Osho
- Con đường bên ngoài mọi con đường
Chương 2: Truy tìm
Katham bandhah - tù túng là gì?
Katham mokshah - giải thoát là gì?
Vidya, việc biết thật, là gì
và avidya, việc biết giả là gì?
Thức, mơ, ngủ và turiya -
cái thứ tư - bốn trạng thái này là gì?
Năm thể này là gì?
- annamay, được tạo nên từ thức ăn;
pranamay, được tạo nên từ sinh lực;
manomay, được tạo nên từ năng lượng tâm lí;
vigyanamay, được tạo nên từ nhận biết;
anandamay, được tạo nên từ phúc lạc.
Người làm là gì? Linh hồn hiện thân này là gì?
Năm loại này là gì?
Ai là người biết?
Ai là nhân chứng? Ai là người ở chỗ sâu nhất?
Ai là người biết về tất cả các ý nghĩ và cảm giác?
Jeevatma, linh hồn cá nhân, là gì,
và paramatma, linh hồn vũ trụ là gì?
Maya, ảo tưởng là gì?
Sau lời cầu nguyện tới điều thiêng liêng, truy tìm
bắt đầu. Truy tìm chỉ có thể bắt đầu sau lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện đem
trái tim vào một không gian trong đó tạo ra trạng thái nhạy cảm và đón nhận của
tâm trí, đến mức mà bây giờ truy tìm không chỉ được tiến hành vì tò mò, nó đã
biến thành khát khao giải thoát. Truy tìm không có lời cầu nguyện, chỉ là trò
chơi trí tuệ, vài ai đó đi truy tìm mà không cầu nguyện thì chẳng truy tìm chút
nào. Nếu ai đó vẫn ngồi trong bóng tối với cánh cửa của mình đóng chặt mà lại
truy tìm về mặt trời và về ánh sáng, người đó có thể tiếp tục cuộc truy tìm này
nhưng người đó sẽ chẳng bao giờ thu được câu trả lời.
Một trong những trò chơi lớn nhất của tâm trí là:
khi nó không nhận được câu trả lời nào, nó bịa ra câu trả lời nào đó trong bóng
tối, chẳng bao giờ biết tới mặt trời. Ai đó sẽ phát biểu, “Mặt trời không tồn
tại” - không phải bởi vì người đó biết rằng mặt trời không tồn tại, mà bởi vì
với người đó thì phủ nhận điều mình không thể biết được còn dễ hơn là cho phép
phiền não của người đó, trạng thái không biết của người đó, cứ tồn tại dai
dẳng. Phiền não biến mất với phủ nhận; thế thì chúng ta có thể vẫn còn hài lòng
trong bóng tối của mình. Người chưa mở ra cánh cửa của mình thì có thể vẫn tiếp
tục truy tìm về mặt trời và về ánh sáng, nhưng người đó sẽ không nhận được câu
trả lời. Và khi không nhận được câu trả lời, người đó thậm chí không thể phủ
nhận được sự tồn tại của mặt trời, nhưng thay vì thế, có thể bịa ra mặt trời
tưởng tượng, bịa ra khái niệm riêng của mình, ý niệm riêng của mình. Và những
khái niệm này cũng chỉ là giả tạo như sự phủ nhận của người đó.
Người không tin mà đứng trong bóng tối thì cũng giả
tạo như người tin mà đứng trong bóng tối. Không biết về điều thiêng liêng,
những phát biểu của họ về sự tồn tại hay không tồn tại của điều thiêng liêng là
vô nghĩa. Cả hai phát biểu này đều vô nghĩa. Và điều thực sự thú vị là những
tranh luận và thảo luận lớn lao vẫn diễn ra trong bóng tối giữa hai nhóm này,
những người chẳng biết gì cả.
Người dốt nát đầy những tranh cãi. Người dốt nát
không biết, ấy vậy mà rất hay ba hoa. Tranh cãi cứ tiếp diễn mãi, các học
thuyết có thể được lập ra... Trong thực tế các học thuyết chỉ có thể được tạo
ra trong bóng tối; trong ánh sáng không thể có niềm tin được. Ánh sáng là đủ;
niềm tin là không cần thiết. Mọi học thuyết đều được sinh ra trong bóng tối, vì
nơi có ánh sáng thì chẳng cần đến ai cả. Nơi chân lí được hiển lộ, lời tan
biến; và nơi chân lí là mọi thứ thì các học thuyết chẳng để làm gì. Niềm tin
chỉ là cái thay thế, cái bù đắp; khi chân lí còn không được biết tới, chúng ta
tạo ra niềm tin và thế chúng vào chỗ của chân lí.
Truy tìm đúng đắn bắt đầu với lời cầu nguyện. Khi
tôi nói điều này, tôi ngụ ý rằng ai đó muốn biết mặt trời, ít nhất cũng phải
hoàn thành một điều kiện: rằng người đó nên mở cửa nhà mình. Nếu có khao khát
để biết mặt trời, người đó ít nhất cũng nên mở cửa ra để cho nếu mặt trời muốn
trả lời, nó có thể trả lời được. Mặt trời có năng lượng vô biên; dù vậy nó sẽ
không phá cửa để đi vào nhà bạn. Mặt trời thậm chí sẽ không gõ cửa nhà bạn.
Trong thế giới này chân lí chưa bao giờ xâm nhập vào
cuộc sống của người ta, nó chưa bao giờ can thiệp vào cuộc sống của người ta.
Chân lí chưa bao giờ đem tới bất kì cảnh nô lệ nào trong cuộc sống của người
ta, nó chưa bao giờ đem tới tù túng. Đó là lí do tại sao chân lí là tự do. Chân
lí chưa bao giờ áp đặt bản thân nó một cách cưỡng bức mà không có ý chí của
bạn. Chừng nào bạn còn chưa sẵn sàng, chân lí sẽ đứng đợi mà không gõ cửa nhà
bạn. Sẵn sàng của bạn, chỉ lời mời toàn tâm của bạn mới có thể trở thành việc
tới của chân lí.
Nhưng lời mời của bạn phỏng có ích gì nếu cánh cửa
của bạn không mở ? Bạn nên đứng đợi khách tới khi bạn đã mời. Đó là lí do tại
sao Upanishad bắt đầu bằng lời cầu nguyện.
Lời cầu nguyện là cách để mở cánh cửa tới trái tim.
Nếu truy tìm mà không có lời cầu nguyện, thế thì nó được khởi đầu phần nhiều
bởi hoài nghi của bạn và không được tạo ra bởi tìm kiếm; thế thì truy tìm không
với mục đích của việc tìm kiếm, nó là để làm tăng thêm hoài nghi. Người đã khởi
hành chỉ để hoài nghi, hoài nghi của người đó trở thành không lành mạnh, nó là
ốm yếu.
Và không phải là ai đó mở cánh cửa của mình ra bằng
lời cầu nguyện làm mất đi quyền hoài nghi - trong thực tế chỉ người đó mới có
quyền hoài nghi, bởi vì bây giờ hoài nghi chỉ là một phần của khao khát về giải
pháp; bây giờ hoài nghi mang tính sáng tạo, không mang tính huỷ diệt; bây giờ
hoài nghi chỉ là cách tìm ra con đường để loại bỏ đi tất cả mọi rào chắn; bây
giờ câu hỏi có đó để tới gần với câu trả lời. Bây giờ truy tìm không phải là
trò chơi bệnh tật của tâm trí bệnh hoạn, bây giờ hoài nghi này không phải là
bệnh của tâm trí ốm yếu, bây giờ nó là việc tìm kiếm của người lành mạnh.
Hoài nghi mang tính tin cậy - những lời này có vẻ
rất mâu thuẫn, nhưng nếu chúng ta cố gắng hiểu chúng từ một góc độ khác thì nó
sẽ rõ ràng. Cố hiểu 'tin cậy mang tính hoài nghi’.
Ngay cả khi chúng ta tin cậy, nó cũng đầy hoài nghi.
Cho dù chúng ta có đặt tin cậy của mình vào ai đó, nó cũng đầy hoài nghi; hoài
nghi là dòng chảy ngầm. Trong thực tế chúng ta tin cậy chỉ bởi vì bên trong có
hoài nghi và chúng ta muốn kìm nén nó. Và khi hoài nghi là ở bên trong còn tin
cậy ở trên bề mặt, thì tin cậy sẽ yếu đuối, bởi vì cái bên trong mạnh hơn và
cái bên ngoài, cái bề mặt, sẽ yếu đuối; cái chỉ ở ngoại vi sẽ yếu ớt, còn cái ở
trung tâm trái tim sẽ mạnh mẽ.
Cho nên hoài nghi ở bên trong còn tin cậy chỉ được
áp lên bên ngoài như quần áo. Hệt như quần áo không xoá đi sự trần trụi của
bạn, chúng chỉ che giấu nó, tương tự vậy, tin cậy được áp đặt ở bên ngoài giống
như quần áo không phá huỷ hoài nghi, nó chỉ che giấu hoài nghi.
Điều đối lập cũng là có thể - điều tôi gọi là 'hoài
nghi mang tính tin cậy’. Chân lí có đó trong trung tâm, hoài nghi chỉ ở chu vi.
Hoài nghi đó trở thành một phần của cuộc hành trình làm mạnh thêm cho tin cậy,
bởi vì làm sao ai đó còn chưa hoài nghi lại có thể tin cậy được? Nhưng thực tế
người đó tràn đầy tin cậy.
Maulingaputta, một đệ tử của Phật, đã nói với ông
ấy, “Tôi hỏi thầy, không phải bởi vì tôi hoài nghi thầy mà bởi vì tôi hoài nghi
bản thân mình; tôi hỏi thầy, không phải bởi vì tôi hoài nghi điều thầy nói mà
bởi vì tôi hoài nghi liệu tôi có hiểu nó đúng không. Tôi hỏi không phải bởi vì
tôi hoài nghi thành đạt của thầy, tôi hỏi thầy bởi vì tôi hoài nghi bước chân
mình - và cuộc hành trình rất dài và mơ ước bao la thế. Tôi đã hoài nghi về
bước chân riêng của mình. Tôi hỏi thầy để cho tin cậy của tôi được làm mạnh
thêm, tôi hỏi thầy để cho tin cậy của tôi trở thành sâu lắng.”
Bất kì khi nào người hỏi có mang tính cầu nguyện,
cánh cửa của trái tim người đó mở ra; người đó không tới với hoài nghi, người
đó tới với câu hỏi. Câu hỏi có thể có câu trả lời, nhưng hoài nghi có thể không
có câu trả lời, bởi vì ai đó muốn hoài nghi sẽ cứ hoài nghi mọi câu trả lời bạn
trao cho người đó.
Hoài nghi là thoái lui vô hạn: bạn đưa ra một câu
trả lời, người đó hoài nghi nó; bạn đưa ra câu trả lời khác, người đó lại hoài
nghi nó; hoài nghi là tiền đề cơ sở của người đó. Bất kì điều gì bạn nói, người
đó cũng hoài nghi nó. Thế thì chẳng có cách nào cả. Nhưng nếu hoài nghi chỉ là
một phần của việc tìm kiếm, chỉ là phương pháp luận - một phương pháp chứ không
phải là mục đích, không phải là giải pháp, không phải là mục tiêu - nếu hoài
nghi không phải là tiền đề, mà việc truy tìm mới là tiền đề, thì hoài nghi là
rất có ích.
Cho nên, hoài nghi mang tính tin cậy... truy tìm
mang tính cầu nguyện.
Chính câu hỏi thứ nhất đã được hỏi trong Sarvasar
Upanishad là:
Tù túng là gì?
Xem xét điều này. Mọi người thường hỏi liệu Thượng
đế có tồn tại hay không. Thượng đế là gì? Giải thoát là gì? Giải thoát có xảy
ra hay không? Linh hồn là gì? Nó có tồn tại hay không? Mọi người bắt đầu từ nơi
họ phải kết thúc. Người bệnh hỏi, “Mạnh khoẻ là gì?” Nhưng người thông minh,
nếu người đó ốm, sẽ hỏi, “Ốm yếu này là gì?” Chẩn đoán sẽ bắt đầu với ốm yếu
này. Câu hỏi thứ nhất được nêu lên trong Upanishad này là: Tù túng là gì? Đó là
bệnh tật, đó là ốm yếu mà chúng ta nhất dịnh mắc phải.
Ai đó trong tù, bị xiềng xích lại, bị làm nô lệ, và
đang hỏi, “Tự do là gì?” Người đó chưa bao giờ nếm trải sự tự do; người đó đã
trong xiềng xích từ khi sinh ra, bao giờ cũng trong xiềng xích. Người đó thấy
mình trong xiềng xích lâu như nhận biết về chính mình. Nhận biết của người đó
và tù túng của người đó cả hai được gắn với nhau, và người đó đang hỏi, “Tự do
là gì?” Có lẽ người đó sẽ không có khả năng để hiểu; người đó đã không hỏi câu
hỏi đúng. Người đó chỉ nên hỏi điều người đó có thể hiểu được.
Người tìm kiếm thông minh là người chỉ hỏi những câu
hỏi mà câu trả lời cho nó sẽ có khả năng hiểu được. Và nếu người đó hiểu một
câu trả lời, người đó cũng sẽ có khả năng hiểu những câu trả lời khác.
Đó là lí do tại sao câu hỏi thứ nhất là: Tù túng là
gì? - “Làm sao mình bị trói buộc?” - bởi vì người bao giờ cũng trong tù túng
thì không biết tù túng là gì. Thậm chí để nhận ra nó là tù túng thì bạn cũng
phải có kinh nghiệm nào đó về tự do. Nếu bạn bị cùm tay, bạn sẽ nhận ra rằng
mình bị cùm tay. Nhưng nếu đứa trẻ được sinh ra trong xiềng xích, liệu có bao
giờ nó có khả năng nhận ra xiềng xích là xiềng xích không? Chúng sẽ dường như
là một phần thân thể nó. Và nếu bạn cố gắng bẻ gẫy xiềng xích này, nó sẽ kêu
khóc rên la, “Ông định giết tôi sao?” Những xiềng xích này là cuộc sống của nó.
Chúng không tách rời khỏi nó, chúng là con người của nó.
Và đó là cách chúng ta đang hiện hữu. Như chúng ta
đã tồn tại, như chúng đã biết rằng chúng ta hiện hữu, nhận biết của chúng ta về
sự tồn tại của mình và về nhà tù của mình đã được gắn lại. Chúng ta chưa bao
giờ kinh nghiệm tự do. Chúng ta chưa bao giờ bay trên bầu trời, đôi cánh của
chúng ta chưa bao giờ giang ra trên bầu trời rộng mở, chúng ta chỉ biết chúng
khép lại vĩnh viễn và không được dùng. Chúng ta chưa bao giờ biết rằng đôi cánh
của mình được ngụ ý cho việc bay. Chúng ta được sinh ra và được nuôi dưỡng lớn
lên trong nhà tù; nhà tù này đã là chính cuộc sống của chúng ta.
Cho nên truy tìm đúng sẽ bắt đầu với Tù túng là gì?
Nhưng thậm chí chúng ta cũng chẳng biết gì về cảnh nô lệ cả! Chúng ta ở sâu
trong cảnh nô lệ, chúng ta là nô lệ. Vậy làm sao người ta có thể nhận ra được
cảnh nô lệ là gì? Nếu một người được sinh ra và người đó chịu đựng chứng đau
đầu trong cả đời mình, thì người đó sẽ không có khả năng phân biệt được giữa
đầu và đau, bởi vì người đó bao giờ cũng biết cái đầu mình cùng cái đau.
Simone Weil, một nữ tư tưởng gia của phương Tây, đã
viết rằng trong ba mươi năm bà ấy đã không biết đau đầu là gì. Không phải bởi
vì bà ấy chưa bao giờ đau đầu, nhưng bởi vì bà ấy bao giờ cũng bị đau đầu. Bà
ấy chưa bao giờ biết rằng đầu có thể tồn tại mà không có đau đầu; bà ấy không
thể nào phân biệt được giữa đầu và đau đầu. Và độ tuổi ba mươi, khi bệnh đau
đầu của bà ấy được chữa khỏi lần đầu tiên, thế thì bà ấy mới biết rằng nó là
đau đầu chứ không phải bản thân cái đầu.
Bạn không thể tách bản thân mình ra khỏi cái bạn đã
lớn lên cùng. Đó là lí do tại sao bạn lại không có khả năng biết tới thân thể
mình tách với bản thân mình - bởi vì bạn lớn lên cùng nó. Do đó mới có sự đồng
nhất, là một với thân thể. Đó là lí do tại sao bạn lại không biết tới tâm trí
mình là tách biệt với bản thân mình: bởi vì người ta lớn lên cùng nó, việc đồng
nhất xảy ra.
Do đó hiền nhân và đệ tử này đã nêu ra câu hỏi đầu
tiên trong Upanishad này: Tù túng là gì?
Hiểu nó giống thế này: đệ tử đang hỏi hiền nhân, “Tù
túng này là gì?” Upanishad này là cuộc đối thoại sâu sắc, sự trao đổi. Nếu
người bao giờ cũng trong tù túng có thể nhận ra tù túng của mình, người đó có
thể có một ý tưởng, mơ, một khái niệm, hay một cảm giác về tự do.
Người bị bệnh liên miên chỉ có thể quan niệm được
một định nghĩa tiêu cực về mạnh khoẻ. Người đó sẽ hiểu mạnh khoẻ chỉ như thiếu
vắng bệnh tật của mình. Người bao giờ cũng sống trong tù, trong xiềng xích của
mình, không thể hiểu được định nghĩa tích cực về tự do. Người đó có thể hiểu tự
do chỉ như thiếu vắng của xiềng xích - khi các bức tường nhà tù dừng tồn tại,
khi không có lính gác mang súng để ngăn cản người đó không cho làm bất kì điều
gì người đó muốn, để ngăn cản người đó khỏi đi bất kì chỗ nào người đó muốn đi.
Người đó chỉ có thể hiểu bằng định nghĩa tiêu cực đó. Nhưng trước khi người đó
có thể hiểu điều này, cũng cần nhận ra rằng có những bức tường của nhà tù, cần
nhìn thấy chính bản thân nhà tù, cần thấy lính gác tại cổng, thấy xiềng xích
quanh tay mình.
Một nhà huyền môn vĩ đại của vùng Caucasus,
Gurdjieff, hay nói: tôi đã nghe nói về một nhà ảo thuật đã thuần hoá nhiều cừu.
Hàng ngày ông ấy đều có một con cừu bị giết để chuẩn bị thức ăn cho ông ta.
Hàng trăm con cừu đứng và nhìn việc này, nhưng dầu thế chúng chẳng bao giờ nghĩ
rằng nếu không hôm nay thì ngày mai chũng cũng sẽ bị giết.
Một khách đang trọ cùng nhà ảo thuật đó nói, “Những
con cừu này thật là lạ. Ông giết một con cừu ngay trước các con cừu khác hàng
ngày, thậm chí thế mà chúng cũng chẳng lo nghĩ. Chúng không thể quan niệm nổi
về cái chết riêng của chúng vào ngày hôm sau sao, rằng bất kì ngày nào dao cũng
đều sẽ có thể đâm vào cổ chúng sao?”
Nhà ảo thuật đáp, “Tôi đã thôi miên chúng và bảo
riêng chúng rằng chúng không phải là cừu, rằng tất cả bọn còn lại mới là cừu;
tất cả bọn khác sẽ bị giết, ngoại trừ chúng. Đó là lí do tại sao chúng vô tư;
chúng không chạy đi khi chúng thấy bọn khác bị giết.”
Khách hỏi, “Và điều thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn
là ông không buộc chúng lại. Chúng không đi lạc lối sao? Chúng không bị lạc
sao?”
Ông ta nói, “Tôi cũng đã bảo chúng nó rằng chúng
hoàn toàn tự do, chúng chưa bao giờ trong tù túng cả - bởi vì người ta muốn
chạy khỏi tù túng, nhưng khi người ta đã tự do rồi thì không có vấn đề chạy
trốn nữa. Ham muốn chạy trốn tới khi người ta trong tù túng, nhưng khi không có
tù túng và người ta hoàn toàn tự do, thế thì chạy trốn là không cần.”
Gurdjieff hay nói rằng con người cũng gần như ở
trong tình huống này: con người coi nhà tù là lâu đài của mình. Cho nên không
có vấn đề rời bỏ nó; trong thực tế nếu ai đó tới giúp người đó để thoát ra khỏi
nó, người đó sẽ tự phòng thủ cứ dường như chống lại một kẻ thù đang cố gắng lôi
người đó ra khỏi lâu đài của mình. Con người coi xiềng xích của mình như đồ
trang sức cho mình. Nếu bạn muốn lấy đi đồ trang sức của người đó, người đó sẽ
đứng lên với lưỡi kiếm của mình và tranh đấu.
Cho nên chúng ta không đóng đinh Jesus mà không có
lí do, chúng ta không đầu độc Socrates mà không có lí do. Họ là kẻ thù của
chúng ta bởi vì họ cố gắng lấy đi đồ trang sức của chúng ta. Điều họ gọi là
xiềng xích chính là đồ trang sức của chúng ta, còn điều họ gọi là nhà tù là chỗ
ở vương giả của chúng ta; điều họ gọi là cảnh nô lệ chính là cuộc sống của
chúng ta, còn điều họ gọi là nỗi buồn lại chính là điều thích thú của chúng ta.
Cho nên Gurdjieff hay nói rằng điều đầu tiên mà tù
nhân phải biết nếu người đó muốn tự do là ở chỗ người đó là tù nhân; mọi thứ
khác đều là phụ. Nếu nô lệ muốn được tự do, người đó trước hết cần hiểu rằng
mình là nô lệ. Điều này phải thấm nhuần vào tâm thức của người đó sâu đến mức
người đó cảm thấy thống khổ đau buốt và trở nên được tràn đầy với khao khát tự
do... Tù túng là gì?
Câu hỏi thứ hai... thế thì câu hỏi thứ hai nảy sinh:
Giải thoát là gì?
Katham bandhah - tù túng là gì?
Katham mokshah - giải thoát là gì?
Nếu bạn tới hỏi Phật, “Giải thoát là gì?” Phật sẽ
không trả lời. Nhưng nếu bạn hỏi ông ấy, “Tù túng là gì? Giải thoát là gì?” bạn
sẽ nhận được câu trả lời - bởi vì nếu bạn không hỏi câu hỏi đúng, bạn không thể
nhận được câu trả lời đúng. Câu hỏi sai không có câu trả lời đúng. Và điều bạn
hỏi chỉ ra trạng thái của tâm trí bạn. Giải thoát có thể được hiểu chỉ sau khi
đã hiểu tù túng.
Và thế thì câu hỏi tiếp là:
Vidya, việc biết thật, là gì,
và avidya, việc biết giả là gì?
Tù túng là gì? Giải thoát là gì? Việc biết thật là
gì? - Tri thức đúng là gì? Nếu như câu hỏi này là phần thứ nhất thì sẽ tốt hơn
- Tù túng là gì? Giải thoát là gì? - chúng ta đã hỏi theo thứ tự này: Việc biết
giả là gì? Việc biết thật là gì? Nhưng nó đã không được hỏi như thế. Và điều
này không phải ngẫu nhiên. Điều đáng được hỏi trước là, “Dốt nát đúng là gì?”
thế rồi, “Tri thức đúng là gì?” Nhưng nó đã không được hỏi như thế, bởi vì ở
đây vidya mang nghĩa khác. Tại đây vidya nghĩa là: Tù túng là gì? Giải thoát là
gì? Và khi Upanishad hỏi: Vidya, việc biết thật, là gì? thì nó ngụ ý: Phương
pháp là gì để được giải thoát? ‘Vidya’ mang đích xác nghĩa này. ‘Vidya’ nghĩa
là: Phương pháp là gì để được giải thoát? Tại đây ‘vidya’ không ngụ ý điều
chúng ta vẫn hiểu nó ngụ ý.
Phương pháp là gì? Sau khi hiểu tù túng là gì, và
giải thoát là gì, thì bây giờ: Phương pháp là gì?
Giả dụ rằng chúng ta đang trong tù, và giả dụ rằng
có bầu trời bao la bên ngoài nhà tù và có thể bay trong bầu trời đó, giả dụ
rằng có mặt trời bên ngoài những bức tường của bóng tối là việc hoà hợp với mặt
trời đó là chỗ trú ngụ của tính bất tử - nhưng thế thì con đường tới đó là gì?
Phương pháp là gì?
Cho dù chúng ta có biết tù túng là gì và giải thoát
là gì, nếu cánh cửa là không được biết tới - đường thoát ra khỏi tù túng và đạt
tới giải thoát là không được biết tới - thế thì phải làm gì? Thế thì chẳng cái
gì có thể được làm cả.
Phật đã nói về bốn chân lí cao quí, tứ diệu đế, bốn
chân lí nền tảng, bốn chân lí cơ sở. Ông ấy nói, “Người biết bốn điều này là
biết tất cả.”
Chân lí nền tảng đầu tiên là ở chỗ con người đang
trong khổ. Chân lí thứ hai là ở chỗ có nguyên nhân cho khổ đó, ở chỗ người ta
không bị khổ mà không có nguyên nhân - bởi vì nếu người ta mà trong khổ chẳng
có lí do gì thế thì sẽ không có cách nào để được tự do. Và chân lí thứ ba là ở
chỗ cho dù có nguyên nhân, khổ có đó, thì phải có đường ra, bằng không thì sẽ
không có khả năng nào vượt lên trên khổ. Cho nên Phật đã nói, “Chân lí thứ nhất
là khổ, chân lí thứ hai là nguyên nhân của khổ, và chân lí thứ ba là ở chỗ có
con đường để thoát khỏi khổ.”
Nhưng cho dù có khổ, có nguyên nhân cho khổ này, và
có con đường để thoát khỏi khổ này, nếu khả năng trở nên thoát khỏi khổ này mà
không tồn tại, và nếu trạng thái tự do nơi con người có thể thoát ra khỏi khổ
lại không tồn tại, thế thì người đó sẽ chỉ nhảy từ khổ này sang khổ khác. Cho
nên Phật đã nói về chân lí nền tảng thứ tư: sự tồn tại của trạng thái thoát
khỏi khổ. Phật đã nói, “Đủ rồi, bốn chân lí này là đủ.”
Tại đây, vidya nghĩa là: Làm sao được tự do? Con
đường là gì? Phương pháp là gì? Phương cách cứu chữa là gì?
Có thể chỉ có tù túng, nhà tù, khổ - và con người
đang đứng đó bất lực, vô phương cứu chữa! Thế thì tranh đấu sẽ vô nghĩa; thế
thì chúng ta sẽ phải được thoả mãn với điều và nơi chúng ta đang hiện hữu; thế
thì chúng ta sẽ chỉ phải chấp nhận bất kì cái gì xảy ra như định mệnh của mình.
Dù chúng ta là bất kì cái gì, điều đó sẽ là số mệnh của chúng ta; sẽ không có
cách nào để thoát ra khỏi nó. Thế thì sẽ là phải mà chấp nhận cái nhà tù này là
lâu đài chúng ta mang định mệnh ở đó mà không có khả năng nào để thoát ra - cho
nên thế thì phỏng có ích gì mà tạo ra đau khổ không cần thiết bằng việc gọi nó
là nhà tù?
Có những nhà tư tưởng tin rằng khổ tồn tại và không
có phương cách cứu chữa nào để giải phóng chúng ta khỏi nó; nó là chính bản
chất của cuộc sống, việc siêu việt lên là không thể có được.
Diogenes là một nhà tư tưởng Hi Lạp. Khi hoàng đế Hi
Lạp đến thăm Diogenes hoàng đế hỏi ông ấy, “Nói cho ta, chân lí vĩ đại nhất của
cuộc sống là gì? Nói cho ta về chân lí cao nhất, tối cao nhất.”
Diogenes đáp, “Không có cách nào để biết chân lí vĩ
đại nhất đó, cho nên xin để nó đấy và hỏi về chân lí thứ hai.”
Hoàng đế sửng sốt, và ông ta hỏi Diogenes, “Nhưng
thế thì ít nhất nói điều gì đó về chân lí thứ nhất này đi.”
Diogenes đáp, “Không, không có cách nào để biết nó,
bởi vì chân lí tối cao nhất là: không được sinh ra chút nào. Và bây giờ bệ hạ
đã được sinh ra. Chân lí cao nhất là không được sinh ra chút nào. Đây là chân
lí thứ nhất. Nhưng bây giờ thì không có cách nào, bệ hạ đã được sinh ra rồi. Ta
sẽ nói cho bệ hạ chân lí thứ hai, và đó là: chết đúng sau việc sinh.” Chết đúng
sau việc sinh!
“Sao?” hoàng đế hỏi.
Diogenes đáp, “Cuộc sống và khổ của nó là không tách
rời; chừng nào bệ hạ còn chưa chết cái chết này, khổ sẽ cứ còn dai dẳng. Sống
là khổ. Không có lối ra.”
Một cách tự nhiên, nếu đây là tình huống thế thì
không có cách nào ngoại trừ tự tử.
Đã có những nhà tư tưởng tin rằng không có cách nào
để thoát khỏi đau khổ của cuộc sống; rằng không có cách nào thoát ra khỏi nhà
tù, bởi vì bản thân sự tồn tại là nhà tù, rằng chẳng cái gì tồn tại bên ngoài
nó cả. Đó là lí do tại sao câu hỏi này lại có nghĩa: Vidya là gì, việc biết
thật là gì?
Liệu có cách thức, có phương thuốc chữa nào không,
hay chúng ta bất lực? Nếu trường hợp sau xảy ra, thế thì việc cứ giữ lấy mơ
mộng là phải rồi, cứ ngủ, coi nhà tù là lâu đài, cho xiềng xích là đồ trang
sức. Thế thì điều này sẽ là thông minh. Nhiều người sống với loại thông minh
này; họ sống trong lừa dối để không phải nhận biết về khổ và nhà tù bởi vì
dường như không có có cách nào đi ra khỏi nó.
Vidya, việc biết thật, là gì
và avidya, việc biết giả là gì?
Avidya không ngụ ý dốt nát. Nếu ‘vidya’ ngụ ý là
phương pháp, cách để đạt tới, thế thì nghĩa của 'avidya' có thể là gì? ‘Avidya’
nghĩa là phương pháp có vẻ như phương pháp mà chẳng đưa tới đâu cả: phương pháp
giả. Chắc chắn có những phương pháp giả nữa, phương pháp nguỵ tạo! Có những
cánh cửa không tồn tại nhưng chúng lại dường như tồn tại; có những chìa khoá
trông đích xác như chìa khoá nhưng chúng không mở được bất kì ổ khoá nào, chúng
là vô dụng; người ta có thể chơi với chúng cả đời mình mà chẳng cái gì mở ra
cả.
Bất kì nơi đâu có tìm kiếm thì khoá giả đều có thể
được phát minh ra bởi vì chúng là tự do, rẻ mạt; chúng dễ dàng có sẵn, chúng có
thể được mua ở chợ. Điều bạn gọi là dharma, là tôn giáo, nói chung có đến chín
mươi chín phần trăm của nó là avidya, bởi vì tìm kiếm nông cạn và ham muốn được
mọi thứ một cách rẻ mạt tạo ra phương pháp giả trong bãi chợ.
Nhiều con đường tồn tại, phần lớn trong chúng đều là
đường giả chỉ dẫn tới quên lãng. Nếu người ta rơi vào quên lãng thì nhà tù
không còn nữa. Nếu người ta bị ngây ngất bởi nhà tù, nhà tù có tồn tại không?
Không, trong cơn ngây ngất cả nhà tù lẫn bản thân người tù đều không tồn tại;
mọi thứ biến mất trong vô ý thức. Và người ngây ngất trở thành hoàng đế của nhà
tù này. Người ngây ngất tưởng tượng trong nhà tù của mình rằng mình đang bay
cao trên trời. Bây giờ người đó có thể tưởng tượng bất kì cái gì, bởi vì khi
người ta ngây ngất, người ta có thể mơ và nhận biết về chân lí bị mất. Giống
thế này, người ta có thể thấy linh ảnh Thượng đế. Ai đó thậm chí còn chưa biết
tới bản thân mình lại có thể thấy Thượng đế; ai đó thậm chí còn chưa biết tới
mình đã biết điều tối thượng. Đây là những phương cách cho lừa dối.
Và thế giới này không bị những người dốt nát làm hại
nhiều như cái gọi là những người có hiểu biết, người trao cho bạn chìa khoá
giả. Họ được nhiều hài lòng khi cho bạn chìa khoá, còn bạn cũng hài lòng, hài
lòng lớn, về việc được cái gì đó cho không mà không mất tiền mua, chẳng phải
làm gì. Và phần lớn mọi người đều muốn được cái gì đó mà chẳng phải làm gì cho
nó cả.
Bệnh lớn nhất trong các loại bệnh tật của con người
là lờ phờ, trì trệ: muốn được cái gì đó mà chẳng mất gì, muốn đạt tới đâu đó mà
không phải đi. Trông đợi mục tiêu bước tới mình mà chẳng bước lấy một bước đi -
còn cái gì có thể tốt hơn thế nữa? Đám đông nhất định đi theo những người này.
Đám đông làm hài lòng cái gọi là những guru này và bản ngã của họ được đáp ứng.
Cho nên việc khai thác lẫn nhau cứ xảy ra. Cái gọi là các guru với chìa khoá
giả luôn sẵn có đấy; còn đệ tử nữa cũng sẵn có, sẵn sàng mua các chìa khoá này.
Và như vậy thương mại cứ tiếp diễn.
‘Avidya’ nghĩa là những phương pháp không mở cánh
cửa nào, nhưng chúng cho ảo tưởng rằng việc mở tồn tại. Đó là lí do tại sao
người truy tìm hỏi:
Vidya là gì? Avidya là gì?
Thức, mơ, ngủ và turiya -
cái thứ tư - bốn trạng thái này là gì?
Trong thực tế phân biệt giữa vidya và avidya không
thể được hiểu nếu bốn trạng thái này của thức, mơ, ngủ và turiya không được
hiểu.
Trong lịch sử nhân loại, những người tìm kiếm đầu
tiên trên trái đất đề cập tới bốn trạng thái của tâm thức con người là ở Ấn Độ.
Tâm lí học phương Tây cho tới giờ vẫn còn xoay vòng quanh trạng thái thức; mãi
tới năm 1900, tâm lí học phương Tây vẫn hoàn toàn bị thu hút vào trạng thái
thức. Bất kì thảo luận nào về trạng thái mơ cũng đều bị coi là thiếu hiểu biết.
Bất kì ai nói về trạng thái mơ đều bị coi là điên. Cái gì có đó trong mơ? Mơ
chỉ là mơ, cái gì khác có đó cho nó? Nhưng trong năm mươi năm qua, khi tâm lí
học đã đi sâu hơn vào việc hiểu tâm trí con người, đi sâu vào trong việc điều
tra các bệnh mất trí, họ dần dần bắt đầu nhận ra rằng dưới trạng thái thức có
một tầng của mơ mà thậm chí còn có ý nghĩa hơn là trạng thái thức. Cho đến lúc
đó thì mơ vẫn bị coi chỉ là mơ - một vùng vô nghĩa chỉ có tưởng tượng của con
người; không cần phải để ý tới nó. Các nhà tư tưởng của phương Tây hay cười
phương Đông, nơi người ngu thậm chí vẫn nói về các giấc mơ. Nhưng bây giờ, ngày
nay, do nỗ lực của Freud, Jung và Adler, các nhà tâm lí thường nói về mơ.
Nếu bạn tới nhà tâm lí, người đó trước hết sẽ hỏi về
mơ của bạn, bởi vì theo ông ta thì bất kì cái gì xảy ra trong trạng thái thức
của bạn cũng chỉ là bề mặt, nó không thực sự phản ánh thực tại của bạn; chỉ mơ
mới phản ánh thực tại của bạn. Thực tại qua mơ sao? - bởi vì bạn không thể lừa
dối trong mơ được. Con người đã trở thành chuyên gia trong lừa dối. Bạn có thể
nói về vô dục cả ngày, nhưng mơ của bạn sẽ nói vô dục của bạn đi sâu thế nào;
bạn có thể dễ dàng nhịn ăn cả ngày, nhưng mơ của bạn sẽ nói ham muốn của bạn về
thức ăn sâu đến mức nào.
Vậy mà con người vẫn chưa tìm ra được cách lừa dối
mơ của mình. Mơ của người đó làm lộ ra thực tại của người đó. Trong mơ kẻ cắp
là kẻ cắp và thánh nhân là thánh nhân. Trạng thái thức không tin cậy được; có
kẻ cắp trong thánh nhân, và đôi khi thậm chí thánh nhân lại có vẻ như kẻ cắp.
Trạng thái thức là không thể tin cậy được. Trạng thái thức không tin cậy được
chút nào, bởi vì con người thao túng trạng thái thức theo đủ mọi cách, tô vẽ nó
theo đủ mọi cách.
Cho nên điều bạn giả vờ trong trạng thái thức của
bạn là hoàn toàn giả dối và tựa mơ. Và chẳng có gì đúng hơn mơ của bạn, bởi vì
cho tới giờ bạn không thể lừa dối được trong mơ. Nếu bất kì ai phát hiện ra
cách làm điều đó, mơ của bạn cũng sẽ bắt đầu là giả; nhưng cho tới giờ không ai
đã phát hiện ra cách làm điều đó. Nếu bạn phát hiện ra một kĩ thuật như thế một
ngày nào đó, bạn có thể chọn là thánh nhân trong mơ của mình. Nhưng cho tới giờ
bạn không thể nào thao túng được mơ của mình, cho tới giờ bạn không thể chỉ huy
được mơ của mình, bạn chưa thể thấm sâu vào trong chúng; bạn vẫn còn đứng ngoài
chúng. Đó là lí do tại sao khi mơ của bạn được điều tra, thì thực tại sâu hơn
của bạn trở nên được biết tới; tầng thứ hai này sâu hơn.
Bạn có một tầng trên, đó là trạng thái thức. Bạn làm
gì trong thế giới này từ sáng tới tối? Tất cả mọi tụng niệm, tôn thờ và cầu
nguyện - không, chúng không phải là điều sâu sắc. Điều bạn làm trong mơ còn sâu
lắng hơn; chúng đem lên bề mặt trạng thái hiện hữu bên trong của bạn. Cho nên
các nhà tâm lí bây giờ chấp nhận rằng ngay cả mơ cũng không chỉ đơn thuần là
mơ, và trong thực tế nó còn đúng hơn trạng thái thức.
Vấn đề là, bốn trạng thái này là gì? Bởi vì không
hiểu bốn trạng thái này thì sẽ không thể nào đi vào trong thiền được. Mọi người
nói rằng họ muốn biết cái ta thực của mình. Có lẽ họ nghĩ rằng có cách trực
tiếp để biết cái ta thực của mình. Không, trước hết bạn phải biết trạng thái
thức là gì, trạng thái mơ là gì, trạng thái ngủ là gì, turiya là gì. Thế, chỉ
thế thì bạn mới có thể đi vào bản thể bên trong của bạn. Turiya là bản thể bên
trong của bạn.
Đây là mối quan tâm lớn của tâm lí học. Bây giờ
phương Tây đã chấp nhận rằng mơ là có ý nghĩa. Một thiên tài như Freud đã cống
hiến cả đời mình để nghiên cứu mơ của mọi người. Nhưng phương Tây vẫn không
chấp nhận tầng thứ ba. Phương Tây vẫn chưa truy tìm, “Giấc ngủ không mơ là gì?”
bởi vì họ nghĩ rằng giấc ngủ đơn thuần là giấc ngủ, như họ vẫn thường nghĩ rằng
mơ đơn thuần là mơ. Bây giờ họ nghĩ rằng giấc ngủ đơn thuần là giấc ngủ, vấn đề
của thảnh thơi - người ta mệt và ngủ. Nhưng hoài nghi đã bắt đầu nảy sinh.
Sau năm 1950, trong hai mươi năm này, hoài nghi đã
nảy sinh, và bây giờ họ đã bắt đầu nghĩ rằng giấc ngủ không đơn thuần là giấc
ngủ. Cho nên bây giờ, ở Mĩ, mười phòng thí nghiệm chính đang làm việc về vấn đề
giấc ngủ sâu. Điều đã trở thành rõ ràng cho họ trong hai mươi năm này là chừng
nào chúng ta còn chưa hiểu giấc ngủ thì sẽ khó mà hiểu con người - bởi vì con
người sống sáu mươi năm, ngủ đã mất hai mươi năm.
Đây không phải là một tỉ số nhỏ! Hai mươi năm ngủ
trong quãng đời sống sáu mươi năm! Một phần ba thời gian chỉ dành cho giấc ngủ!
Cho nên ngủ phải có ý nghĩa sâu sắc, nó phải có mục đích. Nó là phần bản chất
của cuộc sống. Con người có thể sống ba tháng không thức ăn, nhưng không thể
sống được nếu không ngủ; con người có thể nhịn ăn ba tháng, nhưng không thể
sống được nếu không ngủ.
Một điều đáng ngạc nhiên hơn đã lôi kéo sự chú ý của
các nhà tâm lí phương Tây là ở chỗ con người cũng sẽ phát điên nếu người đó
không mơ. Người đó không thể sống được nếu không mơ. Nếu một người được phép
ngủ nhưng không được phép mơ.... Họ đã tiến hành những thực nghiệm, bởi vì máy
móc bây giờ có sẵn có thể chỉ ra khi nào bạn mơ và khi nào bạn ngủ. Khi bạn mơ,
cái kim chuyển động rất nhanh, bởi vì não đang hưng phấn khi bạn mơ. Ngay cả
bằng việc chạm vào mắt bạn trong giấc ngủ cũng có thể biết được liệu bạn có
đang mơ vào lúc đó hay không, bởi vì khi bạn mơ thì mắt bạn chuyển động theo
cùng cách như chúng chuyển động trong trạng thái tỉnh khi bạn đang nhìn.
Và dần dần vấn đề trở nên rõ ràng là các chuyển động
mắt sẽ xác nhận kiểu mơ nào bạn đang có. Khi bạn thấy mơ mang tính dục, mắt bạn
chuyển động rất nhanh. Các xung trong não và tần số chuyển động của mắt đã được
quan sát. Bây giờ bạn không còn có thể không quan tâm rằng người khác sẽ chẳng
bao giờ biết đươc về mơ của bạn; người ngồi trong phòng của bạn có thể biết
được tất cả điều bạn đang làm bên trong! Chẳng chóng thì chầy chúng ta sẽ có
khả năng phân loại những chuyển động mắt khác nhau và những cách đo khác nhau
về các xung não của bạn và chúng mang ý nghĩa gì. Thế thì chúng ta sẽ biết các
thánh nhân đang có những kiểu mơ nào!
Khám phá mới nhất là ở chỗ nếu con người không được
phép mơ.... Con người mơ quãng tám tới mười lần trong quá trình một đêm. Có
giấc ngủ sâu và giữa chúng có những mơ - cho nên khi máy chỉ ra rằng ai đó đang
mơ thì người đó ngay lập tức bị đánh thức dậy. Ngay khi người đó bắt đầu mơ thì
người đó bị đánh thức dậy; mơ bị làm gián đoạn, và lần nữa người đó lại được phép
ngủ - người đó được phép ngủ chừng nào người đó chưa bắt đầu mơ lại. Ngay khi
người đó bắt đầu mơ thì người đó lại bị đánh thức dậy. Kết quả thật đáng ngạc
nhiên: dù bạn có ngủ nhiều bao nhiêu, nếu bạn không được phép mơ thì sau mười
lăm ngày bạn bắt đầu phát điên. Mơ là cần thiết, bằng không bạn sẽ phát điên.
Bạn có thể nghĩ rằng mơ quấy rối bạn quá nhiều;
nhưng đó là cửa ra cho điên khùng của bạn. Nếu bạn bị ngăn cản không được mơ,
bạn chắc chắn sẽ phát điên bởi vì cái vẫn còn lại bên trong bạn sẽ quấy rối bạn
cả ngày. Nếu nó không được phép thoát ra trong đêm, nó sẽ trồi lên bề mặt trong
ngày. Cho nên tốt hơn cả là nó được thoát ra trong bóng tối của ban đêm, bởi vì
nếu mà nó tới vào ban ngày, nó sẽ gây rắc rối. Nếu cơn giận, mà bạn thường vứt
nó đi bằng việc giết ai đó trong mơ của mình trong đêm, bị kìm nén trong mười
lăm ngày, thì bạn thực tế sẽ giết ai đó - sẽ có tích luỹ giận dữ tới mức bạn sẽ
phải giết người.
Mơ là cần thiết. Chừng nào ý thức còn chưa đạt tới
turiya, mơ là cần thiết. Chỉ ai đó đạt tới turiya thì mới không cần mơ, không
cần ngủ, thậm chí không cần trạng thái thức; người đó đi qua cả ba, nhưng người
đó không cần tới chúng. Người đó tỉnh thức ngay cả trong mơ, người đó tỉnh thức
trong ngủ say; người đó cũng tỉnh thức trong trạng thái thức. Chúng ta mơ ngay
cả trong trạng thái thức, chúng ta thậm chí mê trong trạng thái thức.
Bốn trạng thái này là gì?
Trong nửa thứ hai của thế kỉ hai mươi các nhà tâm lí
bắt đầu nghĩ rằng giấc ngủ sâu cũng cần được điều tra. Nếu trạng thái ngủ của
ai đó có thể được hiểu chính xác, sẽ dễ hiểu nhân cách của người đó và bản tính
thực của người đó. Giấc ngủ cũng có những phẩm chất. Mọi người không ngủ trong
cùng trạng thái ngủ sâu. Nhưng ngay cả bây giờ, các nhà tâm lí cũng vẫn chưa
nhận biết về turiya, trạng thái thứ tư. Nhưng Jung đã nói, “Chúng ta phải chấp
nhận phát hiện của phương Đông rằng mơ là có giá trị và rằng chúng nên được
điều tra.”
Khi Upanishads được dịch lần đầu tiên ở phương Tây,
mọi người đều hỏi, “Upanishad này là gì vậy? Có tâm linh gì trong việc truy tìm
vào mơ? Hỏi về điều thiêng liêng, về giải thoát, thì có thể hiểu được... nhưng
hỏi về mơ sao? Việc truy tìm này là gì? Và việc truy tìm này lại do người Hindu
thực hiện, người tin rằng thế giới này là maya, mơ. Và họ đang truy tìm về mơ!”
Cho nên Jung đã nói, “Bây giờ, bằng việc cúi đầu mình, chúng ta phải chấp nhận
rằng trạng thái mơ còn quan trọng hơn trạng thái thức.”
Nhưng Jung đã chết rồi; ông ấy chẳng bao giờ nhận
biết rằng các nhà tâm lí bây giờ đã phải chấp nhận tầm quan trọng của giấc ngủ.
Hiện tượng này càng sâu, nó càng trở nên giá trị hơn. Vậy mà họ vẫn không nhận
biết rằng có trạng thái đằng sau trạng thái ngủ, điều không phải là một trạng
thái mà là bản thân cái ta, được gọi là turiya.
Đây là ba trạng thái: thức, mơ, ngủ; và cái thứ tư
thì không phải là trạng thái - đó là tự tính của chúng ta, sự hiện hữu của
chúng ta.
Cho nên việc truy tìm là có giá trị. Chúng ta sẽ
thăm dò vào câu trả lời trong Upanishad lần lượt từng trạng thái một.
Năm thể này là gì?
- annamay, được tạo nên từ thức ăn;
pranamay, được tạo nên từ sinh lực;
manomay, được tạo nên từ năng lượng tâm lí;
vigyanamay, được tạo nên từ nhận biết;
anandamay, được tạo nên từ phúc lạc.
Chúng ta đã nghe nói về 'linh hồn' và việc tìm kiếm
của nó, nhưng chừng nào chúng ta chưa biết thể vật lí là gì, chúng ta không tìm
được linh hồn. Đây là việc tìm kiếm rất khoa học.
Thể là gì? Nếu như chỉ có một thể thì sự việc đã dễ
dàng, nhưng chúng ta có năm thể bên trong bản thân mình. Upanishad đã chia các
tầng của các thể của chúng ta thành năm phần. Phần thấy được ở bên ngoài là thể
annamay. Ẩn đằng sau nó là thể pranamay - điều các nhà khoa học ở phương Tây
gọi là năng lượng sinh học. Phương Đông đã gọi nó là prana; nó là thể năng
lượng. Nó là tầng thứ hai bên trong thể vật lí này. Đằng sau nó là thể manomay,
thể của tâm trí, của năng lượng tâm lí. Những người đã đi vào cuộc hành trình
bên trong đều biết rằng tâm trí cũng là một thể. 'Thể' chỉ nghĩa là bạn được
bao quanh bởi một tầng của nó.
Đằng sau tâm trí có một thể nữa gọi là thể vigyanamay.
Điều này chúng ta gọi là ý thức, khả năng của việc biết. Khả năng biết cũng là
một thể. Đằng sau đó Upanishads chấp nhận một thể nữa mà họ gọi là thể
anandamay, thể phúc lạc. Những thoáng nhìn về hạnh phúc mà ngẫu nhiên chúng ta
cảm thấy trong cuộc sống đều là việc xảy ra trong thể phúc lạc của chúng ta.
Đây là năm thể. Đằng sau năm thể này tồn tại sự hiện
hữu bên trong của chúng ta. Đây là năm bức tường của nhà tù của chúng ta; năm
thể này là các nhà tù của chúng ta. Điều thiêng liêng ở bên trong cũng như bên
ngoài năm bức tường này. Với việc sụp đổ của năm bức tường này, bên trong và
bên ngoài trở thành một. Đôi khi chúng ta có khả năng thấm qua năm bức tường
này và chạm tới điều thiêng liêng bên ngoài. Đôi khi điều thiêng liêng bên
ngoài có khả năng chiếu tia sáng của nó xuyên qua năm bức tường này và chạm vào
bên trong chúng ta. Nhưng hiếm khi điều này xảy ra; hiện tượng này hiếm khi xảy
ra.
Đôi khi, trong tình yêu sâu sắc với ai đó, bạn có
thể bỗng nhiên vượt ra ngoài năm bức tường này và bạn có được thoáng nhìn về
điều thiêng liêng ở phía bên kia. Nhưng điều này chỉ là thoáng nhìn. Thoáng
nhìn tới rồi tan biến. Đây là lí do tại sao khi bạn trong tình yêu với ai đó,
người kia không có vẻ chỉ là một người, anh ấy hay cô ấy có vẻ như là điều thiêng
liêng. Điều này không thể nào sai lầm được; nó là thoáng nhìn, nhưng nó chỉ là
thoáng nhìn. Hiện tượng này xảy ra bởi vì năm bức tường đã bị xuyên thấu qua -
một chút ít hương thơm đi vào bạn. Nó sẽ không xảy ra hàng ngày. Đây là lí do
tại sao những người yêu lại thấy mình trong khó khăn lớn về sau, bởi vì về sau
người ta thấy rằng người đàn ông này chỉ là người thường, hay người đàn bà này
chỉ là người thường. Thoáng nhìn đó đã đi đâu mất rồi? Nó đã biến mất, nó chỉ
là cái thoảng qua.
Thoáng nhìn đó sẽ chỉ tới trong khoảnh khắc rất nhạy
cảm nào đó. Đôi khi nó tới khi ngắm hoa nở; đôi khi, xuyên qua năm thể, người
ta có được thoáng nhìn khi ngắm đám mây bồng bềnh trên trời; đôi khi mặt trời
lên vào buổi sáng và các tia sáng của nó chạm tới không chỉ thân thể mà còn
xuyên qua năm thể, chạm tới cái gì đó bên trong.
Chính trong những thoáng nhìn đó mà khái niệm về tôn
giáo đã được sinh ra trên thế giới. Hiền nhân đang tắm trong dòng sông... mặt
trời lên, và ông ấy đang đứng trên bờ sông mới tắm xong còn tươi tắn và ánh mặt
trời đi vào ông ấy.... Mặt trời trở thành thiên thần, mặt trời trở thành thần
với ông ấy. Kinh nghiệm của ông ấy hoàn chỉnh trong bản thân nó. Nhưng bây giờ
mọi người đứng đó chắp tay trong lời cầu nguyện bởi vì mặt trời đã trở thành
thần, mặc dầu họ không thể thấy có điểm sâu sắc gì trong nó. Các sách khoa học
nói rằng mặt trời chẳng là gì ngoài quả bóng lửa, và điều này người đó có thể
hiểu được, nhưng về thần này thì người đó chẳng có ý tưởng gì hết cả.
Các nhà xã hội học nói rằng có lẽ khi nhìn mặt trời
mọi người trở nên sợ hãi và do vậy họ coi mặt trời là thần. Tất cả các tôn giáo
đều được sinh ra từ sợ hãi. Mọi người có thể đã sợ lửa, cho nên để bầy tỏ kính
trọng nó và để thuyết phục lửa đừng làm hại họ hay mặt trời đừng làm hại họ,
mọi người đã quì xuống để tôn thờ với đôi tay chắp lại. Đây là hiểu nhầm hoàn
toàn.
Với nhận biết về năm thể này, cuộc hành trình bên
trong bắt đầu.
Người làm là gì? Linh hồn hiện thân này là gì?
Năm loại này là gì?
Ai là người biết?
Ai là nhân chứng?
Ai là người ở chỗ sâu nhất?
Ai là người biết về tất cả các ý nghĩ và cảm giác?
Những điều này nghĩa là gì? Tương tự:
Jeevatma, linh hồn cá nhân, là gì,
và paramatma, linh hồn vũ trụ là gì?
Maya, ảo tưởng là gì?
Những điều này là gì?
Những câu hỏi này là lời mở đầu, thế rồi Upanishad
đi vào trong những câu trả lời. Cố hiểu những câu hỏi này cho đúng. Trong bài
nói sáng nay, hiểu tâm trí hay hỏi đi; hiểu chiều hướng đúng của câu hỏi. Câu
trả lời là không khó, câu hỏi mới thực là vấn đề - bởi vì câu trả lời phải được
sinh ra bên trong người hỏi. Câu trả lời không tới từ bên ngoài, câu trả lời
không phải ở bên ngoài, nó là ở bên trong bạn. Nếu bạn có thể hỏi câu hỏi đúng,
thì câu trả lời đúng bắt đầu nảy sinh trong bạn. ‘Câu hỏi đúng’ nghĩa là bạn đã
bắt đầu chạm vào câu trả lời bên trong mình. Câu hỏi sai nghĩa là bạn không chạm
vào nó chút nào và câu trả lời không bao giờ tới. Câu trả lời có thể được trao
từ bên ngoài, nhưng nó không bao giờ đạt tới bạn.
Giao cảm là cần thiết: câu trả lời nên rộn ràng bên
trong bạn, và thế thì, khi nó cũng được trao cho từ bên ngoài, chỉ thế thì bạn
mới có thể nhận được câu trả lời, bằng không thì không nhận được. Chừng nào bạn
còn chưa cảm thấy một sự đáp ứng sâu sắc khi những sợi dây đàn bên ngoài được
chơi, chừng nào chiếc đànveena bên trong của bạn còn chưa vang lên, thì cây đàn
veena bên ngoài có thể tiếp tục chơi đấy nhưng nó sẽ vô tác dụng.
Thông qua Upanishad, tôi sẽ trao cho bạn câu trả lời
từ bên ngoài. Nhưng điều đó sẽ không đủ. Nhạy cảm cần được tạo ra bên trong bạn
để cho câu trả lời chạm vào đúng chỗ bên trong. Và để chạm vào đúng chỗ thì tất
cả lại là vấn đề đấy. Nếu bạn có vang vọng này bên trong, câu trả lời từ bên
ngoài có thể có ích; câu trả lời này được hiển lộ ra tại điểm gặp gỡ của cả
hai. Và có thể là câu trả lời bên ngoài không cần thiết còn câu trả lời bên
trong thì hiển lộ theo cách riêng của nó, nhưng không bao giờ có khả năng câu
trả lời bên ngoài được hiển lộ mà không có vang vọng của câu trả lời bên trong.
Bên ngoài là phụ - nó có sự tiện dụng của nó, nhưng nó là phụ; nó là cần, nhưng
không phải bản chất.
Cho nên có thể là câu trả lời được hiển lộ mà không
có câu trả lời nào tới từ bên ngoài. Nếu câu hỏi là sâu sắc, thành tâm, chân
thành tới mức cả cuộc sống người ta đem ra đánh cược, thế thì câu trả lời được
hiển lộ thậm chí không có câu trả lời bên ngoài. Nhưng theo cách khác thì không
thể được - không bao giờ có thể được. Phật có thể đứng bên ngoài, Mahavira có
thể đứng đó, Krishna có thể đứng đó và Christ có thể đứng đó, và tất cả họ có
thể hô lên câu trả lời, nhưng nếu không có nhạy cảm, nếu không có ước ao, không
có khao khát, không có mong mỏi, thì không có cách nào - tất cả những câu hỏi
đó, tất cả những câu trả lời đó đều phí hoài.
Từ tối nay chúng ta sẽ bắt đầu hiểu những câu trả
lời này.
Bây giờ chúng ta sẽ tiến hành thiền để đánh thức
nhạy cảm bên trong. Nếu nhạy cảm có đó, chúng ta có thể đi vào trong câu trả
lời.
Cho nên hiểu đôi điều về phương pháp của cách thiền
này. Điều thứ nhất... ngồi đấy, trước hết nghe tôi, thế rồi bạn có thể trải
rộng ra.
Trong mười lăm phút đầu của thiền sẽ có kirtan, ca
hát và nhảy múa sùng kính. Làm cho bạn chìm ngập hoàn toàn trong nó. Nếu bạn
kìm lại cho dù chỉ chút xíu thôi bạn sẽ bỏ lỡ bước đầu tiên, và thế thì sẽ
không có câu hỏi về việc làm bước thứ hai. Cho nên ai đó dù chỉ biểu lộ chút ít
hà tiện cũng hoàn toàn ngu xuẩn. Tốt hơn cả là người đó nên rời khỏi đây; người
đó đang làm nỗ lực vô ích.
Lưu tâm: hoặc đem mọi thứ ra đặt cược, hoặc không
làm điều đó một chút nào. Nỗ lực nửa vời sẽ không có tác dụng. Hoặc dâng hiến
toàn bộ bản thân bạn, hoặc không chút nào; đừng làm việc không cần thiết, bởi
vì nỗ lực nửa vời đem lại kết quả sai. Bạn sẽ cảm thấy rằng bạn đã thử nó mà
chẳng cái gì xảy ra cả. Điều đó tạo ra thất vọng. Không, đừng làm nó chút nào,
thế thì ít nhất hi vọng sẽ còn tiếp tục và bạn sẽ thu lấy dũng cảm trong một kiếp
sống khác. Đừng nỗ lực hờ hững. Đun sôi lên một trăm độ, thế thì việc bay hơi
có thể xảy ra. Tham dự theo cách hờ hững và thế rồi nguôi đi, lại lặp lại điều
này lần nữa, dần dần bạn sẽ mất mọi hi vọng rằng bạn nữa cũng có thể đun sôi
lên một trăm độ và bay hơi.
Cho nên điều đầu tiên cần được ghi nhớ là đi một
cách toàn bộ vào trong kirtan trong mười lăm phút. Với 'toàn bộ' tôi ngụ ý phát
điên hoàn toàn; kém hơn thế sẽ không có tác dụng. Vải che mắt phải được đeo
trên mắt bạn, với mắt nhắm. Trải rộng ra - bạn có đủ không gian ở đây - trải
rộng ra khắp nơi để cho bạn có thể nhảy múa tự do.
Nhảy múa trong mười lăm phút trong kirtan, thế rồi
việc hát sẽ dừng lại và âm nhạc vẫn tiếp tục. Trong mười lăm phút đó bạn phải
nhảy múa một cách cá nhân theo nhạc. Bất kì năng lượng nào bạn có, dùng nó một
cách toàn bộ. Trở thành một luồng năng lượng, để cho vũ công biến mất và chỉ
điệu vũ còn lại. Để cho âm nhạc trở thành tất cả và bạn nhảy múa với âm nhạc
đó. Nếu bạn có thể làm điều đó với toàn bộ sự mãnh liệt, bạn lập tức sẽ cảm
thấy rằng mình đã trở nên tách rời với thân thể. Việc tách ra khỏi thân thể
không phải là rất khó - tách khỏi thân thể là rất dễ. Nếu bạn dùng toàn bộ năng
lượng của mình, bạn lập tức trở nên tách khỏi thân thể. Đây là khoa học đằng
sau nó.
Cho nên việc hát kirtan sẽ tiếp tục trong mười lăm
phút tất cả, thế rồi nó sẽ dừng lại và sẽ chỉ có nhạc - không có hát theo nhóm,
chỉ còn nhảy múa... và đặt toàn bộ năng lượng của bạn vào trong nó. Bước thứ
hai sẽ tiếp tục trong mười lăm phút. Nếu bạn muốn hét, bạn có thể hét, nhưng
hát kirtan sẽ dừng lại. Làm bất kì điều gì bạn cảm thấy thích làm. Nếu cảm giác
về hát kirtan vẫn còn dai dẳng với ai đó, người đó có thể tiếp tục theo cách
riêng của mình, nhưng hát tập thể sẽ dừng. Một cách cá nhân bạn có thể làm bất
kì cái gì bạn muốn làm - nhưng bạn phải không dừng. Đặt toàn bộ năng lượng của
bạn vào trong nó trong mười lăm phút.
Thế rồi chúng ta sẽ thảnh thơi trong ba mươi phút.
Nằm dài ra trên đất trong ba mươi phút như cái xác. Bạn có thể nằm ngửa hoặc
nằm nghiêng... bất kì tư thế nào thoải mái cho bạn. Nếu ai đó cảm thấy thích
đứng, người đó có thể đứng; nếu ai đó muốn ngồi, người đó có thể ngồi. Nhưng là
cái xác. Đứng, đứng theo cách mà nếu bạn ngã, bạn sẽ ngã như cái xác. Đừng can
thiệp. Tôi sẽ cho bạn vài điều gợi ý trong ba mươi phút này. Khi tôi gợi ý bạn
xoa trán bằng lòng bàn tay, tụt tấm khăn che mắt lên trên hay xuống dưới một
chút trong một hai phút này. Đó là tất cả những gì tôi sẽ gợi ý để bạn làm
trong ba mươi phút này. Khi bạn đã hoàn tất ba mươi phút đầu tiên này, tôi sẽ
tiếp tục gợi ý bạn về điều bạn sẽ làm cho ba mươi phút tiếp, và bạn sẽ đi vào
cuộc hành trình bên trong.
Nếu cuộc hành trình này có thể được tiến hành, thì
câu trả lời của Upanishad sẽ là hiểu được; bằng không thì bạn sẽ bỏ lỡ.
Không ai được phép tới vùng cao này.
Trải rộng khắp trên đất.
Xem tiếp Chương 3 - Quay về Mục lục
Chương 2: Truy tìm
4/
5
Oleh
John Nguyen
