác nhau chúng ta đã tích luỹ bên
trong mình, không huỷ bỏ lẫn nhau, được tạo ra tách biệt và vẫn còn lại như vậy.
Do đó kinh này nói rằng chúng bị phá huỷ tất cả qua samadhi.
Hành động không
huỷ bỏ hành động. Vô hành động phá huỷ hành động. Hiểu điều này cho đúng: hành
động không huỷ bỏ hành động, hành động chỉ làm cho hành động thêm dầy đặc. Chỉ
vô hành động huỷ bỏ được hành động. Và vô hành động được đạt tới trong samadhi,
khi người làm không tồn tại thêm chút nào nữa.
Khi chúng ta đạt
tới trạng thái đó của tâm thức, nơi chỉ còn hiện hữu, không có việc làm nào cả,
nơi thậm chí không một gợn việc làm nào nảy sinh, nơi chỉ có hiện hữu, sự tồn tại
bao giờ cũng còn lại - hiện hữu, không phải là việc làm - trong khoảnh khắc của
hiện hữu đó, người ta bỗng nhiên nhận ra rằng tất cả những hành động mình đã từng
làm trước đây không phải do mình làm. Một số hành động do thân thể làm - để
thân thể chịu trách nhiệm về chúng. Một số hành động do tâm trí làm - để tâm
trí chịu trách nhiệm về chúng. Nhưng bạn đã không làm bất kì hành động nào cả.
Đồng thời với
việc nhận ra này mạng lưới tất cả các dấu ấn hành động đều bị phá huỷ. Tính
linh hồn là việc huỷ bỏ mọi hành động. Chính do mất tính linh hồn mà ảo tưởng rằng,
“tôi đã làm,” được tạo ra.
Khi một người
ăn cắp, điều ấy được kích hoạt hoặc bởi thân thể người đó hoặc bởi tâm trí người
đó. Thân thể ai đó đến một hoàn cảnh mà việc ăn cắp phải được thực hiện. Một
người bị đói, thân thể thúc ép người đó làm việc ăn cắp. Linh hồn không bao giờ
phạm vào việc ăn cắp. Có cái đói của thân thể, cái đau của nó, và cái khổ của
nó; hay con của ai đó sắp chết và không có tiền thuốc thang - người ta ăn cắp.
Tất cả những điều này là việc ăn cắp từ thân thể.
Cho đến giờ
chúng ta vẫn chưa có khả năng phân biệt được giữa ăn cắp từ thân thể và ăn cắp
từ tâm trí. Ăn cắp từ thân thể nghĩa là chính xã hội là tội phạm. Ăn cắp từ tâm
trí nghĩa là bản thân người đó là tội phạm - ăn cắp do tâm trí là vấn đề khác.
Người đó không cần thứ gì, ở nhà két bạc người đó đầy ắp, nhưng người đó thấy một
xu nằm trên đường và người đó nhặt nó nhét vào túi. Bây giờ, người này là kẻ cắp
từ tâm trí. Không phải vì nhu cầu của thể chất; thân thể người đó không van nài
người đó ăn cắp, nhưng do tính tham của người. Một xu này thực sẽ không thêm
cho của cải người đó, nhưng cái gì đó sẽ được thêm vào, ít nhất cũng là một xu.
Người đó có thể
có hàng triệu ru pi, nhưng ý định nhặt một xu vẫn có đó - người này là tội phạm
thực. Nhưng người đó không bao giờ bị bắt. Chính kẻ cắp đánh cắp do nhu cầu
thân thể mới bị bắt. Thủ phạm thực là kẻ khác, bởi vì người đó không có lí do
nào hết cả - về mức độ thân thể - để ăn cắp, vậy mà người đó vẫn ăn cắp. Ăn cắp
là thói quen của nó, người đó thu được tinh tuý từ việc ăn cắp.
Tâm lí nói về một
loại bệnh có tên là thói tắt mắt. Đấy là bệnh của tâm trí. Hầu hết mọi người đều
chịu loại bệnh này, nhưng chỉ một số người, những người có bệnh trở nên cấp
tính, mới đi vào chú ý của tâm lí.
Tôi có quen biết
một giáo sư, một người giầu có, rất phong lưu, người có mọi thứ mà người ta phải
thèm muốn, nhưng ông ta chỉ có một đứa con và đứa con này có thói tắt mắt. Nó
phải chịu đựng bệnh ăn cắp vặt này. Nó lấy bất kì thứ gì - chẳng thành vấn đề
thứ đó là cái gì. Nếu nó đến nhà bạn và thấy một cái khuy trên sàn, nó sẽ lập tức
nhét ngay vào túi quần. Nó không dùng gì cái khuy cả. Thậm chí thấy cây kim
khâu nằm đâu đó nó cũng cho luôn vào túi nó. Nó sẽ nhìn vào cuốn sách của bạn rồi
xé ra một trang và nhét vào túi.
Ông giáo sư này
có lần hỏi tôi phải làm gì với nó, bởi vì nó không lấy những thứ mà bạn cảm thấy
nó thực sự ăn cắp và là kẻ cắp. Nó chỉ toàn lấy những thứ tầm thường. Đứa trẻ
này đã học đến bậc thạc sĩ. Nó thông minh. Tôi đã phát triển một chút quan hệ với
nó, cho nên nó cho tôi xem buồng riêng của nó, nơi nó cất mọi thứ nó đã đánh
xoáy. Từng thứ đều được dán nhãn chỉ rõ ai đã bị lừa về việc nào đó, từ nhà ai
thứ khác nào đó bị loại ra, vân vân. Nó hứng thú với sự kiện rằng cho tới nay
không ai có khả năng biết được ai đã lấy đi thứ nào đó và lấy ra làm sao. Nếu
nó đã lấy một cái khuy từ nhà bạn, trên nhãn được viết, “Tôi đã mang đi từ nhà
người nọ người kia, ngay trước mũi họ mà họ thậm chí không mảy may nghi ngờ rằng
điều như thế đã xảy ra.”
Bây giờ mối
quan tâm trong việc đánh cắp là một kiểu khác. Nó không có liên can gì tới nhu
cầu thân thể. Kẻ cắp hoặc là từ thân thể hoặc là từ tâm trí, không có kẻ cắp từ
linh hồn. Cho nên ngày bạn bước vào linh hồn mình, bạn bỗng nhiên nhận ra,
“Mình đã không làm việc ăn cắp đó, mình đã không thực hiện hành động đó; mình
chỉ hiện diện trong hành động đó. Đúng là những hành động đó không thể nào đã bị
phạm phải mà không có mình. Cũng đúng là mình đã không phạm vào những hành động
đó.”
Khoa học hay
dùng một từ, rất giá trị và có ý nghĩa - chất xúc tác. Nếu bạn phân tích nước bạn
sẽ thu được hiđrô và ô xi, không gì khác. H2O là công thức - hai nguyên tử
hiđrô và một nguyên tử ô xi tạo thành nước. Nhưng nếu bạn trộn lẫn hai nguyên tử
hiđrô với một nguyên tử ô xi, bạn không thu được nước.
Điều này rất
thú vị. Khi bạn phân chia nước, bạn được hai phần hiđrô và một phần ô xi. Một
cách tự nhiên, khi bạn trộn hai phần này theo cùng một tỉ lệ bạn đáng phải thu
được nước. Nhưng điều đó không xảy ra. Có một thứ nữa mà sự hiện diện của nó được
cần tới để làm ra nước. Nó không đi vào công thức thực tại, nhưng bản thân công
thức chỉ xảy ra trong sự hiện diện của nó. Cái đó là điện, trong trường hợp
này, và nó được gọi là chất xúc tác. Trên trời, khi sét xảy ra, nó hành động
như tác nhân xúc tác và nước được tạo nên từ ô xi và hiđrô hiện diện trong
không trung. Nó không làm gì cả, nó không đi vào trong nước, nhưng sự hiện diện
của nó là cần thiết.
Nếu bạn lấy
hiđrô và ô xi rồi cho dòng điện chạy qua nước sẽ được hình thành. Nhưng nếu bạn
phân chia nước đó bạn chỉ thu được hiđrô và ô xi, không được điện. Điều ấy có
nghĩa là điện không đi vào trong nước như một thành tố của nước, nhưng nước
không thể được tạo ra nếu thiếu sự hiện diện của nó. Khoa học gọi hiện tượng đặc
biệt này là tác nhân xúc tác.
Bạn không thể
phạm lỗi ăn cắp bằng không có sự hiện diện của linh hồn. Linh hồn tựa như tác
nhân xúc tác, sự hiện diện của nó là cần thiết. Một mình thân thể - chỉ một
mình thân thể thôi - không bao giờ phạm vào bất kì ăn cắp nào. Cho dù bạn đút
tiền vào túi người chết, điều đó sẽ không được gọi là kẻ cắp khi bị phát hiện.
Cái xác phải xoay xở thế nào với việc ăn cắp? Vì đó là cái xác nên nó không thể
thực hiện được những hành động như thế.
Một mình tâm
trí cũng không thể là kẻ cắp được. Dù cho tâm trí nghĩ gì đi chăng nữa, nó cũng
không thể một mình phạm phải tội ăn cắp. Không chỉ có điều đó, nếu không có
linh hồn bên trong nó thậm chí còn không thể nghĩ được. Sự hiện diện của linh hồn
là cần thiết, chỉ thế thì việc ăn cắp xảy ra. Nhưng dầu vậy, rồi một ngày nào
đó người ta đạt tới linh hồn người ta thấy rằng việc ăn cắp đã xảy ra trong sự
hiện diện của linh hồn nhưng linh hồn đã không can dự vào việc ăn cắp. Linh hồn
chỉ hiện diện. Hiện diện của nó mạnh đến mức mọi thứ bắt đầu xảy ra.
Mẩu nan châm
đang nằm kia; mạt sắt bị hút vào. Có lẽ bạn có thể nghĩ rằng nan châm đang hút
chúng - bạn lầm. Chính sự hiện diện của nan châm là đủ. Nó không phải hút, nó
không phải nỗ lực gì để hút cả. Nan châm không phải co bất kì cơ bắp nào để lôi
kéo mạt sắt về nó. Nam châm thậm chí không biết rằng nó đang hút. Chính sự hiện
diện của nan châm và mạt sắt bắt đầu bị hút.
Chính sự hiện
diện của linh hồn và hành động bắt đầu có; thân thể được kích hoạt, tâm trí được
kích hoạt và hành động bắt đầu cuộc hành trình của nó. Cái ngày bạn vào lại
linh hồn này, trong samadhi, bạn được tự do khỏi mọi dấu ấn hành động - không
phải bởi vì những hành động này có cách nào đó bám vào bạn mà bởi vì chúng chưa
bao giờ bám vào bạn ngay chỗ đầu tiên. Trước đây bạn còn chưa bao giờ đạt tới
cái ta bên trong của mình, chỗ mà bạn sẽ hiểu rằng bạn là không bị gắn vào đâu
cả.
Quan điểm này của
Upanishad theo một nghĩa nào đó chống lại đạo đức rất nhiều. Bởi vì điều này đã
có phản đối quyết liệt đối với Upanishad sâu bên trong tâm trí. Bất kì ai là
người đạo đức cũng đều yêu cầu bạn huỷ bỏ hành động xấu bằng hành động tốt, thực
hiện những hành động tốt và không làm những hành vi xấu. Upanishad nói rằng việc
thực hiện những hành vi như vậy là sai. Dù cho bạn có thực hiện hành vi tốt hay
hành vi xấu, đấy cũng chỉ là điều thứ yếu.
Khái niệm của bạn
về việc làm, rằng bạn là người làm – cái đó là ác.
Ác cũng có hai
kiểu: ác tốt và ác xấu, nhưng cả hai đều là ác cả, vì việc tin rằng bạn làm điều
gì đó là ảo tưởng. Bạn chỉ hiện diện và hành động xảy ra; hành động xảy ra chỉ
trong sự hiện diện của bạn. Bạn chỉ là nhân chứng, không phải là người làm.
Cái ngày bạn nếm
trải sự hiện diện này không như người làm mà như nhân chứng, bạn sẽ thấy ra rằng
dù bất kì cái gì đã từng xảy ra chỉ xảy ra xung quanh bạn; bất kì điều gì đã từng
xảy ra bạn đã không làm, nó chỉ xảy ra xung quanh bạn. Các sự kiện đã xảy ra, xảy
ra ngay cạnh bạn, nhưng bạn vẫn xa khỏi nó.
Cũng hệt như
khi bạn mơ ban đêm và bạn tỉnh dậy vào buổi sáng và bạn nói, “Tôi có giấc mơ”;
bạn vẫn còn tách biệt với nó. Có thể là bạn phạm tội ăn cắp trong giấc mơ, có
thể là bạn trở nên bị tù trong giấc mơ, có thể là bạn tự cứu được mình khỏi bị
tù bằng cách hối lộ. Bất kì cái gì có thể xảy ra trong giấc mơ, nhưng khi bạn
thức dậy vào buổi sáng, mơ biến mất hoàn toàn - dường như nó chưa bao giờ xảy
ra cả. Sau khi thức dậy vào buổi sáng bạn không tự coi mình là kẻ cắp.
Nhưng đã bao giờ
bạn có ý nghĩ: mơ liệu có thể có đó mà không có mình không? Mơ có thể xảy ra bởi
vì bạn còn có đó. Nếu bạn không có đó... mơ sẽ không xảy ra cho xác chết. Mơ xảy
ra bởi vì bạn có đó, sự hiện diện của bạn là cái cần phải có để cho nó xảy ra.
Vậy mà lúc tỉnh dậy vào buổi sáng bạn không cảm thấy bận tâm rằng mình phạm tội
ăn cắp. Làm gì bây giờ để bù lại điều đó? Nhịn ăn, trừng phạt, làm từ thiện, từ
bỏ? Làm gì? Không bạn không cảm thấy phải làm gì cả. Mơ thậm chí cũng không còn
lại trong trí nhớ quá hai phút sau khi thức. Nó biến mất tựa như làn khói.
Trong trạng
thái của samadhi đúng, toàn bộ cuộc sống tựa như giấc mơ, dù người ta đã sống bất
kì cái gì... không chỉ trong kiếp sống này mà trong vô hạn kiếp sống để đi tới
trạng thái samadhi. Giống như vào buổi sáng khi bạn đi tới trạng thái thức từ
giấc ngủ, tương tự như vậy, khi bạn tới trong samadhi từ cái gọi là trạng thái
thức, toàn thể cái vòng quá khứ, mọi chất liệu mơ đều tan biến tựa khói.
Người đã đạt tới
trong samadhi lần đầu tiên biết rằng, “Mình chỉ hiện hữu; mọi hành động đã xảy
ra gần mình tựa như mơ.” Và không lo âu hay nuối tiếc gì về chúng còn lại.
Không còn lại tự ca ngợi - “Mình đã làm hành vi vĩ đại làm sao” - không còn tự
kết án, “Mình làm hành vi tầm thường làm sao.” Không, mọi thứ đều biến mất.
Trong mơ của bạn,
dù bạn là hoàng đế, sannyasin vĩ đại, kẻ sát nhân hay kẻ cắp - không người nào
trong số đó làm thay đổi hương vị của cốc trà buổi sáng của bạn. Tất cả ba điều
này trở nên vô nghĩa. Không phải là nếu bạn là hoàng đế trong mơ thế thì buổi
sáng bạn uống trà mơ về giấc mơ, hay nếu bạn là kẻ cắp, tên vô lại, tên sát
nhân trong mơ, thế thì bạn cảm thấy mặc cảm và chén trà mang vị chát. Bạn không
bỏ uống trà vì bạn đã là sadhu, hiền nhân trong giấc mơ. Cũng không xảy ra là bạn
nghĩ, “Mình đã từng là thánh nhân cả đêm dài và bây giờ mình uống trà vào buổi
sáng sau - hành động đáng xấu hổ làm sao.” Không, khi bạn uống trà buổi sáng mọi
giấc mơ của bạn đã qua rồi.
Tôi đã từng
nghe... Rinzai là một thiền sư vĩ đại ở Nhật, và một lần, khi ông ấy thức dậy
vào buổi sáng, ông ấy nói với đệ tử đang đứng cạnh đó, ‘Ta sẽ kể lại giấc mơ
đêm qua nếu ông giải thích cho ta.”
Đệ tử của ông ấy
nói, “Xin thầy đợi vài phút, trước hết tôi phải bưng nước cho thầy rửa mặt và rửa
tay đã.”
Đệ tử đem nước
tới. Rinzai rửa mặt và rửa tay rồi mỉm cười. Vào lúc đó một đệ tử khác tới.
Rinzai nói, “Đêm qua ta đã có giấc mơ. Ta đang định kể giấc mơ đó cho đệ tử thứ
nhất, yêu cầu anh ta xác định nó, nhưng anh ta đã xác định nó trước khi ta kể
cho anh ta. Vậy thì ông sẽ xác định nó chứ? Ta sẽ kể nó cho ông chứ?" Đệ tử
kia nó, “Xin thầy vui lòng đợi một phút, để tôi mang cốc trà lên cho thầy đã rồi
chúng ta sẽ xem.”
Sau khi trà được
đem lên, Rinzai cười to và nói, “Ta rất hài lòng, bây giờ không cần kể lại giấc
mơ làm gì.” Có một người nữa hiện diện theo dõi mọi điều này. Người đó nghĩ thật
quả không có giới hạn nào cho xuẩn ngốc. Người đó nói, “Có giới hạn cho mọi điều
chứ. Giấc mơ thậm chí còn chưa được kể ra mà việc xác định đã làm xong rồi, và
mọi thứ đã được giải quyết.” Người đó yêu cầu Rinzai ít nhất thuật lại giấc mơ
để cho người ta còn biết được giấc mơ về gì.
Rinzai nói, “Ta
thử các đệ tử của ta đấy thôi. Nếu như họ biểu lộ bất kì sự sẵn sàng xác định
ra giấc mơ ta sẽ tống cổ họ ra khỏi đạo tràng. Có cần phải xác định giấc mơ không?
Nó đã là mơ, và sự việc xong rồi. Người thứ nhất đã làm điều đúng. Người đó
nói, ‘Vẫn còn bóng dáng giấc mơ lấp ló cho nên xin thầy rửa mặt bằng nước lạnh.’
Người thứ hai cũng làm điều đúng: ‘Có lẽ việc rửa mặt vẫn chưa đủ, mơ vẫn còn
phảng phất trong tâm trí, cho nên xin thầy uống cốc trà nóng và thức dậy!’ - và
đó là việc xác định giấc mơ. Có thể có cách xác định nào khác về giấc mơ không?
Chỉ thức dậy là giấc mơ trở thành vô nghĩa. Cái gì có đó để mà xác định trong
nó? Không ai bận tâm tới việc xác định điều vô nghĩa.”
Điều chúng ta gọi
là hành vi lớn, hành vi nhỏ, hành vi tốt, hành vi xấu - biết bao phân chia mà
chúng ta còn chưa làm nữa - đạo đức, vô đạo đức, hạnh kiểm tốt, hạnh kiểm xấu;
tất cả chúng trở thành vô nghĩa, vô tích sự trong samadhi. Khi thức tỉnh trong
samadhi người ta thấy ra rằng tất cả chỉ là giấc mơ dài, vô tận, vô hạn, và người
ta chỉ hiện diện ở đó. Bạn chưa bước vào nó, bạn vẫn đứng bên ngoài. Đây là lí
do tại sao mọi dấu ấn hành động đều bị phá huỷ, và pháp, tự tính, nảy sinh. Khi
mọi dấu ấn hành động đều bị huỷ bỏ, khi mọi thứ mà chúng ta can dự vào đều bị
huỷ bỏ, chúng ta đi tới biết cái chúng ta đang là, cái là bản thể của chúng ta,
tự tính của chúng ta. Tự tính là pháp, tôn giáo.
Những người biết
về yoga gọi nó là Dharmamegha - đám mây mưa pháp - samadhi, bởi vì nó mưa rào
xuống hàng nghìn dòng suối cam lồ pháp, bản tính tự nhiên, tựa như đám mây mưa.
Dharmamegha là
một từ hay. Mây chúng ta đã thấy. Khi ở Ashadh, tháng đầu tiên của mùa mưa tới,
mây tụ tập trên bầu trời. Nhưng chúng ta không nhận biết về toàn thể hiện tượng
này. Những đám mây đó tụ tập trên trời ở Ashadh, và công bắt đầu múa. Những đường
nứt nẻ lớn kéo dài trên đất do cái nóng mùa hè, dường như là đất há môi, như là
đất mở cửa mọi phía để uống từng giọt nước cho sự thoả mãn của trái tim nó. Và
cơn khát mà đất phải đợi chờ lâu thế, và cơn khát mà cây cối đã phải bơ phờ tựa
như cá bị quẳng lên cát khô. Thế rồi những đám mây này tụ lại trên trời và mưa
bắt đầu trút xuống dưới bóng của mây đen, và điệu vũ, một bài ca giăng ra khắp
nơi.
Dharmamegha là
hiện tượng tương tự như với Ashadh xảy ra bên trong bạn. Dường như là bản thể bạn
đã khát nước không biết bao nhiêu kiếp rồi, những đường nứt nẻ đã xuất hiện
trong nó, không có dấu vết nào của nước ở bất kì đâu mà có thể làm dịu nó. Bạn
đã uống nước, nhưng điều ấy chỉ làm tăng thêm cơn khát chứ không làm dịu được
nó. Bạn đã uống bao nhiêu kiểu nước, đã đi qua nhiều nguồn nước, và ai biết điều
bạn đã không tìm kiếm và nắm giữ. Nhưng mọi lần hi vọng biến thành thất vọng,
không cái gì tới tay bạn. Cơn khát này và mảnh đất nứt nẻ của toàn thể bản thể
bạn, đầy những khao khát... những đám mây mưa lần đầu tiên tụ tập trên nó vào
khoảnh khắc của samadhi. Ashadh đến bên trong, và cơn mưa rào cam lồ - đó chỉ
là biểu tượng - cơn mưa rào cam lồ bắt đầu xảy ra lần đầu tiên. Lần đầu tiên,
vào những khoảnh khắc của samadhi, linh hồn được tắm táp và nước cam lồ bắt đầu
trút xuống từ những đám mây đó trong vô hạn những luồng mạch.
Mô tả này chỉ
là biểu tượng. Điều thực sự xảy ra còn lớn hơn nhiều lắm. Gọi nó là cam lồ thực
tế không thể cho chúng ta ý tưởng nào về nó. Nhưng dầy vậy chúng ta vẫn có được
chỉ dẫn nào đó rằng đám mây tụ tập trên trời... mưa rào bắt đầu từ chúng và
linh hồn, cơn khát đời kiếp được thoả mãn.
Những người biết
về yoga gọi nó là Dharmamegha - đám mây mưa pháp - samadhi, bởi vì nó trút xuống
dòng suối cam lồ pháp, bản tính tự nhiên, tựa như đám mây mưa rào.
Nhưng tại sao
nó được gọi là dharmamegha? Bởi vì lần đầu tiên tự tính trút xuống người ta.
Pháp nghĩa là tự tính.
Bất kì điều gì
chúng ta đã biết cho tới nay đều là bản tính của người khác. Đôi khi cái đẹp được
thấy là ở trong ai đó khác. Đôi khi tình yêu được nhận nó là từ ai đó khác. Hạnh
phúc được nhận, bất hạnh được nhận. Nó bao giờ cũng từ người khác, mọi thông
tin đều qua người khác; không có kinh nghiệm nào của riêng người ta. Ai đó
khác, ai đó khác, ai đó khác - bao giờ cũng người khác, và chỉ người khác là
quan trọng. Bây giờ lần đầu tiên người khác bị vứt bỏ đi và cái ta bắt đầu mưa
rào lên cái ta. Điều đó tựa như chiếc lò xo của chúng ta bật tung ra, điều đó tựa
như người ta đã tìm thấy suối nguồn riêng của mình và cái ta bắt đầu mưa rào
lên cái ta.
Dharmamegha
nghĩa là tự tính đã bắt đầu mưa rào xuống. Bản thân bạn trở nên được tắm trong
nó, được chìm ngập trong đó; trở nên tươi tắn, trở nên mới mẻ. Mọi dấu ấn hành
động, mọi bụi bẩn, mọi thứ lộn xộn trong cuộc hành trình vô hạn, mọi rác rưởi
đã tụ tập trên ngoài ta, tất cả bị quét sạch. Tất cả những cái còn lại là bản
tính, tự phát; mọi cái còn lại là bản thân người ta, không gì khác.
Theo một nghĩa
nào đó chúng ta có thể gọi nó là phúc lạc tối thượng, theo một nghĩa nào đó
chúng ta có thể nói đây là kho báu tối thượng, và theo một nghĩa nào đó chúng
ta cũng có thể nói đây là cái nghèo tối thượng. Nếu chúng ta nghĩ về điều
thiêng liêng, con người này đã đạt tới của cải tối thượng. Đó chính là
dharmammegha samadhi cái Jesus gọi là “Nghèo của tâm linh.” Khi ai đó đạt tới
điểm này, người đó trở thành nghèo về mọi phương diện. Bây giờ người
đó không còn gì ngoài bản thân người đó, không cái gì khác còn lại ngoại
trừ cái ta riêng của người ta. Đây là điều được gọi là nghèo.
Đây là lí do tại
sao Phật gọi sannyasin của mình là bhikkhu khất sĩ, không là swami. Đó là vì
dharmammegha samadhi. Phật nói, “Ta không gọi sannyasin của ta là swami, ta sẽ
gọi họ là bhikkhu.” Nhưng chúng mang nghĩa cùng một điều. Nếu bạn nhìn từ phía
thế giới, họ đã trở thành khất sĩ - bhikkhu, kẻ ăn xin. Nếu bạn nhìn từ phía của
điều thiêng liêng, họ đã trở thành swami, người chủ, hoàng đế.
Người Hindu đã
dùng từ swami từ khía cạnh khác: sau khi đạt tới samadhi, lần đầu tiên người ta
trở thành hoàng đế, người chủ. Cho đến tận bây giờ người ta đã từng là kẻ ăn
xin, ăn xin tứ phương, với tay chắp lại và bát ăn xin chìa ra. Cho đến tận bây
giờ linh hồn bạn đã từng không là gì khác hơn cái bát ăn xin. Bất kì mẩu vụn
bánh mì ai đó ném vào trong bát ăn xin đó là kho báu duy nhất của bạn. Đồ ăn thừa,
thức ăn ôi thiu, cũ mốc, mẩu vụn bánh rơi xuống từ bàn ăn - bạn kí cóp tất cả
và coi nó như kho báu của mình. Người đó đã là kẻ ăn xin mãi tới giờ.
Do đó người
Hindu đã gọi sannyasin - người từ bỏ - đạt tới dharmammegha samadhi là swami.
Nhưng Phật nói, “Bất kì cái gì có đó cho tới lúc này - tất cả giầu có, đế quốc,
toàn bộ thế giới - tất cả đã bị bỏ lại đằng sau. Không cái gì của người khác
còn lại, chỉ mỗi cái ta. Cái nghèo tối thượng đã xảy ra. Khi bạn một mình không
có bất kì cái gì khác, thậm chí không quần áo, thậm chí không nhà riêng của
mình, thậm chí không đất riêng của mình - không cái gì còn lại là của riêng bạn
mà chỉ mỗi cái ta... ai có thể nghèo hơn? Ngay cả kẻ ăn xin cũng có cái gì đó
khác hơn cái ta của người đó. Nó có thể nhỏ, nhưng nó là cái gì đó; cái gì đó
khác hơn cái ta của người đó. Nó có thể chỉ là bộ đồ lót, nhưng cái đó nữa cũng
là của cải.”
Ngay cả kẻ ăn
xin cũng chưa là kẻ ăn xin đến mức người đó là tất cả một mình, không cái gì
khác.
Phật đã nói với
các khất sĩ rằng thế giới sẽ bị vứt bỏ khỏi họ theo cách không cái gì còn lại,
theo cách thậm chí một dấu vết của thế gian cũng không còn lại. Bạn trở thành kẻ
ăn xin toàn bộ khi có liên quan tới thế gian và mọi của cải.
Nhưng hai điều
này là một. Người trở thành kẻ ăn xin từ phía thế gian trở thành swami từ phía
linh hồn. Người trở thành swami từ phía linh hồn trở thành kẻ ăn xin của thế
gian. Đó là lí do tại sao chúng ta có nhiều kính trọng đến thế đối với khất sĩ,
như chưa bao giờ có cho bất kì người nào có của cải. Chúng ta tấn phong khất sĩ
lên ngôi mà chúng ta chưa bao giờ tấn phong cho hoàng đế. Từ khất sĩ trở thành
đáng kính.
Bây giờ nghĩa của
từ khất sĩ là kẻ ăn xin, và nếu bạn gọi ai đó là khất sĩ, người đó sẽ muốn đánh
bạn. Nhưng Phật gọi những đệ tử ân huệ nhất của mình là khất sĩ. Bất kì ai được
ông ấy gọi là khất sĩ đều trở nên được ân huệ. Đôi khi những người như thế tạo
ra vấn đề ngay cả trong lĩnh vực ngôn ngữ. Những người như Phật làm cho ngôn ngữ
bị đảo lộn. Đã có ý nghĩa rõ ràng cho từ khất sĩ và ông ấy làm biến chất nó.
Ông ấy cho nó một nghĩa hoàn toàn mới - khất sĩ trở thành hoàng đế. Nếu hoàng đế
cúi lạy dưới chân khất sĩ, điều đó ban cho khất sĩ danh giá lớn lao.
Dharmammegha
samadhi làm cho người ta là kẻ ăn xin bên ngoài nhưng là hoàng đế bên trong.
Trong samadhi
này, mạng lưới ham muốn tan biến hoàn toàn và những tầng dầy nghiệp tích tụ, dù
đức hạnh hay tội lỗi, đều bị nhổ bật mọi gốc rễ tại chính ngọn nguồn của chúng.
Nhớ lấy, cả đức
hạnh lẫn tội lỗi. Đây là chiều sâu của suy nghĩ Upanishad. Bụi rậm đức hạnh và
tội lỗi, cả hai; tất cả những điều tốt bạn đã làm, điều đó nữa, tất cả những điều
xấu bạn đã làm, điều đó nữa... bụi rậm của cả hai bị phá huỷ tận gốc rễ của
chúng.
Đừng nghĩ rằng
khi bạn đạt tới Thượng đế bạn sẽ giữ bảng kê ngân hành về đức hạnh của bạn cùng
bạn - “Con đã làm nhà trọ cho người khác ở không mất tiền. Con đã xây đền chùa.
Con đã cho một số người brahmin thức ăn. Ngài có bản ghi về điều đó không?” Nếu
bạn tới cổng thiên đường với bản kê về những điều này, chả thành vấn đề biển ở
lối vào ghi 'Thiên đường', bên trong bạn sẽ thấy chỉ địa ngục.
Theo ngôn ngữ
thế gian, đức hạnh và tội lỗi đằng cao đằng thấp. Tội lỗi là xấu còn đức hạnh
là tốt. Điều này có thể ổn thoả theo cái nhìn của xã hội, nhưng trong cái nhìn
tối thượng của pháp, cả đức hạnh lẫn tội lỗi đều vô nghĩa, bởi vì là người làm
tức là tội lỗi và là người không làm là đức hạnh. Có một điều là rõ ràng - chỉ
người nào là người không làm, người vô ngã, sẽ có khả năng vào. Chỉ người đó sẽ
có khả năng vào đó, người không có đó - người đã biến mất và đang sắp sửa là
cái không. Nếu bạn như một bản ngã vẫn có đó dù chỉ hơi chút con đường sẽ rất hẹp
và bạn sẽ không có khả năng vào được.
Có một phát biểu
của Jesus chưa bao giờ được giải thích nghĩa tâm linh của nó. Thực ra, người
phương Tây không có khả năng tìm ra được nghĩa tâm linh; do đó bất kì nghĩa nào
được suy diễn ra cũng đều biến thành lời trần tục.
Lời của Jesus
là, “Lạc đà có thể chui lọt lỗ trôn kim nhưng kẻ giầu sẽ không bao giờ có khả
năng vào thiên quốc được.” Nhưng sau hai nghìn năm Ki tô giáo thậm chí vẫn chưa
lần nào có ai diễn giải đúng phát biểu này. Hai nghìn năm là một khoảng thời
gian dài.
Toàn thể diễn
giải đã được trao cho là ở chỗ người giầu không thể lên cõi trời được. Có khả
năng lạc đà chui qua được lỗ trôn kim không? Điều ấy không thể có được. Làm sao
lạc đà lại chui qua được lỗ trôn kim? Nhưng điều không thể ấy, Jesus nói, bằng
cách nào đó có thể xảy ra; thủ đoạn nào đó có thể được phát minh ra, cách thức
nào đó có thể được tìm ra để lạc đà chui qua lỗ trôn kim. Nhưng người giầu sẽ
không có khả năng được vào qua cổng cõi trời. Người Ki tô giáo chỉ hiểu ý nghĩa
nông của nó, nhưng đấy không phải là nghĩa đúng.
Điều gì được ngụ
ý bởi việc là người giầu, người cảm thấy thậm chí hơi chút rằng mình có cái gì
đó. Người giầu là người có khái niệm về việc có cái gì đó. Cho nên nếu ai đó cảm
thấy mình thu được đức hạnh, người đó là người giầu. Nếu ai đó cảm thấy rằng
mình đã là sadhu, gìn giữ việc tự kiểm soát, sám hối, người đó là người giầu.
Nghĩa của người giầu là ai đó, người nói mình có cái gì đó về mình chứ không phải
về bản thân người đó. Đây là người giầu. Nếu người đó nói, “Tôi đã thực hiện biết
nhiều lời cầu nguyện, đã tiến hành nhiều cuộc nhịn ăn, đã đứng dưới ánh nắng mặt
trời trong nhiều ngày. Trong nhiều năm tôi đã đứng trên đôi chân mà không ngồi
xuống. Tôi đã làm bao nhiêu việc phục vụ người nghèo, đã đi thăm nhiều bệnh viện,
đã làm điều này, đã làm điều nọ” - nếu người đó có cái gì để tuyên bố thế thì
người này là người giầu đó.
Bây giờ nghe lại
phát biểu của Jesus lần nữa: “Lạc đà có thể chui lọt lỗ trôn kim nhưng kẻ giầu
sẽ không bao giờ có thể lọt vào thiên quốc được.”
Ai là nghèo?
Người không có gì để giãi bày khi đứng trước Thượng đế. Và nếu một người nói,
“Con đã thiền, con đức hạnh, con có tôn giáo” thì sao? Không, người đứng trống
không trước Thượng đế và nói, “Con có cái không, chỉ có con thôi. Bất kì cái gì
con đang là đều là mọi thứ ngài đã cho con, không có tích luỹ gì của riêng con;
chính bản thể con là mọi thứ của con, con thậm chí không tính đến cả hành động
của mình...” Người đứng trước cánh cửa đó với cái trống rỗng như thế là người
nghèo. Người đó là khất sĩ của Phật, ‘người nghèo’ của Jesus. Người như thế có
khả năng vào thiên quốc của Thượng đế.
Cho nên ý nghĩa
đúng của việc là nghèo là, người trống rỗng. Người trống rỗng có khả năng đi
vào. Và đây là lí do tại sao Jesus nói về con lạc đà. Lỗ trôn kim rất nhỏ -
không có cách nào để lạc đà chui qua được nó. Cửa vào thiên quốc của Thượng đế
thậm chí còn nhỏ hơn lỗ trôn kim - chỉ cái trống rỗng có thể đi qua được nó.
Cho dù có một chút xíu cái gì đó cùng bạn, cho dù một chút xíu của cái ‘tôi’,
nó sẽ mắc kẹt lại. Bạn đang cố đi qua lỗ trôn kim cùng với con lạc đà của mình.
Điều đó là không thể được. Bỏ con lạc đà đi!
Nhưng rất khó từ
bỏ xe cộ của chúng ta, bởi vì trên xe chúng ta trông cao hơn. Đây là cách Jesus
phải đã nghĩ đến lạc đà. Bất kì ai cưỡi trên bản ngã của mình đều đang cưỡi
trên lạc đà. Và mọi người biết cưỡi lạc đà khó chịu thế nào. Cưỡi trên bản ngã
là cưỡi lạc đà vậy. Người ta phải chịu những cú xóc nảy người, những cú nhảy
suýt ngã, nó liên tục lên lên xuống xuống. Tuy nhiên người ta dường như ở cao.
Người ta phải
xuống lạc đà. Bất kì cái gì bạn có, nó tới từ việc làm của bạn - mọi thứ, bất
kì cái gì! Bất kì cái gì bạn có bởi việc làm của bạn đều bị giới hạn bởi tâm
trí bạn; tâm trí là biên giới của nó. Không cái gì đạt tới linh hồn mà đã tới từ
việc làm của bạn.
... mạng lưới
ham muốn tan biến hoàn toàn... nghiệp - dấu ấn hành động - được gọi là đức hạnh
hay tội lỗi tất cả đều bị bật rễ tại chính cội nguồn của chúng. Thế thì phát biểu
này... Tattvamasi, Cái đó là ngươi - là đúng, chỉ được nhận ra một cách gián tiếp...
Thế thì lần đầu
tiên điều mà người thấy này ngụ ý được kinh nghiệm - Tattvamasi là gì, Cái đó
là ngươi. Nó lần đầu tiên được kinh nghiệm một cách gián tiếp - một cách gián
tiếp! Ngay bây giờ nó không được thấy rất rõ ràng. Ngay bây giờ nó chỉ cảm thấy
như vậy, nó mới chỉ được động chạm, được suy diễn; nó còn chưa là kinh nghiệm
trực tiếp. Khi dharmamegha này mưa rào lên người ta, khi tâm trí trở nên tuyệt
đối trống rỗng và cái nghèo trở thành tối thượng và người tìm kiếm trở thành
không là gì ngoài trống rỗng bên trong, thế thì lần đầu tiên phát biểu tối cao
này, Tattvamasi, rằng bạn là Brahman, được kinh nghiệm một cách gián tiếp.
Những người thấy
này của Upanishad là những người rất tuyệt diệu. Họ vẫn nói rằng đấy không phải
là một kinh nghiệm trực tiếp. Điều ấy vẫn dường như là chúng ta đang ngồi với
đôi mắt nhắm, và tiếng bước chân của ai đó được nghe thấy và chúng ta cảm thấy
rằng ai đó đã đến, nhưng đấy là gián tiếp. Trời rất tối và khó mà thấy được, và
bỗng nhiên tiếng vọng của một bài ca du dương lan rộng và chúng ta cảm thấy rằng
ai đó đang hát. Đây là tri thức gián tiếp.
Gián tiếp nghĩa
là, đến giờ không có đương đầu mặt đối mặt, đến giờ nó chỉ được cảm thấy. Điều
đầu tiên xảy ra sau mưa rào dharmamegha là kinh nghiệm gián tiếp về phát biểu:
“Tattvamasi - Cái đó là ngươi - được người thấy, Upanishad, nói ra, là đúng.”
Phát biểu đó bạn đã nghe thấy - đã lắng nghe trong shravana, đã suy tư trong
manan, đã hấp
thu trong nididhyasan, đã đạt tới tính một trong samadhi, bây giờ trong
mưa rào của dharmamegha samadhi nhất định là đúng. Khi bạn hiểu, “Cái đó là
đúng,” đây là tri thức gián tiếp.
Nhưng hôm nay
người ta đi tới cảm thấy nó, người ta nếm nó - rằng điều đó đã được nói đúng.
... chỉ được hiểu
một cách gián tiếp ...
Khi tri thức
gián tiếp này trở nên ổn định và khi không còn dù chỉ một gợn điều phản đối thuộc
bất kì loại gì ở bất kì đâu, khi nó lắng đọng không hoài nghi, trở thành tin cậy
không tường minh...
... rồi tri thức
trực tiếp, tựa như quả myrobalan trên lòng bàn tay, được sinh ra.
Khi tri thức
gián tiếp này trở nên hoàn toàn ổn định, khi toàn bộ bản thể kinh nghiệm và nói
rằng người thấy là đúng khi nói, “Tattvamasi - Cái đó là ngươi”; khi không còn
một gợn của bất kì loại phản đối nào ở bất kì đâu, khi nó cảm thấy toàn bộ chân
lí - mặc dầu vẫn còn gián tiếp - thế thì kinh nghiệm về Tattvamasi trở thành trực
tiếp và lập tức, dường như ai đó đã đặt một quả myrobalan vào lòng bàn tay bạn.
Thế thì một người như vậy không nói, “Điều người thấy đã nói là đúng.” Người
như vậy nói, “Tattvamasi bây giờ là phát
biểu của tôi.”
Với tri thức
gián tiếp, người này nói, “Bởi vì người thấy đã nói điều đó, tôi có thể nói rằng
nó là đúng.” Trong tri thức trực tiếp, người này sẽ nói, “Tôi nói điều đó là
đúng, do đó người thấy cũng phải có quyền nói như vậy.” Cố hiểu khác biệt này
cho đúng.
Trong tri thức
gián tiếp, bằng chứng đến từ Veda, người thấy, kinh sách. Đó là lí do tại sao
cuộc hành trình đã bắt đầu với shravana - lắng nghe. Thầy đã nói điều đó, cho
nên nó phải đúng - việc tìm kiếm đã bắt đầu trong tin cậy này. Đó là tri thức
gián tiếp chừng nào bạn cảm thấy, “Thầy đã nói điều đó, cho nên nó phải đúng.”
Và người biết thầy chấp nhận một cách khẳng định rằng thầy phải đã nói điều đó
đúng.
Nếu ai đó ở
cùng Phật và Phật nói, “Tattvamasi - Cái đó là ngươi,” thế thì người này thậm
chí không thể quan niệm được cái gì sai. Người đó không có ý tưởng gì về việc
phát biểu này là đúng hay không, nhưng người đó biết Phật, cho nên điều Phật
nói trở thành chân thực cho người đó. Điều cái gì đó không chân thực đến từ lời
của Phật nằm ngoài vấn đề với người đó, người đó không thể quan niệm được điều
này.
Với người đã sống
gần thầy, đã biết thầy, lời thầy là bằng chứng cho người đó. Nhưng, “lời thầy
là bằng chứng,’ là tri thức gián tiếp, nó đến từ người khác. Đây sẽ là việc nhận
ra đầu tiên. Khi một đệ tử của Phật đạt tới samadhi người đó chắp tay sẽ cúi xuống
chân Phật và nói, “Bây giờ tôi hiểu rằng điều thầy đã nói là đúng.” Nhưng khi
việc nhận ra này sâu sắc hơn, người đó sẽ chìm sâu hơn, tình huống sẽ thay đổi
hoàn toàn. Thế thì người đó sẽ nói, “Tôi biết điều đó. Và bây giờ tôi nói rằng
kinh nghiệm của tôi là ở chỗ điều đó đúng; điều thầy đã nói cũng đúng.”
Bây giờ bản
thân người này trở thành bằng chứng, bản thân người này trở thành kinh sách.
Chính người như vậy chúng ta đã gọi là vị phật, tirthankara, hoá thân, một người
mà bản thân người đó là bằng chứng - người không nói rằng bởi vì nó được viết
ra như thế trong Veda nó là đúng, nhưng là người nói rằng bởi vì nó được biết bởi
họ là đúng, nó là đúng. Và nếu Veda cũng nói cùng những điều ấy thế thì theo thẩm
quyền của việc biết của họ, Veda cũng đúng. Và nếu Veda không nói như thế, Veda
là sai. Bây giờ tiêu chuẩn là ở kinh nghiệm riêng của người ta. Bây giờ hòn đá
thử của riêng người ta có sẵn.
Đây là trạng
thái của siddhas, người viên mãn.
Khi samadhi từ
tri thức gián tiếp vào tri thức trực tiếp, nó trở thành trạng thái của siddhas.
Chỉ nếu một người đã đạt tới trạng thái như thế trở về qua samadhi, hấp thu và
suy tư cho tới bước thuyết giảng, có thế chúng ta mới có được tin tức của thế
giới đó. Cho nên nếu chúng ta kính trọng quá nhiều vào kinh sách, đấy là vì
chúng là lời của những người đã được nghe bởi những người sống gần với họ và
người đã thấy rằng bất kì điều gì người đó nói, người đó không bao giờ nói cái
gì sai. Vậy mà người như thế không yêu cầu người ta phải tin vào điều họ nói.
Phật nói, “Suy
nghĩ, ngẫm nghĩ, suy tư, hấp thu, thực hành, và nếu nó trở thành kinh nghiệm
riêng của ông, chỉ thế thì chấp nhận nó. Đừng chấp nhận chỉ bởi vì ta nói nó, đừng
chấp nhận chỉ bởi vì Phật nói nó, đừng chấp nhận bởi vì kinh sách nói nó.
Không, ông đi tìm và ông tìm kiếm nó, và khi nó trở thành kinh nghiệm riêng của
ông thế thì ông cũng sẽ trở thành nhân chứng cho nó.”
Người đã đạt tới
samadhi trở thành nhân chứng cho mọi kinh sách - không phải là người biết về
chúng mà là nhân chứng cho chúng. Học giả trở nên thông thái về chúng, người đã
chứng ngộ trở thành nhân chứng. Học giả nói kinh sách là đang nói về điều đúng
bởi vì nó hấp dẫn với logic; người đã chứng ngộ nói kinh sách là đang nói về điều
đúng bởi vì đấy là kinh nghiệm của tôi nữa.”
Xem tiếp Chương 12 – Quay về Mục lục
Chương 11. Cơn khát của linh hồn
4/
5
Oleh
John Nguyen
