Osho
- Con đường bên ngoài mọi con đường
Chương 1: Một thuyền, hai lữ khách
Aum.
Cầu cho điều thiêng liêng bảo vệ cả hai chúng ta;
Cầu cho điều đó chăm sóc cả hai chúng ta...
Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng.
Sáng lạn là việc biết của chúng ta.
Cầu cho chúng ta không ghen tị.
Aum, an bình, an bình, an bình
Chắt lọc ra điều bản chất từ điều thông thường, điều
không ý nghĩa đã là đủ khó rồi, nhưng thế rồi chắt lọc ra điều tinh tuý của tất
cả những điều bản chất còn khó hơn nhiều lắm. Khám phá ra điều có ý nghĩa từ
điều không có ý nghĩa đã không dễ dàng rồi, nhưng thế rồi chắt lọc ra ý nghĩa
tối thượng từ tất cả những điều có ý nghĩa thì gần như không thể được. Tìm vàng
trong cát bụi bộc lộ những thử thách và khó khăn riêng của nó, nhưng tìm ra
tinh chất của vàng từ vàng thì gần như là không thể được.
Ý nghĩa của Sarvasar, của Sarvasar Upanishad, là:
điều tinh tuý, cái nền tảng nhất của tất cả mọi tri thức bí truyền đã từng được
phát hiện ra. Điều bản chất mà thậm chí không thể bỏ đi lấy một lời, không cái
gì có thể bị cắt bỏ đi, điều bản chất mà những cái thô thiển đã bị khử bỏ hết
và chỉ bản thân sự thuần khiết là còn lại, từ đó mà cái thô thiển vốn là vàng
đã được tách ra và chỉ còn "tính vàng" tuyệt đối mới được giữ lại -
điều như thế chính là Upanishad này.
Trong việc hiểu Upanishad này, những cánh cửa sẽ mở
ra cho hiểu biết sâu sắc nhất mà những thiên tài của loài người đã biết tới. Do
đó mới có cái tên của nó, Sarvasar: bí mật của các bí mật, bí ẩn bên trong mọi
bí ẩn, điều bản chất của các điều bản chất.
Một điều như vậy cũng là nguy hiểm nữa, bởi vì khi
khoa học trở nên ngày một tinh vi, nó cũng trở thành ngày một khó nắm bắt hơn.
Chân lí càng thuần khiết, nó càng đi xa hơn khỏi việc hiểu của chúng ta. Đấy
không phải là lỗi của chân lí, đấy chỉ là việc hiểu của chúng ta bị giới hạn
đến mức lỗ hổng giữa chúng ta và chân lí đã trở thành bao la. Lí do duy nhất
cho điều này là ở sự không thuần khiết của chúng ta. Do đó, chân lí càng tinh
tế, nó càng trở nên không thực tế cho chúng ta trong sự tồn tại hàng ngày của
mình.
Đó là lí do tại sao, mặc dầu tri thức tối thượng về
cuộc sống đã được phát hiện ra trên đất nước này, tất cả mọi điều chúng ta làm
là lãng phí thời gian đơn thuần nói về nó. Với chúng ta chưa bao giờ xuất hiện
việc chúng ta phải sống nó. Và cho dù chúng ta có muốn sống nó, thì chúng ta
cũng không biết cách nào để áp dụng nó - cho dù chúng ta quyết định làm điều
này, chúng ta vẫn không biết phải bắt đầu đi vào chiều hướng nào. Nó sâu sắc,
tinh tế tới mức chúng ta vứt bỏ mọi hi vọng về việc sống nó. Thế rồi, chỉ để tự
lừa dối mình, chúng ta nói về nó và cảm thấy được an ủi.
Cho nên chúng ta đã nói về nó hàng thế kỉ - và chúng
ta đã nói về điều không thể nào được hiểu chỉ bởi việc nói nó, về điều chỉ có
thể được biết bằng việc sống nó. Sống là cách duy nhất để biết nó. Chúng ta có
thể hiểu nó chỉ nếu chúng ta hoà nhập nó vào trong các kiếp sống của mình. Sống
nó là hiểu nó.
Có những chiều hướng sâu sắc của cuộc sống nơi không
lỗ hổng nào tồn tại giữa biết và hiện hữu; nơi biết nó và hiện hữu nó là một và
như nhau; nơi hiện hữu nó là cách duy nhất để biết nó.
Nhưng ‘hiện hữu’ dường như khó với chúng ta còn
‘biết về’ thì lại thấy dễ dàng, bởi vì tất cả những gì chúng ta thường ngụ ý
qua việc biết là biết vài lời, vài học thuyết, vài triết lí, vài kinh sách. Trí
tuệ của chúng ta trở nên được chất đầy với những lời và học thuyết, nhưng trái
tim vẫn còn trống rỗng. Và không có tình huống nào nguy hiểm hơn điều này - nơi
trí tuệ sẽ tạo ra ảo tưởng rằng người ta đã đạt tới, trong khi chẳng cái gì
thực tế được đạt tới cả. Với trí tuệ như thế này, người ta cảm thấy rằng người
ta tràn đầy, nhưng bên trong tất cả đều trống rỗng và hổng hoác, nghèo và khổ.
Linh hồn vẫn còn sống trong ảo tưởng rằng nó là hoàng đế.
Nhiều người bị lầm đường lạc lối bởi trí tuệ hơn bởi
dốt nát, và nhiều người chết đuối trong khi ngồi trong con thuyền trí tuệ hơn
là ngồi trong con thuyền giấy của dốt nát, bởi vì người ta có vẻ như biết rồi -
mặc dầu người ta chẳng biết gì cả. Đó là lí do tại sao tôi đã nói rằng câu cách
ngôn tinh tế của trí huệ tối thượng như trong Sarvasar Upanishad cũng là nguy
hiểm; nỗi sợ là ở chỗ chúng ta có thể chỉ biến chúng thành đối tượng để nghĩ
tới. Chúng ta có thể nghĩ về chúng, hiểu thấu chúng và thế rồi bị kết thúc với
chúng. Do đó, tôi dặn trước các bạn rằng dấn thân vào các giáo huấn của
Upanishad cũng giống như chơi với lửa. Upanishad không thể được hiểu mà không
trở nên bị biến đổi.
Nhìn vào nó như thế này: có những giáo huấn nào đó
có thể được học cho dù chúng ta vẫn còn y nguyên như cũ. Người ta không cần tự
biến đổi mình để học toán học hay lịch sử hay cái gì đó giống thế. Con người có
thể vẫn còn như cũ còn việc học của người đó sẽ tích luỹ lại. Bản thể bên trong
của người đó không cần trải qua bất kì biến đổi nào: người đó có thể vẫn còn
như cũ và chỉ tích luỹ tri thức. Không cần gì tới cuộc cách mạng bên trong để
trở thành nhà lịch sử hay nhà toán học hay nhà khoa học.
Nhưng tôn giáo là vấn đề hoàn toàn khác. Trong tôn
giáo biến đổi là cần thiết trước khi có thể thu được việc biết. Chừng nào bạn
còn chưa thay đổi, bạn không thể nào hiểu được; bạn sẽ phải được biến đổi để
hiểu. Chừng nào biến đổi còn chưa mang tính bản thể bên trong của bạn, tích luỹ
trí tuệ sẽ không có tác dụng; chúng trở thành lừa dối, tự lừa dối. Đó là lí do
tại sao tốt hơn cả là vẫn còn dốt nát thay vì tự lừa dối mình bằng giả tưởng
sai lầm về tri thức, bởi vì người dốt nát ít nhất cũng còn khiêm tốn, người có
học trở nên bản ngã và kiêu ngạo. Người dốt nát ít nhất cũng còn cảm thấy nỗi
đau của cái trống rỗng trong mình và nước mắt chảy ra từ mắt người đó, nhưng
người có học vênh váo, nước mắt của người đó đã khô mất rồi và cơn khát của
người đó đã biến mất dần. Thậm chí nước giả cũng có khả năng thoả mãn cho cơn
khát của người ta....
Chúng ta tất cả đều có những mơ thuộc loại này: bạn
thực tế rất khát, và thế rồi bạn mơ rằng mình đang uống nước và cơn khát của
bạn dịu đi. Theo cách này giấc ngủ của bạn không bị phá vỡ. Mơ được tạo ra chỉ
để hỗ trợ cho giấc ngủ của bạn. Nếu bạn cho rằng mơ quấy rối giấc ngủ của bạn,
thế thì bạn không nhận biết về khoa học của mơ. Nếu bạn cho rằng không mơ, giấc
ngủ của bạn sẽ sâu hơn, thế thì bạn lầm. Bạn thậm chí sẽ không có khả năng ngủ
được nếu bạn không có mơ.
Thực tại, mơ đơn giản hỗ trợ cho giấc ngủ của bạn.
Bất kì khi nào giấc ngủ của bạn sắp bị phá vỡ, mơ sẽ tới để lừa bạn và giúp cho
giấc ngủ của bạn tiếp tục. Bạn đang khát, nhưng nếu bạn không có mơ rằng bạn
đang uống nước tại bờ sông thì giấc ngủ của bạn sẽ phải bị ngắt quãng, cơn khát
là điều có xu hướng ép buộc thế. Nhưng bạn tạo ra mơ rằng bạn ở bờ sông, hay
đang tắm trong hồ và uống nước thoả thích. Bạn có mơ này và cơn khát của bạn
được dịu đi; nói được dịu đi là không đúng, thay vì thế nó dường như được dịu
đi thôi, và như vậy giấc ngủ tiếp tục. Bạn đói, cho nên bạn mơ rằng bạn được
mời tới bữa tiệc trong cung điện hoàng gia và do đó giấc ngủ của bạn không bị
phá vỡ. Bạn đã kìm nén thôi thúc về dục của mình - bây giờ nó nảy sinh trong
bạn trong mơ. Mơ đem tới phụ nữ đẹp ngay cả cho kẻ ăn mày... và giấc ngủ của
bạn tiếp tục.
Cũng như chúng ta làm dịu cơn khát bằng nước tưởng
tượng trong mơ, điều đó cũng xảy ra trong cái gọi là trạng thái thức của chúng
ta. Upanishad nói rằng trạng thái tỉnh thức của chúng ta cũng chỉ là mơ. Trong
trạng thái mơ đó chúng ta đang che giấu dốt nát của mình bằng việc tích luỹ tri
thức giả, bằng việc học và ghi nhớ nó. Do vậy giấc ngủ của chúng ta không bị
phá vỡ và những chuyện trần tục của chúng ta có thể tiếp tục theo cùng cách như
giấc ngủ của chúng ta tiếp tục trong đêm.
Cũng như một người tỉnh dậy từ giấc ngủ và ý thức đi
vào một chiều hướng khác, theo cùng cách đó, khi một người thức tỉnh từ giấc
ngủ gọi là 'thế giới này', thì tính chất sannyas xảy ra và tâm thức đi vào một
cõi khác. Tính chất sannyas nghĩa là bây giờ người ta không còn chọn lựa hoạt
động trong thế giới này như kẻ mộng du nữa, bây giờ người ta đơn giản muốn sống
một cách có ý thức.
Nếu bằng việc nghe những bài nói này về Upanishad mà
bạn chỉ trở thành hiểu biết hơn, thế thì tôi đã phạm phải lỗi lầm qua việc nói,
tôi đã trở thành kẻ thù của bạn. Nếu với những bài nói này bạn bây giờ bắt đầu
cuộc hành trình của tự biến chuyển, thế thì điều tôi nói đã là ích lợi và tốt
cho bạn.
Điều tôi sẽ nói có thể trở thành chất độc, chất cực
độc, nếu bạn biến nó thành một chủ đề cho việc thảo luận của mình, như thức ăn
cho trí tuệ của bạn và như sự bảo vệ cho giấc ngủ của bạn. Điều tôi sẽ nói cũng
có thể trở thành nước cam lồ nếu bạn không làm nó thành thức ăn cho trí tuệ,
nếu thay vì thế nó phát triển thành một quyết tâm, một năng lượng có tiềm năng
làm biến đổi trái tim bạn. Tất cả điều đó sẽ phụ thuộc vào điều bạn làm với
Sarvasar Upanishad này. Nếu bạn trở về từ đây chỉ để đã học vài điều mới mẻ
thêm thì việc đó sẽ không tốt, tốt hơn cả là bạn đừng đến đây chút nào. Nếu bạn
trở về từ đây mà thu được thêm thông tin nào đó, hiểu biết thêm nào đó, thì
việc tới và đi của bạn đã hoàn toàn vô dụng.
Không, tôi không có ý định hay ham muốn nào để thêm
thông tin cho cái kho hiểu biết của bạn. Thay vì thế, tôi muốn bạn trở về được
biến đổi chút ít, được thay đổi chút ít; tôi muốn chính tầm nhìn của bạn thay
đổi, không phải kí ức của bạn; việc hiểu biết của bạn trưởng thành, không phải
tri thức của bạn. Tôi muốn bạntrưởng thành, không phải là trí tuệ của bạn
trưởng thành.
Làm sao cái vốn là hiện hữu thực của bạn có thể
trưởng thành được - không phải tri thức, mà chính sự hiện hữu của bạn? Đó là lí
do tại sao tôi lại nói rằng Upanishad này là nguy hiểm.
Đương đầu với chân lí, cho dù chút ít thôi, cũng
không phải là trò chơi; nó là nguy hiểm, bởi vì chân lí sẽ không cho phép bạn
vẫn còn như bạn hiện thế. Nó sẽ làm thay đổi, quật đổ, phá huỷ và làm mới bạn.
Nó sẽ cho bạn sinh thành mới. Chắc chắn có đau đớn trong việc sinh này, nhưng
không đau thì làm sao có thể có việc sinh mới được? Và khi có nhiều đau đớn thế
cho bà mẹ trong việc sinh ra một con người khác, thì sẽ còn có nhiều đau đớn
hơn trong việc sinh thành ra cái ta riêng của chính mình. Người mẹ mang hài nhi
trong bụng chỉ trong chín tháng; chúng ta đã mang bản thân mình bên trong mình
vô số kiếp.
Trong biết bao nhiêu kiếp chúng ta vẫn còn trong
bụng mẹ, chỉ là một hạt mầm - với vĩnh hằng chúng ta đã mang bản thân mình
trong bụng riêng của mình. Chúng ta vẫn còn chưa được sinh ra! Cứ dường như là
con bướm đã bị bao kín trong cái kén của nó trong nhiều, nhiều kiếp: cái kén
không bị phá vỡ ra, mà con bướm cũng không được bay - nó chưa bao giờ giang đôi
cánh của mình trong bầu trời rộng mở. Và chúng ta bị đóng kín bên trong bản
thân mình theo cùng cách đó.
Upanishad này là về khoa học có thể phá vỡ cái vỏ
đó. Chúng ta đã lấy cái vỏ này làm cuộc sống của mình, mặc dầu nó thậm chí còn
không phải là sự bắt đầu của việc sinh. Hạt mầm có cuộc sống nào? Chắc chắn hạt
mầm có đó, nhưng nó có phải là cuộc sống không? Cuộc sống được biểu lộ trong
cái cây. Cuộc sống của hạt mầm là gì? - hạt mầm chỉ là một khả năng, đơn thuần
là niềm hi vọng, là tương lai, hiện tại của nó chẳng là gì hết cả. Nó chỉ là
tiềm năng, nhưng nó không phải là cuộc sống.
Điều chúng ta gọi là cuộc sống thì chỉ là tiềm năng,
là hạt mầm trong cái vỏ của nó. Cây có cuộc sống - nó lan toả trong bầu trời
rộng mở, vươn lên chạm mặt trời, nó vươn các cành của nó tới chạm các vì sao và
mặt trăng. Hoa nở trên nó và chim chóc làm tổ trong nó, có bài ca, có bão bùng
- gió lớn, ánh nắng mặt trời và mưa, có tranh đấu và thách thức của cái chết.
Khoảnh khắc nọ sang khoảnh khắc kia đều có cuộc sống. Cuộc sống nào có đó cho
hạt mầm? Hạt mầm chỉ là phôi thai.
Chúng ta cũng là hạt mầm. Và có nhiều đau đớn hơn để
đi qua, có nhiều đau đớn hơn ở phía trước. Chúng ta tất cả đều muốn phúc lạc,
mà không có đau đớn nào. Đó là lí do tại sao chúng ta chẳng bao giờ đạt tới nó.
Ai không muốn phúc lạc? Ai không khao khát hạnh phúc? Từng và mọi thớ thịt đều
đòi hỏi phúc lạc, từng và mọi hơi thở đều mong mỏi phúc lạc. Mọi người đều ham
muốn cùng một điều, vậy mà phúc lạc không xảy ra bởi vì không ai sẵn sàng trả
giá cho nó. Chúng ta muốn tránh đau đớn. Chúng ta đều giống người mẹ muốn tránh
nỗi đau đẻ.
Nếu không hôm nay thì có lẽ ngày mai, sẽ không còn
bất kì việc đau đẻ nào cho các bà mẹ trên khắp thế giới; sẽ có khả năng sinh
con không đau đớn gì. Điều đó đã trở thành có thể. Nhưng ngày đó sẽ không bao
giờ tới cho một người sẽ đi vào trong sự tái sinh của linh hồn riêng của mình,
khi người đó sẽ cho sinh thành ra bản thể riêng của mình, mà không trải qua cơn
đau đẻ.
Và có một điều thú vị khác, một chân lí khác, mà mọi
người trên khắp thế giới đang cố gắng làm việc sinh con không đau sẽ chỉ nhận
ra được mãi về sau. Điều thường xảy ra là chúng ta chỉ đi tới nhận ra ẩn ý của
cái gì đó khi nó đã tuột khỏi bàn tay ta, và chân lí là ở chỗ người mẹ cho sinh
ra đứa con mà không đau đớn gì thì cũng bị tước đi chiều sâu nào đó của tình
mẹ, cô ấy sẽ không trở thành mẹ, bởi vì khi đứa trẻ được sinh ra với đau đớn,
cái đau đó trở thành thung lũng, và bên cạnh thung lũng đó vươn lên đỉnh núi
của tình mẹ.
Khi chúng ta tránh thung lũng, chúng ta cũng tránh
đỉnh núi. Nếu chúng ta muốn gạt bỏ thung lũng gần Himalaya và giữ lấy các đỉnh
núi, hay giữ lấy đỉnh núi Everest, thì chúng ta điên; chúng ta không biết gì về
logic của cuộc sống cả. Đỉnh núi có đó chỉ bởi vì có thung lũng. Trong thực tế,
đỉnh núi và thung lũng là được nối liền với nhau.
Nhưng con người cứ phạm phải cùng sai lầm lặp đi lặp
lại mãi. Con người cho rằng nếu tất cả mọi đau và khổ của cuộc sống được xoá bỏ
đi thì sẽ có nhiều hạnh phúc. Nhưng sự kiện lạ kì là khi tất cả mọi đau và khổ
qua đi, chúng ta cũng đi tới biết rằng không có hạnh phúc nào còn lại ở bất kì
đâu cả, bởi vì chúng được gắn lẫn nhau. Đó là lí do tại sao người giầu thường
trở nên bất hạnh hơn người nghèo; xã hội sung túc trở thành ngày một khổ hơn xã
hội nghèo.
Đây là vấn đề tại phương Tây ngày nay. Bây giờ họ đã
đặt chấm hết cho phần lớn đau và khổ vốn vẫn là nguyên nhân cho biết bao nhiêu
khổ ở phương Đông. Họ đã phá huỷ tất cả những khổ đó. Họ đã làm những nỗ lực
khổng lồ với hi vọng rằng một ngày nào đó sẽ tới khi không có khổ và chỉ hạnh
phúc còn lại. Và khổ đã được chấm dứt, nhưng đồng thời họ lại phát hiện ra rằng
hạnh phúc cũng biến mất; thung lũng biến mất nhưng đỉnh núi cũng biến mất. Đêm
không còn nữa, nhưng với họ ngày cũng đã biến mất. Chúng ta tách mọi gai ra
khỏi bụi hồng, nhưng khi chúng ta bận rộn tách bóc gai chúng ta nhìn lên và
thấy rằng hoa cũng đã bị xoá sạch đi rồi. Chúng đã tồn tại cùng với gai, chúng
có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Một ngày nào đó có thể có khả năng sinh con không
đau, nhưng điều đó sẽ không bao giờ là khả năng cho con người đạt tới một cuộc
sống mới mà không đau đớn. Điều đó không thể nào xảy ra được, và nó có lí do.
Lí do là ở chỗ bất kì cái gì chúng ta đã từng là cho tới giờ đều phải bị vứt bỏ
đi để tạo ra không gian cho cái mới.
Rắc rối của người mẹ trong việc sinh con không phải
là cô ấy sẽ bị phá huỷ, rắc rối của cô ấy là trong cú sốc rằng cái gì đó hoàn
toàn mới đang tách ra khỏi cô ấy, đang trở nên thoát ra khỏi cô ấy. Nhưng khi
bạn cho sinh thành cái ta riêng của mình, bạn không cho sinh thành ra cái gì đó
tách rời với mình, bạn đang làm công việc kép. Bạn đang xoá bỏ bản thân mình và
đồng thời với việc xoá bỏ này đang xảy ra, theo cùng tỉ lệ đó, một cuộc sống
mới lại bắt đầu hiển lộ.
Đó là lí do tại sao tôi nói rằng các giáo huấn của
Upanishad này là nguy hiểm - bạn phải sẵn sàng với đau đớn cho cuộc cách mạng
bên trong. Lời kinh thứ nhất của hiền nhân này có liên quan tới nỗi sợ cái đau
đó. Cố hiểu nó.
Aum. Cầu cho điều thiêng liêng bảo vệ cả hai chúng
tôi;
Tại sao lại có lời cầu nguyện này? Tại sao hiền nhân
này, ngay chỗ bắt đầu của Upanishad, lại cầu nguyện điều thiêng liêng về việc
bảo vệ? Bạn có cho rằng ông ấy không có mái nhà hay túp lều nào không? Bạn có
cho rằng ông ấy không có bánh mì để ăn và đang chết đói không, hay ông ấy không
có quần áo để mặc? Cái gì ông ấy muốn bảo vệ? Cái gì ông ấy ước ao bảo vệ? Và
cái đó nữa, lại ngay từ đầu! Chính phát biểu đầu tiên liên quan tới bảo vệ.
Cuộc hành trình hiền nhân này định bắt đầu là cuộc
hành trình của cái chết, bởi vì chỉ sau cái chết thì cuộc sống mới mới bắt đầu.
“Nhiều nhất điều này là chắc chắn: mình sẽ chết. Nhưng không chắc chắn liệu
mình có được sinh ra không - đó là điều không biết được.” Cho nên ông ấy nói,
“Xin bảo vệ con.” Ông ấy đang cầu nguyện điều thiêng liêng rằng, “Con bắt đầu
khởi hành theo cái không biết, mối nguy hiểm là rất hiển nhiên, cái chết là rõ
ràng.” Hạt mầm chỉ thấy cái chết của nó - làm sao nó có thể thấy cây được sinh
ra? Hạt mầm sẽ tan biến, nó phải chết. Điều này là rõ ràng. Nhưng làm sao hạt
mầm có thể tưởng tượng ra được rằng sẽ có cây và rằng hoa sẽ nở ngày nào đó?
Những bài ca sẽ vang vọng qua cây, nhạc của tiếng sáo sẽ được chơi dưới cây,
cơn gió sẽ xào xạc qua khóm lá - làm sao hạt mầm có thể biết trước tất cả về
những điều này? Nó có thể có ý tưởng nào về mùa xuân tới? Nó có thể có ý tưởng
nào về giọt mưa sẽ rơi xuống cây? Điều duy nhất hạt mầm biết là nó sẽ chết;
điều này mới được biết, tất cả những cái còn lại đều không được biết... do đó
mới có lời cầu nguyện này:
Aum. Cầu cho điều thiêng liêng bảo vệ cả hai chúng
ta;
Thầy và đệ tử.... Điều này thậm chí còn thú vị hơn,
rằng lời cầu nguyện này là cho cả hai người đó - cho đệ tử và cho thầy nữa. Tỉ
như lời cầu nguyện này chỉ dành cho đệ tử thì nó đã dễ hiểu - nhưng nó dành cho
cả thầy nữa! Điều này tạo cảm giác kì lạ. Nếu như lời cầu nguyện này là cho đệ
tử, người ở đây để học, người mới bắt đầu cuộc hành trình, người chỉ mới lao con
thuyền của mình vào cái không biết, thì điều đó là hiểu được. Người đó có thể
cầu nguyện về sự bảo vệ, về sự an toàn. Nhưng sao cầu nguyện cho thầy? Phát
biểu này là gì, “cả hai chúng ta”?
Có lí do cho điều đó, và đấy là ở chỗ mối quan hệ
thầy và đệ tử sâu sắc đến nỗi nếu người này chết đuối thì người kia cũng sẽ
chết đuối, thế thì cả hai sẽ không được cứu. Mối quan hệ này thân thiết đến độ
không có mối quan hệ khác trong thế giới này thân thiết được đến thế - không
mối quan hệ chồng vợ nào, không mối quan hệ mẹ con nào, không mối quan hệ anh
em hay bè bạn nào. Mối quan hệ này giữa hai người là thân thiết đến độ nếu
người này chết đuối thì người kia cũng chết đuối. Đó là lí do tại sao hiền nhân
này lại cầu nguyện: ... bảo vệ cả hai chúng ta - đệ tử và thầy.
Cũng còn có sáng suốt sâu sắc nào đó trong phát biểu
này. Hiền nhân này cũng đang nói rằng là thầy không có nghĩa là người đó không
thể bị chết đuối, rằng thầy không thể đi lạc lối. Phát biểu này đòi hỏi sự chú
ý của chúng ta. Là thầy không có nghĩa là người đó không thể chết đuối. Trong
thực tế, nếu có một trạng thái mà người ta không thể vấp ngã, không thể đi lạc
lối, không thể bị lạc trong bóng tối, thì điều đó có nghĩa là người ta đã gần
như chết. Trong cuộc sống bao giờ cũng có khả năng đi lạc lối - bao giờ cũng
có. Đó là ý nghĩa duy nhất của việc sống động. Ngay cả vị phật cũng có thể đi
bước sai - điều vị phật không làm việc đó lại là chuyện khác; điều vị phật
không lấy bước đi sai, đấy là chuyện khác - nhưng khả năng có đó. Tôi nói lại
điều đó: bước của ông ấy không bao giờ đi sai, chúng không bao giờ sai. Không
có bằng chứng lịch sử nào rằng vị phật đã từng bao giờ lấy bước đi sai. Nhưng
ngay cả vị phật trong lời cầu nguyện của mình cũng nói, “Xin bảo vệ tôi.” Sai
lầm là có thể. Và điều kì lạ là người cầu nguyện như thế này chẳng bao giờ đi
sai, còn người không cầu nguyện như thế này chắc chắn đi sai, bởi vì có bản
ngã, và đó là nguồn gốc của sai lầm.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này bắt đầu: ...bảo vệ
cả hai chúng ta, thầy và đệ tử. Lời cầu nguyện này của đệ tử là rất bình
thường, nhưng với thầy gắn vào thì nó lại trở thành phi thường. Và chúng ta gọi
một người là thầy, người không có bản ngã về việc là thầy. Người không có bản
ngã nào về việc là thầy mới là người thầy thực, còn người có bản ngã về việc là
thầy thì thậm chí không đủ tư cách là đệ tử.
Lời cầu nguyện này đang diễn tả rằng hiền nhân này
không có khái niệm nào rằng mình không cần sự bảo vệ - rằng “Mình đã biết, mình
đã đạt tới, mình đã tới nơi. Mình đang giúp người khác đạt tới. Tại sao mình
cần bảo vệ?” Ông ấy không có khái niệm nào như vậy cả; ông ấy cầu nguyện, “Xin
bảo vệ cả hai chúng ta.”
Và khiêm tốn duy nhất này là bí mật của việc là
thầy. Chúng ta có thể tin cậy rằng con người này có thể nói cho chúng ta những
điều sâu lắng, chúng ta có thể tin cậy rằng nếu chúng ta mà có theo con người
này với mắt bị bịt kín thì chúng ta vẫn có thể đạt tới mục tiêu, rằng cho dù
chúng ta đi theo người này với mắt nhắm thì chúng ta vẫn có thể đạt tới mục
tiêu. Nhưng nếu chúng ta theo cái gọi là các guru, thì cho dù mắt chúng ta có
mở và chúng ta rất thông minh, chúng ta vẫn sẽ rơi xuống hố chứ không đâu khác
cả.
Thầy là người thậm chí không nhận biết về sự tồn tại
cá nhân của mình. Một sự trống rỗng như vậy chỉ có thể tràn đầy lời cầu nguyện,
không có cách khác. Không có cách nào để khác được.
... bảo vệ cả hai chúng ta;
Cầu cho điều đó chăm sóc cả hai chúng ta..
Dường như là bảo vệ không đủ: chăm sóc cũng được cần
tới. Bảo vệ không bao hàm cả chăm sóc sao? Không, bảo vệ là hiện tượng tâm linh
hoàn toàn. Nó là hiện tượng tâm linh. Cho tới giờ, chỉ điều này mới được cầu
nguyện tới: “Chúng ta đang đi vào cái không biết.” Đệ tử tất nhiên không biết,
còn thầy nói rằng mình cũng không biết.
Đây phải là những con người tuyệt vời, bởi vì là
thầy thì trước hết bạn phải công bố rằng mình biết, bằng không ai sẽ chấp nhận
bạn làm thầy? Khó mà kiếm được dù chỉ một đệ tử nếu thầy không công bố rằng
mình biết. Nhưng bậc thầy này nói, “Ta nữa cũng không biết gì cả... xin bảo vệ
chúng ta. Chúng ta đã khởi hành hướng tới cái không biết, chúng ta đang dương
buồm vượt qua đại dương mà không có bản đồ và thậm chí bờ bên kia cũng mới chỉ
được thấy trong mơ, trong linh ảnh. Và điều này nữa cũng chỉ là khao khát;
người ta không biết liệu bờ bên kia có tồn tại hay không. Chúng ta đang rời bỏ
bờ bên này mà chúng ta đã biết cho tới giờ, và chúng ta đang du hành hướng tới
cái chúng ta không biết chút nào.”
Điều đó mà đệ tử nên cầu nguyện thì hoàn toàn chấp
nhận được, nhưng thầy cũng nói, “Xin bảo vệ tôi.” Thầy phải biết bờ bên kia chứ!
Điều này có chút ít phức tạp. Trong thực tế tên của bờ bên kia là 'cái không
biết'. Chính ý nghĩa của bờ bên kia là cái chưa bao giờ được biết tới; dù chúng
ta có thể biết bất kì cái gì, thì nó vẫn còn là cái không biết.
Không, cái không biết vẫn có thể được biết tới một
ngày nào đó, nhưng cái không thể biết, thì dù chúng ta có biết đến đâu cũng
chẳng thành vấn đề, nó vẫn sẽ vẫn còn là cái không biết; dù chúng ta có thể
nhận ra bất kì cái gì, thậm chí thế thì nó vẫn còn là cái không thể nhận biết
được. Nó được bao hàm, vậy mà nó vẫn còn không bị chạm tới. Chúng ta khám phá
ra nó, chạm vào nó, vậy mà tay chúng ta vẫn còn trống rỗng. Người ta biết nó,
vậy mà bản ngã của 'việc biết' vẫn không được tạo ra bên trong.
Đó là lí do tại sao thầy nói, “Xin bảo vệ tôi nữa.”
Và điều đó là phải khi hỏi xin bảo vệ: cuộc hành trình là điều không biết, con
đường là điều không biết, bờ bên kia là điều không biết và đích tới là không rõ
ràng. Trong lời kinh tiếp ông ấy nói:
Cầu cho điều đó chăm sóc cả hai chúng ta..
Tại sao? Chăm sóc chỉ thuộc về mức vật lí. Nhưng có
lí do cho lời cầu nguyện này, và lí do đó là ở chỗ bất kì ai bắt đầu tìm kiếm
chân lí đều vứt bỏ trò bản ngã về việc cảm thấy rằng bản thân mình chịu trách
nhiệm cho thân thể mình. Bất kì ai nghĩ, “Mình kiếm bánh mì, mình xây nhà, quần
áo này là của mình, mình duy trì thân thể này và nếu mình không duy trì tất cả
những điều này, mọi thứ sẽ tan rã,” đều sống trong ngu ngốc, và người như vậy
có thể làm rất giỏi trong thế giới này nhưng người đó không thể nào đi tới chân
lí được.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này nói, “Ngài chăm
nom cho cả chúng tôi nữa, bởi vì từ giờ trở đi chúng tôi sẽ không còn là người
làm nữa, từ giờ trở đi chúng tôi thậm chí không thể nào có cảm giác rằng chúng
tôi có trách nhiệm nhỏ nhất về bản thân mình.”
Nhưng chúng ta là những người kì lạ: chúng ta không
chỉ nghĩ rằng chúng ta chăm nom cho mình, chúng ta thậm chí còn giả định rằng
chúng ta chăm nom cho người khác.
Hiền nhân này nói, “Bây giờ chăm sóc cho chúng tôi
là trong tay ngài; bây giờ ngài chăm nom cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ sống khi
ngài nuôi nấng chúng tôi. Nếu ngài bảo vệ chúng tôi thì tốt thôi, nếu ngài phá
huỷ chúng tôi thì thế nữa cũng tốt; bây giờ ý chí của ngài sẽ là cuộc sống của
chúng tôi. Bây giờ chúng tôi vứt bỏ ngay cả cảm giác về việc là người làm.”
Vứt bỏ cảm giác là người làm là điều quí giá, bởi vì
điều đó có ích trong cuộc hành trình. Trong thực tế bất kì ai bị gắn bó với cảm
giác là người làm thì đều để con thuyền của mình bị buộc chặt và bờ bên này và
người đó không thể nào tiến sang bờ bên kia được. Tất cả mọi neo để phải bị vứt
bỏ khỏi bờ bên này; cho dù còn một cái neo cắm vào bờ bên này cũng là nguy
hiểm. Nghĩ, “Mình kiếm sống và mình duy trì bản thân mình,” là đủ tạo ra một
cái neo.
Hiền nhân này nói: “Sự chăm nom cho chúng tôi
nữa....”
Cầu cho điều đó chăm sóc cả hai chúng ta...
Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng.
Có tri thức thầy giáo truyền cho học trò, như vẫn
được làm trong các trường đại học và cao đẳng - tri thức vốn là tích luỹ của
cái đã biết. Thầy giáo biết còn học trò không biết; thầy giáo truyền tri thức
này cho học trò. Thầy giáo cho nó, còn học trò nhận nó. Điều này chúng ta biết
rất rõ. Tri thức như vậy giống như một vật, giống như tiền - nó trong tay tôi,
tôi trao nó cho bạn. Bố có tiền, ông ấy đem nó cho con mình; thầy giáo có tri
thức, ông ấy đem nó cho học trò; đấy là truyền trao. Nhưng có những tri thức
không truyền trao được. Tri thức này thầy không trao, thầy không thể trao được;
không có cách nào để cho nó. Nhưng nếu cả hai người trong họ đều nỗ lực cùng
nhau thì nó lại có thể được truyền trao cho đệ tử. Cố hiểu khác biệt này.
Có tri thức tất cả chúng ta đều biết, là cho được;
người ta được nó, người ta cho nó. Tôi biết, bạn không biết; tôi trao nó cho
bạn, thế thì bạn cũng biết nó. Chắc chắn tri thức đó là từ lời, nhưng tri thức
như vậy sẽ là nông cạn. Cái có thể được trao qua lời sẽ không sâu sắc hơn bản
thân lời. Nó sẽ đem trọng lượng mà lời mang, nó sẽ có cùng giá trị. Tôi chẳng
cần biết điều tôi trao cho bạn; ai đó đã trao nó cho tôi và tôi trao nó cho
bạn, bạn sẽ trao nó cho ai đó khác.
Cho nên người dốt nát cũng dính líu vào trong việc
cho và nhận tri thức này, họ làm nhiều về điều đó. Và khi tri thức được luân
chuyển rất nhanh, thì dường như là xã hội đang trở nên rất hiểu biết. Chúng ta
đang sống trên tri thức như vậy trong thế kỉ này bởi vì tri thức đang luân
chuyển rất nhanh. Những người biết kinh tế đều hiểu điều này nghĩa là gì. Nếu
chúng ta có một nghìn ru pi và mọi người đều giữ chúng trong túi, thì chúng sẽ
vẫn còn là một nghìn. Nhưng nếu nó bắt đầu luân chuyển - tôi lấy mười ru pi từ
bạn, bạn lấy từ anh ấy, anh ấy cho nó cứ như thế như thế - những giao dịch hàng
trăm nghìn ru pi có thể xảy ra qua một nghìn ru pi gốc này. Luân chuyển! Các
nhà kinh tế nói rằng tiền phải liên tục luân chuyển giống như máu trong thân
thể, bằng không thì nó sẽ giảm bớt. Tiền dường như giảm đi nếu nó không được
luân chuyển. Càng nhiều tiền luân chuyển trong xã hội, thì xã hội dường như
càng giầu có hơn.
Người Mô ha mét giáo vẫn còn nghèo bởi vì, ngay từ
lúc đầu, đạo Hồi đã chấp nhận ý tưởng rằng lấy lãi trên tiền bạc là tội lỗi.
Bây giờ, nếu lấy lãi trên tiền bạc là tội lỗi thì việc luân chuyển tiền sẽ bị
dừng lại, luồng tiền bị chặn lại. Cho nên người Mô ha mét giáo vẫn còn nghèo
bởi vì họ đã lấy lời nguyện không lấy lãi trên tiền. Nếu bạn không lấy lãi thì
tiền sẽ bị chặn lại - làm sao nó tuôn chảy được? Nó tuôn chảy với sự giúp đỡ
của lãi; nó du hành từ túi này sang túi khác, và một ru pi luân chuyển trở
thành một nghìn ru pi.
Mĩ là nước giầu nhất bởi vì tại đó tiền chuyển nhanh
chóng. Nếu tiền chuyển nhanh chóng, ngay cả người nghèo cũng có vẻ giầu; nếu nó
không chuyển, ngay cả người giầu cũng là nghèo. Nhiều người giầu trên đất nước
này hoàn toàn nghèo, tiền của họ không chuyển chút nào. Họ ngồi trên két sắt
của mình. Nếu két của họ bị lấy đi dưới họ, thì điều đó cũng chẳng tạo ra khác
biệt gì cho cảm giác của họ về giầu chừng nào mà họ vẫn chưa biết rằng két sắt
đã bị lấy mất. Chính ý tưởng là họ đang ngồi trên két sắt của mình là đủ làm
cho họ cảm thấy rằng họ là người giầu. Nhưng nếu tiền không luân chuyển thì
ngay cả người giầu cũng sẽ là người nghèo, còn nếu nó luân chuyển thì ngay cả
người nghèo cũng dường như là giầu.
Đấy cũng là cách thức với tri thức: nó luân chuyển
nhanh. Chúng ta có giáo dục phổ quát; bây giờ có giáo dục trên toàn thế giới.
Và tri thức chuyển nhanh: người thứ nhất truyền cho người thứ hai, người này
truyền cho người thứ ba, người thứ ba truyền cho nó cho cho người tiếp; mọi
người cứ truyền tri thức cho mọi người khác. Dường như là rất nhiều tri thức,
nhưng thực tế thì lại không có.
Hiền nhân này không nói về tri thức đó mà ai đó có
thể trao cho bạn. Hiền nhân này nói: Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng - “Chúng
ta chỉ cần phúc lành đó thôi. Chúng ta sẽ sống cùng nhau, chúng ta sẽ thiền
cùng nhau, chúng ta sẽ cầu nguyện cùng nhau, chúng ta sẽ tôn thờ cùng nhau;
chúng ta sẽ đi cùng nhau, chúng ta sẽ ngồi cùng nhau trong im lặng, trong lời,
trong ý nghĩ. Chúng ta sẽ cùng nhau trong niềm khao khát vì ngài, trong nỗ lực
của chúng ta để đạt tới ngài. Chúng ta sẽ mơ cùng nhau, chúng ta sẽ hát cùng
nhau, chúng ta sẽ im lặng cùng nhau; cùng nhau chúng ta sẽ nhìn vào mặt trời,
cùng nhau chúng ta sẽ nhìn lên các vì sao trên trời trong đêm. Chúng ta sẽ cùng
nhau.”
Điều này được gọi là satsang: chúng ta sẽ cùng nhau.
Có lẽ cái không thể nào được trao một cách trực tiếp thì lại có thể được truyền
trao một cách im lặng, cái không thể nào được nói ra qua lời thì lại có thể hạ
xuống trong im lặng, cái không thể nào được trao thì lại có thể được trao khi
sống cùng nhau.
Bồ đề đạt ma tới Trung Quốc từ Ấn Độ từ một nghìn
bốn trăm năm trước. Một đệ tử, Huệ Năng, đã ở với Bồ đề đạt ma trong nhiều năm
và anh ta đã nhiều lần hỏi, “Khi nào thầy sẽ trao cho tôi... khi nào thầy sẽ
truyền đạt trí huệ đó? Khi nào khoảnh khắc đó sẽ tới khi bình bát của tôi được
rót đầy? Tôi đã theo thầy nhiều năm rồi và thời gian đang trôi qua, cuộc sống
lại không chắc chắn.” Bồ đề đạt ma chỉ cười mà chẳng nói gì.
Dần dần Huệ Năng chấm dứt việc hỏi. Chẳng có nghĩa
gì mà hỏi cả - con người này sẽ chỉ cười. Rồi một hôm hiện tượng đó xảy ra. Huệ
Năng tỉnh dậy giữa đêm và lay Bồ đề đạt ma: “Ít nhất thì thầy cũng có thể báo
trước cho tôi khi trao điều đó chứ. Và thầy chọn giờ thế đấy! - vào giữa đêm,
và trong khi tôi đang ngủ!”
Bồ đề đạt ma lại cười và ông ấy nói, “Im đi và ngủ
đi.” Ông ấy lại cười và cười như ông ấy đã cười trước đây.
Lần nữa Huệ Năng hỏi, “Thầy nói cho tôi điều gì đó
đi! Thầy đã trao nó cho tôi thế nào? Tôi đã nhận nó thế nào? Thầy đáng ra nên
nói sớm hơn cho tôi, thầy đáng phải nói điều gì đó! Thầy đã rót đầy tôi, vậy mà
thầy thậm chí lại chẳng báo gì cho tôi cả.”
Bồ đề đạt ma nói, “Ta cũng chẳng biết khi nào điều
đó xảy ra cả.”
Truyền trao này... khi nào nó sẽ xảy ra? Chẳng ai
biết cả. “Nhưng chúng ta cùng nhau cố gắng.” Nếu chúng ta cùng nhau, đi cùng
nhau và sống cùng nhau, điều đó sẽ xảy ra. Nếu một cây nến chưa thắp được đặt
gần một cây nến đã thắp sáng, chẳng ai có thể biết được khi nào một cơn gió sẽ
mang ngọn lửa tới gần cây nến chưa thắp, khi nào ngọn lửa sẽ nhảy vào cây nến
kia. Đây là cách thức, đây là cách việc truyền trao xảy ra.
Cho nên hiền nhân này nói: Cùng nhau chúng ta có thể
cố gắng. Chỉ thế thì có lẽ điều đó có thể xảy ra, rằng cái mà không thể được
trao lại có thể được trao. Nhưng để cho việc xảy ra đó thì cả hai là cần: người
này biết và người kia không biết; người được gọi là thầy và người được gọi là
đệ tử - họ đồng ý tới gần.
Người ta phải không học từ thầy, chỉ cần sống cùng
thầy là đủ. Việc học là dễ dàng, nhưng sống cùng mới khó. Việc học có thể được
thực hiện khi đứng ở xa; việc lại gần hơn là không cần thiết. Nhưng thân thiết
sâu sắc là cần để sống cùng nhau; cởi mở bên trong là cần, tin cậy, sùng kính
sâu sắc, tình yêu, điên khùng, khả năng nhìn ai đó còn gần hơn cái ta riêng của
mình... thế thì truyền trao xảy ra.
Nếu cây nến chưa thắp mà sợ sệt, giữ khoảng cách,
không tới gần cây nến đã thắp sáng và nếu bằng cách nào đó, khi ngọn lửa lại
gần nó, nó chạy ra xa hơn và sợ hãi, thế thì sự việc trở thành khó khăn. Cho
nên hiền nhân này nói: Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng.
Ông ấy không nói rằng chỉ đệ tử mới phải nỗ lực.
Điều đó dường như là thích hợp, chẳng phải thế sao? - điều đó sẽ là đủ. Tất cả
những cái gọi là guru đều yêu cầu đệ tử làm việc vất vả, phải nỗ lực. Không cái
gọi là guru nào nói rằng chúng ta nên cố gắng cùng nhau - bởi vì không chỉ đệ
tử ở gần thầy, điều quan trọng hơn đối với thầy là sẵn có cho đệ tử. Cho dù cây
nến chưa thắp có tới rất gần nhưng cây nến đã thắp lại kiêu căng ngạo mạn và
không sẵn lòng đi theo cơn gió, thì thế nữa chẳng cái gì xảy ra cả.
Nếu thầy cảm thấy mình là thầy thế thì chẳng cái gì
sẽ xảy ra, bởi vì cho dù người đó sẵn sàng cho, người đó vẫn không sẵn sàng
sống cùng với đệ tử, và điều đó không thể được trao mà không có việc sống cùng
nhau.
Đó là lí do tại sao, khi những người tìm kiếm ngày
xưa đi tìm kiếm, nơi họ sống cùng thầy đã được gọi là gurukul, gia đình của
thầy. Đây là gia đình của thầy; người tìm kiếm chỉ trở thành một thành viên của
gia đình đó. Người đó trở thành một, được hội nhập với gia đình đó. Nhưng gần
gũi này là hai mặt; mọi gần gũi đều hai mặt. Đó là lí do tại sao thầy nói:
“Chúng ta cố gắng cùng nhau, phải nỗ lực, làm việc vất vả, thiền cùng nhau.”
Đây là một sadhana lớn, một kỉ luật tâm linh lớn đối
với cả thầy nữa. Những người biết không chắc đã là thầy được. Cố hiểu điều đó.
Nhiều người trong thế giới này biết, nhưng họ không thể giúp được người khác
biết. Biết thì không khó thế.
Một hôm, ai đó tới Phật và hỏi ông ấy, “Thầy có mười
nghìn sư sống với thầy nhiều năm và thầy đã dạy họ, đã dẫn họ đi trên con đường
của sadhana, thiền. Bao nhiêu người đã đạt tới trạng thái của thầy? Bao nhiêu
người đã trở thành phật?” Một cách tự nhiên, đây là câu hỏi có liên quan. Nó là
phép thử Phật để xem ông ấy đã tạo ra bao nhiêu vị phật.
Phật trả lời rằng nhiều người trong họ đã đạt tới
phật tính.
Người này nói, “Không ai dường như là phật cả.”
Phật đáp, “Bởi vì họ không phải là thầy.”
Trở nên thức tỉnh là một điều còn giúp người khác
thức tỉnh lại là điều hoàn toàn khác. Không nhất thiết là người thức tỉnh bao
giờ cũng giúp cho người khác thức tỉnh, bởi vì nếu người thức tỉnh mà định đánh
thức người khác thì người này phải từ tầm cao của mình hạ xuống và đứng cùng
người kia trong thung lũng tối tăm của người kia; người này phải ở gần những
người đang dò dẫm, nắm tay họ trong tay mình. Nhiều lần người này phải bước xa
một chút để đi cùng họ trên con đường của họ nơi chẳng có gì ngoài địa ngục. Để
cho nếu người này bước xa một chút cùng bạn bây giờ, cầm tay bạn, chỉ thế thì
mới có khả năng về tin cậy nảy sinh trong bạn rằng ngày mai, nếu người này mời
bạn trên con đường của mình, bạn sẽ sẵn lòng đi cùng người này.
Thầy phải bước đi cùng với đệ tử, để cho đệ tử có
thể bước đi cùng thầy. Và nhiều lần thầy phải bước đi trên con đường mà thầy
đáng ra không phải đi, thầy phải lại gần với người thầy muốn thay đổi. Đó là lí
do tại sao hiền nhân này nói:
Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng.
Xán lạn là việc biết của chúng ta.
Có một kỉ luật tâm linh để biết chân lí, và có một
kỉ luật hoàn toàn khác để truyền trao chân lí đó; chúng là khác nhau, khác hoàn
toàn.
Người Jainas đã phân biệt giữa hai loại người này.
Kevali là người đã đạt tới trí huệ tối thượng; tirthankara là người đã đạt tới
trí huệ tối thượng và cũng là thầy giáo, cũng là bậc thầy - người đó được gọi
là tirthankara. Không có khác biệt nào khác giữa tirthankara và kevali. Kevali
đã đạt tới trí huệ, người đó có hiểu biết tối thượng, nhưng người đó không phải
là thầy. Người đó không thể truyền trao, người đó không thể trao điều đó cho
người khác được. Người đó không biết cách trao điều đó cho người khác.
Hiểu điều đó theo cách này. Chỉ có vài người trên
trái đất trong cả đời mình không làm ra bài thơ nào. Lúc này lúc khác một bài
thơ thơ trữ tình vọng lên bên trong, phát sinh trong mọi người. Nhưng có rất ít
nhà thơ. Nhiều người đã cảm thấy tiếng lầm rầm của bài ca, nhưng điều này không
làm cho họ thành nhạc sĩ. Cho dù nhạc có sinh ra trong bạn, thì vẫn có thể là
bạn sẽ không có khả năng hát nó to lên. Đó là lí do tại sao, khi nghe thơ, bạn
lại cảm thấy rằng đây là bài thơ mà đáng ra phải tới qua mình; đây là bài ca
mình đáng ra phải hát lên; đây là cùng giai điệu đã vang vọng bên trong mình,
nhưng mình lại không thể tạo ra nó được. Nhìn vào bức tranh nào đó bạn cảm thấy
rằng bạn cũng muốn vẽ nó, nhưng ai đó khác đã vẽ nó rồi. Trong thực tế khi bạn
thích một bức tranh, điều đó chỉ có nghĩa là nếu bạn có thể vẽ, thì bạn đã vẽ
nó rồi - nó đại diện cho bạn, nhưng bạn không thể làm được nó.
Nhiều lần chân lí đã được đạt tới, trí huệ tối
thượng hiển lộ, phát sinh. Nhưng thế rồi làm sao trao nó cho người khác? Làm
sao truyền đạt nó? Làm sao truyền đạt nó cho người khác?
Là thầy là một vấn đề hoàn toàn khác. Chỉ người sẵn
sàng cố gắng cùng với đệ tử mới có thể là thầy. Chỉ người đồng ý bước đi cùng
với đệ tử từ những bước đi đầu tiên, người đồng ý bắt đầu lại từ ABC, người có
thể cầm tay đệ tử và bắt đầu từ nơi bản thân người đó không cần bắt đầu, thì
mới có thể là thầy. Người đang đứng ở đích và phải có lòng dũng cảm để lại lấy
bước đi đầu tiên cùng đệ tử, chỉ người đó mới có thể trở thành thầy.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này cầu nguyện:
Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng.
Sáng lạn là việc biết của chúng ta.
Ông ấy tiếp tục cầu nguyện cho cả hai: Sáng lạn là
việc biết của chúng ta.
Điều này thực lạ, nhưng thường chuyện xảy ra là lần
đầu tiên bản thân thầy hiểu ra nhiều điều trong khi dạy điều đó cho đệ tử - lần
đầu tiên! Nhiều lần, giúp người khác hiểu là cách dễ nhất để hiểu bản thân
mình. Nhiều lần chân lí được kinh nghiệm từ bên trong, nhưng bản thân người
kinh nghiệm lại không hiểu hoàn toàn điều đã xảy ra. Cái gì đã xảy ra? Nó đã
xảy ra sao? Trong bẩy ngày, Phật nghiền ngẫm: Điều gì đã xảy ra?
Khi người ta đối diện với chân lí lần đầu tiên,
người ta chết lặng không nói nên lời. Người ta có thể thấy tất cả, nhưng chẳng
có gì được lĩnh hội; mọi thứ đều được hiểu, nhưng dầu vậy chẳng cái gì được
hiểu chi tiết cả. Chẳng cái gì được nắm bắt. Cái gì đã xảy ra? Cái đã tồn tại
tới ngày hôm qua, nay không còn nữa; cái chưa bao giờ tồn tại trước đây lại
hiện diện; cái vẫn được tin là thực đã trở thành mơ; cái không được biết tới
ngay cả trong mơ lại là thực thế ngay trước mắt người ta. Người đã bắt đầu tìm
kiếm thì đã biến mất còn người đã đạt tới chân lí này lại không được biết,
không thể nhận ra được.
Khi Meister Eckhart kinh nghiệm samadhi lần đầu
tiên, ông ấy đã hỏi hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất là: Cái gì đang xảy ra? và
câu hỏi thứ hai là: Nó đang xảy ra cho ai?
Một trong những đệ tử của ông ấy ở gần ông ấy. Đệ tử
này nói, “Ít nhất điều này tôi có thể nói cho thầy, rằng nó đã xảy ra cho thầy,
cho nên sao thầy hỏi điều đó xảy ra cho ai?”
Eckhart đáp, “Ông không biết đấy thôi. Người đã bắt
đầu việc tìm kiếm đã biến mất trong sự xảy ra này, còn người mà điều đó đã xảy
ra cho thì lại là người xa lạ cũng như việc xảy ra này.”
Nhiều lần, điều đã xảy ra chỉ trở nên rõ ràng khi
thầy dạy cho ai đó.
Cho nên hiền nhân này cầu nguyện: Sáng lạn là việc
biết của chúng ta. “Cầu cho việc biết của chúng ta thành sáng tỏ. Cầu cho việc
biết của chúng ta thành sắc bén, cầu cho ngọn lửa của trí huệ chiếu sáng... cầu
cho nó cứ chiếu sáng.”
Khoảnh khắc này không bao giờ tới khi người ta có
thể cầu nguyện với điều thiêng liêng là: “Bây giờ thì đủ rồi nhé.” Khoảng khắc
này không bao giờ tới khi người ta cầu nguyện với sự tồn tại: “Đủ rồi! Bây giờ nếu
ngài muốn thì ngài có thể làm đần độn trí thông minh của con, điều đó sẽ là
tốt.” Không, những khoảnh khắc như vậy không bao giờ tới cả. Trí huệ là chiếc
kiếm với lưỡi bao giờ cũng có thể được mài sắc hơn. Liên tục làm sắc bén và vậy
mà... vậy mà cái gì đó vẫn còn để được làm sắc bén. Điều này là vô tận, điều
này là vô biên.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này vẫn cầu nguyện:
Sáng lạn là việc biết của chúng ta.
Trong thực tế thầy này nói rằng không có lí do gì để
tin rằng mình đã trở thành người trí huệ, vẫn còn nhiều trí huệ hơn đang ở phía
trước; vẫn còn có dốt nát. Có lẽ người biết thì có thể thấy nhiều dốt nát hơn
người không biết, và do vậy người đó có thể nói rằng vẫn còn có dốt nát. Nhưng
bây giờ đừng lầm rằng người đó thực sự là kẻ dốt nát. Chớ cho rằng con người
này thực tế cần hỏi tri thức và tài giỏi. Nhưng lời cầu nguyện này là phải và
nó là biểu tượng. Nó truyền đạt rằng người trí huệ bao giờ cũng khiêm tốn, và
rằng người đó không ngần ngại cầu nguyện.
Chỉ kẻ yếu đuối mới sợ cầu nguyện. Người yếu đuối
thì thậm chí không đủ dũng cảm để hỏi. Ngay cả đứng trước điều thiêng liêng, từ
đó mà mọi thứ đều có thể được nhận, thì người đó cũng đứng đấy cứ như là mình
đã có mọi thứ rồi. Cho dù tại cửa của điều thiêng liêng người đó vẫn giữ cái
rỗng tuếch của mình không bị động chạm tới và lẩn ra xa che giấu bình bát ăn
xin của mình đằng sau mình vì sợ rằng cái đó có thể bị thấy.
Nhưng người biết thì cũng biết rằng việc biết không
phải là hiện tượng tĩnh tại. Nó không phải là việc xảy ra có giới hạn như cái ao.
Việc biết giống như dòng sông liên tục chảy - không dừng. Việc biết cứ lớn lên
vô tận - nó cứ đi mãi. Đây là ân huệ của trí huệ, rằng nó không có điểm kết
thúc. Nếu trí huệ có điểm kết thúc, nó sẽ trở thành chết. Hoa của trí huệ nở
mãi. Hiểu điều đó như thế này: rằng ngày một nhiều cánh hoa cứ nở ra, và khoảnh
khắc việc nở hoàn thành không bao giờ tới cả. Nụ của trí huệ không nở hoa và
tàn phai, nó bao giờ cũng vẫn còn là cái nụ, cứ nở hoa. Nó nở hoa bao nhiêu
cũng chẳng thành vấn đề gì, nó vẫn còn là nụ.
Cầu cho chúng ta không ghen tị.
Trên cuộc hành trình này hướng tới trí huệ, tại sao
cần nói rằng chúng ta không nên ghen tị bất kì ai? Giữa điểm mà lời kinh này
bắt đầu và điểm nó đạt tới, điều này dường như chẳng liên quan, đột ngột và cộc
lốc. Đây là việc tìm kiếm chân lí. Cuộc hành trình là không biết. Sáng chói của
thông minh là cần và trí huệ cũng cần, tâm thức thức tỉnh là cần... tất cả
những điều đó là tốt; thầy và đệ tử nên nỗ lực cùng nhau... điều đó là tốt.
Nhưng thế rồi bỗng nhiên thầy nói: Cầu cho chúng ta không ghen tị. Liên quan
của nó là gì? Tại sao nó lại được nhắc tới? Tại sao ông ấy không nói ghen tị
người nào? Cố hiểu điều đó.
Những phát biểu của hiền nhân không bao giờ là không
liên quan, cho dù chúng dường như có vẻ vậy. Có thể có vẻ như hiền nhân này đã
nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, mà chẳng có mối nối nào ở giữa. Có nhiều chỗ
trong Upanishads mà dường như là một câu kinh này bắt đầu từ một ý tưởng này và
kết luận ở đâu đó khác; không có mối nối ở giữa, không có quan hệ. Cho dù thế thì
chúng cũng không nhảy tới kết luận, bởi vì các hiền nhân này, những người thấy
này, biết mối nối bên trong nào đó vốn vô hình với bạn. Họ biết sự liên quan
bên trong nào đó mà không lọt vào trí thông minh của bạn cho dù là ngày nay.
Cầu cho chúng ta không ghen tị.
Trong thực tế khi một người bắt đầu tìm kiếm cái gì
đó thì người đó được thúc đẩy bởi ghen tị với người khác, bởi sự đố kị với
người khác. Ngay cả trong tìm kiếm chân lí người ta cũng có thể đố kị với người
khác. Ham muốn về tri thức cũng có thể được dựa trên sự đố kị và cạnh tranh với
người khác.
Một người bạn của tôi tới tôi tám ngày trước đây và
anh ta nói, “Tôi rất phiền não và lo âu: Làm sao tôi có thể đạt tới được Thượng
đế?”
Tôi hỏi anh ta, “Lí do của lo âu này là gì? Bạn có
thôi thúc mạnh mẽ về điều thiêng liêng và đó là lí do tại sao bạn phiền não
sao? Bạn cảm thấy đau đớn khi mất ý nghĩa duy nhất trong cuộc sống, mục tiêu
duy nhất của cuộc sống sao? Bạn cảm thấy cuộc sống là vô dụng chừng nào điều đó
còn chưa đạt được sao? Bạn đã nếm trải hương vị của nó và hương vị đó đang ám
ảnh bạn, lôi kéo bạn, vẫy gọi bạn lặp đi lặp lại mãi sao? Bạn đã thấy điều
thiêng liêng qua cửa sổ nào đó, hoặc ở gần kề hoặc có thể từ một khoảng cách và
bây giờ bạn thấy khó mà quên được, mà cứ lặp đi lặp lại mãi, bạn nhớ cơ hội đó
và nghĩ về cách đạt tới đó sao?”
Anh ta đáp, “Không, chẳng cái gì giống thế cả. Khi
thầy có thể đạt tới nó, thì sao tôi không thể? Khi Ramakrishna có thể đạt tới
nó, sao tôi không thể? Và khi Ramana Maharshi có thể đạt tới nó, thì cái gì sai
với tôi? Tôi bị bối rối khi tôi nghe thầy nói với mọi người. Tôi chưa có hương
vị, chẳng có thôi thúc, mà tôi thậm chí cũng chẳng chắc liệu điều thiêng liêng
có tồn tại hay là không!”
Cho nên điều đó có thể không thấy được đối với bạn,
nhưng lời cầu nguyện của hiền nhân này là đúng: cầu cho chúng ta không ghen tị.
Chúng ta không nên bắt đầu việc tìm kiếm của mình bởi vì ghen tị của chúng ta
với người khác hay bởi vì chúng ta sợ bị tụt đằng sau.
Tất cả chúng ta đều trong cạnh tranh lẫn nhau, không
chỉ vì nhà cửa hay đồ đạc, mà ngay cả để nhận ra điều thiêng liêng. Nếu một
trăm cái tên bị loại ra khỏi lịch sử nhân loại, chúng ta thậm chí có thể quên
mất ý tưởng về Thượng đế. Một trăm người này khơi dậy nên ghen tị trong chúng
ta. Một Phật được sinh ra và cuộc sống của chúng ta thành khó khăn: Nếu con
người này đã đạt tới, làm sao mình có thể tụt lại đằng sau được?
Cho nên ngay đầu tiên chúng ta đã cố gắng đủ mọi
cách để phủ nhận thành quả của ông ấy; đó là chiến lược của chúng ta, tự bảo vệ
của chúng ta. Đầu tiên, chúng ta làm mọi nỗ lực để phủ nhận thành quả của ông
ấy. Chúng ta nghĩ, “Có lần mình đã thấy con người này trông giận dữ thế, có lần
mình đã thấy ông ta ăn thức ăn ngon, có lần mình đã thấy con người này đầy bản
ngã.” Trước hết, chúng ta tự an ủi mình theo đủ mọi cách rằng ông ấy còn chưa
đạt tới, để cho chúng ta có thể tránh vấn đề ghen tị và đố kị này, để cho cái
cảm giác cạnh tranh này có thể bị né tránh đi. Nhưng một người như Phật không
xét tới hay không quan tâm tới chúng ta. Ông ấy sống theo cách riêng của ông
ấy.
Thế rồi dần dần chúng ta bị bối rối khi nhận ra rằng
ông ấy đã đạt tới cái gì đó. Chúng ta thử ông ấy theo đủ mọi cách, nhưng ông ấy
chẳng quan tâm. Dường như là ông ấy đã được cái gì đó. Chúng ta thử ông ấy bằng
việc ném đá vào ông ấy, bằng việc bỏ thuốc độc ông ấy, bằng việc đóng đinh ông
ấy; chúng ta thử ông ấy theo đủ mọi cách, và thế rồi nghi ngờ lớn lên. Một hôm
chúng ta cảm thấy rằng đúng, ông ấy đã có được điều đó. Và thế thì ngay lập tức
cuộc vật lộn của chúng ta bắt đầu để đạt tới cùng điều đó.
Khó mà quan niệm rằng thậm chí mọi người sẽ bắt đầu
việc tìm kiếm chân lí bằng ghen tị, nhưng điều này lại là thực tại. Ngay cả thế
thì ghen tị vẫn tồn tại. Chúng ta không dung thứ cho người khác được giầu, cũng
không dung thứ cho người khác được trí huệ. Chúng ta không thể dung thứ cho cảm
giác rằng người khác đã đạt tới cái gì đó mà chúng ta không có.
Cho nên hiền nhân này cầu nguyện: Cầu cho chúng ta
không ghen tị.
Điều này không phải là không liên quan, nó rất liên
quan, bởi vì ai đó tìm kiếm chân lí do ghen tị thì có thể đạt tới đâu đó, nhưng
không bao giờ đạt tới điều thiêng liêng. Tiền bạc có thể được làm ra do ghen
tị, không có vấn đề gì trong đó. Trong thực tế tiền chẳng bao giờ được làm ra
nếu không có ghen tị. Cạnh tranh là tiền đề cho mọi thành đạt trong thế giới
này, và cạnh tranh của bạn càng hiểm độc bao nhiêu, bạn càng thành công bấy
nhiêu. Ghen tị của bạn càng sâu, bạn càng trở nên mạnh hơn. Nhưng điều này
không áp dụng cho việc tìm kiếm điều thiêng liêng, bởi vì người mà thấy người
khác là 'người khác' thì người đó không thể nhận ra được điều thiêng liêng. Và
người không vui sướng khi thấy trí huệ của người khác thì cũng chưa có khao
khát về trí huệ.
Còn có kiểu người khác nữa, người khi gặp một Phật,
thậm chí chẳng bận tâm liệu Phật đã đạt tới hay chưa. Người đó không quan tâm,
không lo nghĩ liệu con người này đã đạt tới hay không. Người đó không bị bận
tâm về việc đạt tới chỉ bởi vì Phật đã đạt tới - không, người đó vui sướng với
hương thơm của Phật, người đó xúc động bởi bài ca của Phật; thấy Phật người đó
trở nên bị thuyết phục, nhưng người đó không ghen tị với ông ấy. Thấy Phật
người đó cảm thấy được đảm bảo và người đó nói, “Tốt rồi, bất kì niềm khao khát
nào trong mình, cùng niềm khao khát này đã đạt tới đại dương trong con người
này. Bây giờ mình có thể đi theo niềm khát khao của mình với sự tin cậy.” Người
đó đạt tới tin cậy sau khi nhìn vào Phật, tin cậy rằng thậm chí điều không thể
cũng là có thể, tin cậy rằng ngay cả chân lí xa xăm cũng ở rất gần. Phật tính là
rất xa với người đó, nhưng Phật lại rất gần với người đó nữa - người đó có thể
chạm chân Phật trong tay mình. Và nếu người đó có thể chạm chân Phật trong tay
mình, thì trước khi phật tính xa xôi cũng có thể được đạt tới - người đó đã đạt
tới tin cậy đó.
Thế thì không có ghen tị, thế thì chỉ có tạ ơn, biết
ơn. Người đó cảm thấy biết ơn bởi vì ai đó đã nở hoa; người đó được nhắc nhở về
cái nụ của riêng mình, người đó được nhắc nhở về cái ta riêng của mình, và nhận
biết nảy sinh. Thế thì cuộc hành trình không bắt đầu bởi vì ghen tị. Đấy là
cuộc hành trình vui sướng, đáng yêu, không liên quan tới người khác.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này cầu nguyện: Cầu
cho chúng ta không ghen tị.
Nếu không có ghen tị, và chỉ có khao khát riêng của
người ta, người ta có thể dễ dàng đạt tới trạng thái nơi người ta có thể nói:
“Aum, an bình, an bình, an bình,” nơi người ta có thể nói, “Mọi thứ đều an
bình, mọi thứ đã đạt tới thanh thản tối thượng của nó, mọi thứ đều là phúc
lạc.”
Đây mới là lời kinh của Upanishad.
Bây giờ có đôi điều gợi ý cho sáng mai, và cuộc tụ
tập đêm nay của chúng ta sẽ kết thúc.
Gợi ý đầu tiên là cho tất cả những ngày này của trại
thiền. Trong bẩy ngày sắp tới bạn phải sống theo cách dùng tối thiểu khối lượng
sinh lực. Số tối thiểu phải dùng, bởi vì việc tìm kiếm của chúng ta đi vào
chiều mà cần tới rất nhiều sinh lực, nếu bạn làm phí hoài chúng một cách không
cần thiết, bạn sẽ không có năng lượng cho việc tìm kiếm đó. Nếu bạn đốt cháy
dầu của ngọn đèn của bạn ở chỗ nào đó khác, bạn sẽ không có khả năng thắp sáng
ngọn lửa cho mục đích mà bạn đã tới đây; dầu của đèn của bạn phải được gìn giữ.
Cho nên trong bẩy ngày, gìn giữ năng lượng của bạn
nhiều nhất có thể được. Và để gìn giữ năng lượng, đóng mọi khả năng mở các giác
quan của bạn lại bởi vì chúng là cách làm cho năng lượng của bạn, sức mạnh của
bạn sẽ bị phí hoài. Giữ cho mắt nhắm nhiều nhất có thể được.
Cho nên, sáng mai làm tấm khăn bịt mắt, hay bạn có
thể làm ngay bây giờ. Trong hai mươi tư giờ, bất kì khi nào bạn cần bước đi, hé
tấm khăn bịt mắt ra để cho bạn có thể thấy bốn bước phía trước, chỉ thế là đủ -
thậm chí không cần đến bước thứ năm. Bước ở đây chỉ nhìn bốn bước phía trước.
Ngay khi bạn tới đây, nhắm mắt lại và che chúng kín hoàn toàn bằng miếng che
mắt. Trong cả ngày, bắt đầu từ sáng, tấm che mắt nên vẫn còn trên mắt bạn.
Phần lớn năng lượng của bạn bị tiêu tán qua đôi mắt;
gìn giữ nó ở bên trong. Năng lượng của mắt đặc biệt cần được gìn giữ, bởi vì
điều chúng ta đang tìm kiếm đòi hỏi dùng con mắt bên trong, và năng lượng thì
là một. Cái được dùng cho mắt ngoài phải được dùng cho mắt trong nữa - cùng
năng lượng này được dùng.
Đó là lí do tại sao chúng ta gọi hiền nhân là người
thấy - người nhìn thấy. Đó là lí do tại sao chúng ta gọi kinh nghiệm đó là
darshan, việc thấy, kiến. Con mắt trong của bạn nên nhận năng lượng mà con mắt
ngoài của bạn đang nhận, cho nên giữ cho mắt bạn khép lại. Trong bẩy ngày, để
tất cả năng lượng của bạn đi vào bên trong. Giữ cho mắt bạn khép lại và nhớ cả
ngày rằng năng lượng của cả hai mắt bạn đều hướng tới con mắt thứ ba, ở giữa
hai lông mày, ở giữa trán. Bất kì khi nào bạn nhớ, nhắm mắt lại, ngồi im lặng,
và nhớ rằng năng lượng của cả hai mắt đang chảy tới con mắt thứ ba giữa hai con
mắt này, giữa hai lông mày, chảy từ hai bên, đi vào trong con mắt thứ ba. Vậy
việc thiền của bạn sẽ thành sâu sắc vô cùng.
Mọi lúc có thể, giữ cho tai bạn khép lại. Đừng nghe
gì, bởi vì người quan tâm tới việc nghe âm nhạc bên trong thì nên tránh tiếng
động bên ngoài. Bằng không, âm nhạc bên trong rất tinh tế nếu so với tiếng động
bên ngoài và sẽ khó mà nghe thấy nó, cho nên chúng ta cần hoà hợp trong nó. Nút
bông, hay bất kì cái gì bạn muốn, vào lỗ tai mình; giữ cho tai đóng toàn bộ
thời gian này - chúng không được cần tới. Nhiều nhất tai bạn sẽ được cần tới
chỉ vài phút; ngoài ra thì không cần. Đừng dùng tai trừ khi bạn nghe tôi. Giữ
cho chúng được đóng kín, và nhận biết mọi lúc về bất kì cái gì bạn có thể nghe
thấy đang xảy ra bên trong - chỉ là việc nhớ lại: có cái gì đó mà có thể nghe
được ở bên trong không? Thế thì năng lượng của tai bạn sẽ bắt đầu chảy bên
trong và bạn sẽ có khả năng nghe thấy âm thanh bên trong khi thiền, và bạn sẽ
có khả năng thấy những linh ảnh bên trong khi thiền.
Tai, mắt và môi bạn. Thứ ba, giữ cho môi bạn khép
lại và nói tối thiểu. Tốt nhất là bạn không nói chút nào. Giữ im lặng. Bạn được
tự do để chọn điều bạn làm với tai và mắt - nếu bạn muốn bạn có thể để mắt mở,
và nếu bạn muốn thì bạn có thể để cho tai mở, bởi vì chỉ bạn bị lỡ - nhưng với
môi bạn đang làm hại cho người khác, với môi bạn đang xâm phạm, cho nên đừng
nói chút nào. Nghe và nhìn có thể là chọn lựa của bạn.
Bất kì chỗ nào bạn muốn đi, bất kì cái gì bạn muốn
làm, bạn có thể làm. Tuy nhiên, nếu bạn đã tới để thiền, giữ cho mắt và tai
được đóng. Nếu bạn tình cờ tới đây chỉ bởi việc đi lang thang, đấy là chọn lựa
của bạn. Nhưng cho dù bạn đã tới đây một cách tình cờ, bạn cũng không được phép
nói, bởi vì trong việc nói bạn công kích vào người khác; khi bạn nói, bạn làm
hại người khác, cho nên xin đừng nói chút nào.
Nhiều người có thể đã tới đây bởi vì họ không thể
tán gẫu ở thành phố quê nhà họ ... hay họ không thể tìm được nạn nhân nào,
người sẵn có ở đây. Họ hi vọng tán gẫu với những người đó. Tại đây không được
phép tán gẫu. Trại này nên hoàn toàn yên tĩnh. Im lặng nên thịnh hành trong
phòng bạn, bất kì nơi nào bạn hiện hữu; không ca hát, không bài ca, không nói,
không đối thoại, không gì thuộc loại như vậy. Giữ yên tĩnh trong bẩy ngày.
Bạn đã nói cả đời mình rồi và bạn đã thu được gì?
Sau bẩy ngày, bạn có thể làm lại điều đó cho cả phần còn lại của cuộc đời mình.
Hay, nếu bạn định có nhiều hơn một kiếp sống, thì bạn có thể làm điều đó trong
nhiều kiếp. Nhưng trong bẩy ngày này, nghe tôi và dừng nói. Thế thì có khả năng
là bạn có thể có thoáng nhìn về im lặng, về điều không thể được biết qua việc
nói. Thế thì với toàn bộ năng lượng của bạn chúng ta có thể đi sâu vào thiền.
Cho nên bạn phải giữ ba giác quan này đóng lại.
Và bây giờ, điều thứ tư. Chúng ta sẽ dùng nhiều năng
lượng ở đây cho thiền, cho nên tốt hơn cả là làm khối lượng công việc vật lí
bên ngoài ở mức tối thiểu. Bạn đừng đi vẩn vơ quanh quất để xem chỗ này chỗ nọ.
Bạn sẽ trở về mệt nhoài, và thế thì bạn sẽ phàn nàn rằng chẳng cái gì xảy ra
trong thiền cả. Tới đây hoàn toàn tươi tắn, bởi vì bạn phải làm nhiều nỗ lực ở
đây. Cho nên đừng đi đâu khác; đừng đi ngắm cảnh trong những ngày này.
Bất kì lúc nào bạn làm được ba điều này, nằm ra đâu
đó trong bóng râm của cây cối, giữ nghỉ ngơi hoàn toàn, thư dãn; thảnh thơi tối
đa và dừng tối đa các giác quan bên ngoài của bạn.
Ăn rất ít thôi, bởi vì nhiều năng lượng được tiêu
thụ trong khi tiêu hoá thức ăn, và và năng lượng được dùng trong tiêu hoá thức
ăn chẳng tạo ra gì khác hơn bệnh tật. Ăn tối tiểu thức ăn, giữ cho dạ dầy được
nhẹ để cho năng lượng có thể đi lên. Dạ dày càng nặng, năng lượng càng đi thấp
hơn bởi vì nó phải đạt tới dạ dầy. Đây là lí do tại sao bạn cảm thấy buồn ngủ
sau bữa ăn, bởi vì não phải chuyển năng lượng của nó tới dạ dầy và thế thì não
trở nên nhàn rỗi và đi ngủ. Đó là lí do tại sao, nếu bạn đói hay bạn đang nhịn
ăn, bạn không thể ngủ được vào ban đêm. Lí do là ở chỗ năng lượng liên tục chảy
lên và các tế bào não cứ bị giữ thức tỉnh bởi vì chúng đầy năng lượng. Nếu năng
lượng chảy hướng nhiều tới dạ dầy, nỗ lực có ý thức trở thành khó khăn; cho nên
ăn ít thôi.
Bạn sẽ chẳng mất gì trong bẩy ngày này với khối
lượng thức ăn tối thiểu, và ích lợi lớn lao vô cùng - thậm chí nó có thể có ích
cho thân thể. Ăn ít và ăn nhẹ thôi. Bạn nên ăn ít tới mức bạn cảm thấy dường
như còn chưa ăn gì, chỉ chừng đó thôi. Cho nên tôi không nói dừng ăn hoàn toàn,
bởi vì người dừng ăn hoàn toàn không làm cái gì ngoài việc nghĩ về ăn cả ngày.
Bạn chỉ nên ăn ít thôi.
Và điều kì lạ là người ăn quá nhiều thấy khó ăn ít
đi. Nếu bạn bảo họ đừng ăn chút nào, họ sẵn sàng đồng ý. Lí do cho điều này là
ở chỗ bao giờ cũng dễ đi từ cực đoan này sang cực đoan khác, khó dừng lại ở
giữa. Nếu bạn được bảo đừng ăn chút kẹo, bạn sẽ nói, "Được thôi tôi sẽ
không nhìn vào chúng." Nhưng nếu kẹo có đó trong đĩa và bạn được bảo lấy
hai thìa thôi, thế thì sẽ thực sự khó cố gắng kiểm soát bản thân mình khi cám
dỗ có đó.
Ăn, nhưng ăn ít.
Đây là chương trình cơ sở cho bẩy ngày tới.
Vào buổi sáng sẽ là kirtan, ca hát và nhảy múa mang
tính cầu nguyện, trong mười lăm phút. Tất cả các bạn đều đứng dậy và nhảy một
cách phúc lạc trong buổi kirtan. Tấm che mắt vẫn còn trên mắt. Bạn có thể lan
toả ra, tấm khăn che mắt vẫn còn trên mắt, nhảy múa, làm kirtan một cách vui
sướng, nhảy múa một cách phúc lạc. Bạn để cho bản thân mình đi vào kirtan một
cách phúc lạc trong mười lăm phút; điều đó tôi sẽ nói chi tiết cho bạn vào buổi
sáng.
Thế rồi kirtan sẽ dừng lại và chỉ còn âm nhạc được
chơi trong mười lăm phút; bạn lại tiếp tục nhảy múa, nhảy múa một cách tự do.
Sau đó, trong ba mươi phút, bạn thảnh thơi như người chết. Điều đó sẽ là buổi
thiền sáng. Sáng mai tôi sẽ giải thích cho bạn về buổi thiền trưa và đêm.
Một thực nghiệm đặc biệt phải được bổ sung vào trong
trại này - được thực hiện trước khi bạn đi ngủ. Tôi sẽ giải thích điều đó cho
bạn bây giờ, bởi vì điều đó phải được bắt đầu từ đêm nay, và điều đó là bắt
buộc. Nếu bạn làm điều đó, bạn sẽ tạo ra nhiều năng lượng, và năng lượng đó sẽ
được sử dụng vào ngày mai. Trước hết, tôi bảo bạn gìn giữ năng lượng của mình,
đừng làm phí hoài nó - đó là một điều; bây giờ tôi sẽ bảo bạn cách tạo ra nhiều
năng lượng hơn - cách tạo ra nó. Tôi đã bảo bạn đừng dùng điều bạn đã có để cho
nó được bảo tồn, và bây giờ tôi sẽ bảo bạn điều tiếp - cách tạo ra nó.
Bất kì năng lượng nào con người có, nói chung đều
được chi dùng vào các việc thường lệ hàng ngày, và bất kì năng lượng nào còn
lại, đều được tích luỹ vào trung tâm dục của bạn. Năng lượng còn thừa lại đó
khêu gợi bạn, thúc đẩy bạn đi vào ham muốn dục. Đó là lí do tại sao vô dục dễ
thực hành nếu bạn ăn ít - bởi vì năng lượng phụ đó không được tạo ra. Vì năng
lượng phụ không được tạo ra, nên nó không tích luỹ vào trung tâm dục. Nhưng thế
thì brahmacharya, vô dục, lại là lừa dối, nó không có nghĩa. Nó xảy ra bởi vì
bạn đang sống tại mức thấp chỉ với khối lượng năng lượng tối thiểu. Nếu bạn
không ăn thức ăn trong ba mươi ngày, bạn sẽ mất quan tâm tới dục đối lập. Mối
quan tâm của bạn đã không dừng lại bởi vì bạn là con người được biến đổi, mà
bởi vì năng lượng cần cho mối quan tâm này bây giờ không được tạo ra. Sau ba
mươi ngày, nếu bạn ăn cho dù chỉ ba ngày thôi, thì ba ngày của thức ăn đó sẽ
phá huỷ điều mà ba mươi ngày nhịn ăn đã tạo ra; bạn sẽ thấy bản thân mình quay
trở về cùng chỗ cũ.
Điều thứ nhất là ở chỗ năng lượng phụ này được tích
luỹ lại trong trung tâm dục của bạn, và điều thứ hai là ở chỗ trung tâm dục là cái
máy phát tạo ra năng lượng trong mọi con người, trong mọi sinh linh. Trung tâm
dục là cái máy bên trong chúng ta tạo ra năng lượng. Nếu bạn muốn, bạn có thể
tạo ra ngày một nhiều năng lượng bằng nó. Nhưng chúng ta dùng cái máy này chỉ
để tống năng lượng ra và không tạo ra nó. Năng lượng được tạo ra bởi trung tâm
này, chảy ngược lên, trở thành kundalini, hoả xà, lực sống.
Cho nên thực nghiệm này là dành cho kundalini. Và
nếu bạn làm nó, bẩy ngày này sẽ biến thành hoàn toàn phúc lạc cho bạn; thế thì
bạn sẽ không bao giờ có khả năng quên nó nữa.
Đêm nay, khi bạn đi ngủ, và hàng ngày, khi bạn nằm
xuống trên giường sau khi hoàn thành mọi thứ, khi bạn sẵn sàng đi ngủ, cởi quần
áo và đắp lên mình bằng một chiếc chăn hay tấm trải giường. Nằm ngửa hoặc
nghiêng, dạ dày xuống dưới giường, bất kì cách nào bạn cảm thấy thoải mái hơn -
bạn có thể quyết định cách nào sau khi thực nghiệm vài ngày. Để thân thể bạn
chùng lỏng lại, nhắm mắt, và đưa sự chú ý của bạn vào trung tâm dục. Tưởng
tượng rằng trung tâm dục đang bắt đầu hoạt động và năng lượng chuyển quanh nó.
Bạn phải đã thấy xoáy nước, nước xoáy nhanh đến mức tạo thành xoáy. Bất kì cái
gì được ném vào trong xoáy này đều chuyển động theo vòng tròn, cho nên cảm thấy
nó bên trong bạn - năng lượng chuyển động nhanh xung quanh trung tâm dục. Nếu
bạn ném đoá hoa vào nó, nó sẽ xoay tròn và chìm mất vào giữa. Tưởng tượng nó
giống thế. Trong ba phút các rung động sẽ bắt đầu bên trong bạn.
Ban đầu những rung động này sẽ giống như những rung
động trong việc làm tình; thân thể sẽ rung động. Khi nó rung động, cứ để cho nó
rung động một cách toàn bộ, hợp tác với nó, giúp đỡ nó. Chỉ tưởng tượng rằng
bạn đang thực sự mê mải trong việc làm tình và toàn bộ thân thể đều rung động.
Để cho toàn bộ thân thể trở thành nóng.
Ngay khi bạn cảm thấy rằng toàn bộ thân thể đang
rung động và năng lượng đang chuyển động nhanh tại trung tâm dục, để bản thân
mình chùng lỏng và tập trung vào một ý nghĩ: rằng năng lượng đó đã bắt đầu đi
lên từ trung tâm dục, cũng giống như ngọn lửa bốc cao lên. Đem năng lượng đó
vào giữa trán, giữa hai mắt, giữa hai lông mày; bạn phải đem nó tới trung tâm
con mắt thứ ba. Năng lượng này sẽ bắt đầu chảy lên. Bạn chỉ phải nhận biết rằng
năng lượng này đã tích luỹ vào giữa hai mắt và nó đã bắt đầu tuần hoàn ở đó.
Thế rồi quên tất cả về trung tâm dục, và đi ngủ với
sự chú ý của bạn vào con mắt thứ ba. Khi bạn dậy vào buổi sáng, trước hết cảm
thấy trung tâm này giữa hai mắt và bạn sẽ thấy có cảm giác năng lượng chuyển
động nhanh ở đó. Bạn sẽ cảm thấy sự chuyển động rõ ràng.
Điều này bạn phải làm mọi đêm, trong bẩy ngày. Nó sẽ
chuyển kênh năng lượng phụ vẫn thường chảy vào dục nay vào con mắt thứ ba.
Trung tâm dục sẽ tạo ra năng lượng, nhiều nhất có thể được, và tất cả những
năng lượng đó sẽ có sẵn cho con mắt thứ ba của bạn. Vào buổi sáng chúng ta sẽ
thực nghiệm trên con mắt thứ ba đó, cho nên việc làm thực nghiệm này vào ban
đêm là điều bắt buộc.
Đây sẽ là thực nghiệm cho đêm nay. Bây giờ chúng ta
sẽ làm kirtan trong vài phút. Mọi người đứng dậy và nhảy múa và thực hành trong
kirtan, rồi sau đó chúng ta sẽ giải tán.
Xem tiếp Chương 2 - Quay về Mục lục
Chương 1: Một thuyền, hai lữ khách
4/
5
Oleh
John Nguyen
