Osho
- Con đường bên ngoài mọi con đường
Chương 17: Như thế là bí ẩn này
Ta là brahman này được biết tới bởi mọi vedanta,
trạng thái bên ngoài tri thức.
Ta không thể nhận biết được ngay như bầu trời và
không khí vân vân,
Ta không hình dạng không tên tuổi không hành động.
Ta là brahman này, thực tại tối thượng:
chỗ cư ngụ của sat, chit, anand - chân lí, tâm thức,
phúc lạc.
Ta không là thân thể -
làm sao có thể có sinh và tử cho ta?
Ta không là hơi thở sống -
làm sao có thể có đói hay khát cho ta?
Ta không là tâm trí -
làm sao có thể có buồn rầu hay vui thích cho ta?
Ta không là người làm -
làm sao có thể có tù túng hay giải thoát cho ta?
Như thế là bí ẩn này....
Tại đây kết thúc Upanishad.
Xa như việc mở rộng của tri thức có thể đạt tới,
điều đó sẽ được gọi là veda. ‘Veda’ nghĩa là hành động của việc biết, biết.
Veda và vidvan - học giả - có cùng một gốc. Veda nghĩa là tri thức.
Những cũng có một chiều của cuộc sống, một trạng
thái ẩn kín của sự tồn tại nơi thậm chí tri thức cũng không thể nào ném vào
được ánh sáng nào, nơi tri thức không truy nhập tới, nơi việc truy nhập là có
thể chỉ nếu tri thức bị bỏ ra ngoài. Do đó Ấn Độ đã thai nghiệm ra một từ duy
nhất - bạn phải đã thường nghe nói về nó nhưng có lẽ không hiểu nói: từ đó là
vedanta.
Vedanta nghĩa là trạng thái nơi thậm chí veda, tri
thức, cũng đi tới chỗ kết thúc, nơi ngay cả tri thức cũng không thể tiếp cận
được, nơi bạn phải đi thậm chí vượt ra ngoài tri thức, nơi tri thức trở thành
vô nghĩa, nơi tri thức không truy nhập tới được. Veda nghĩa là tất cả các tri
thức, xa tới mức nó có thể đi tới được. Nhưng ngay cả điều đó cũng không ích
gì. Tất cả những cái đã được biết đều không có ích gì; tất cả những cái đã được
kinh nghiệm, tất cả những kho báu tri thức đều không còn có ích. Đây là điểm mà
từ đó vedanta bắt đầu. Nơi veda đi tới anta, chỗ kết, tại đó vedanta, trạng
thái vượt ra ngoàid tri thức, bắt đầu. Nếu chúng ta dịch từ vedanta sang tiếng
Anh, nghĩa đích xác sẽ là ‘vô tri thức’.
Hiểu ba bước này. Một là agyan, dốt nát, bước tiếp
được gọi là gyan, tri thức, và trên nó là bước được gọi là gyanatit, bên ngoài
tri thức. Dốt nát là khi chúng ta không biết, tri thức là khi chúng ta biết;
nói cách khác, khi chúng ta đã đi ra ngoài dốt nát. Gyanatit nghĩa là chúng ta
đã đi thậm chí còn ra ngoài tri thức.
Không chỉ dốt nát tạo ra tù túng, tri thức cũng ràng
buộc bạn. Giải thoát là trạng thái khi tri thức cũng đã bị bỏ đi. Dốt nát phải
bị xua đi, nhưng điều đó là không đủ. Nhiều phương pháp để phá huỷ dốt nát đã
được tạo ra trên trái đất, và nhiều trường phái tư duy đã đi vào tồn tại trên toàn
thế giới, cố gắng xua đi dốt nát. Nhưng có lẽ duy nhất những người trí huệ
phương Đông tạo ra một trường phái tư duy nói rằng một trạng thái sẽ tới khi
ngay cả tri thức cũng phải bị loại bỏ, nơi ngay cả tri thức cũng trở thành tù
túng. Không chỉ dốt nát là tù túng, tri thức nữa cũng có thể trở thành tù túng
bởi vì tri thức là hữu hạn. Dù người ta có thể biết nhiều đến đâu, tri thức
cũng không thể nào là vô hạn được. Nếu bạn muốn biết cái vô hạn thì bạn sẽ phải
vứt bỏ mọi tri thức.
Đó là lí do tại sao, theo một nghĩa sâu sắc hơn, con
người của trí huệ tối thượng dường như là người dốt nát. Theo một cách nào đó
thì người đó trở thành người dốt nát bởi vì người đó nữa cũng không có tri
thức. Nhưng theo nghĩa khác thì người đó hoàn toàn đối lập với người dốt nát;
người dốt nát theo cách đó bởi vì người đó không có tri thức, còn người của trí
huệ tối thượng thì dốt nát bởi vì người đó đã buông bỏ tri thức này nữa.
Cố hiểu điều đó như thế này, một người được sinh ra
là kẻ ăn xin và người đó lớn lên với việc đi ăn xin trên phố. Thế rồi có Phật
Gautama, người từ bỏ cung điện của mình một ngày nào đó và bỗng nhiên đi ăn xin
trên phố. Phố xá vẫn như vậy, bình bát xin ăn có thể vẫn như vậy, còn người ăn
xin và Phật có thể bước đi cùng nhau trên cùng một phố để xin ăn. Cho nên khác
biệt là gì? Cả hai đều đi ăn xin, cả hai đều có bình bát ăn xin trong tay, cả
hai đều đứng ăn xin tại nhiều cửa nhà; cả hai đều là kẻ ăn xin - nhưng họ có
thực sự như nhau không? Khác biệt là không thấy được trên bề mặt, nhưng khác
biệt lớn nằm ở bên trong.
Kẻ ăn xin chỉ là kẻ ăn xin, người đó không có gì hết
cả. Người đó chưa bao giờ biết giầu có nào và do vậy người đó đang chịu đựng
việc không có gì. Người đó không có tiền - Phật nữa cũng không có tiền - nhưng
kẻ ăn xin chưa bao giờ biết tới tiền, đó là lí do tại sao việc thiếu tiền cũng
giống như tính hổng cho người đó, cái hốc; đấy là một điều khổ, một vết thương
- nó rỉ ra. Chính sự hiện hữu của người đó là trống rỗng; bình bát ăn xin của
người đó không chỉ trong tay người đó, việc ăn xin của người đó đã đi sâu vào
bên trong người đó. Còn Phật này đang đứng gần người đó cũng là một người ăn
xin, nhưng ông ấy biết tới giầu có. Rắc rối của ông ấy không phải là thiếu
tiền, rắc rối của ông ấy là quá nhiều tiền. Ông ấy đã có quá nhiều tiền, nhiều
hơn mức đủ, và do đó điều đó trở thành vô nghĩa. Ông ấy còn tiền sau khi biết
nó, tiền đã trở thành vô nghĩa với ông ấy. Nhưng với người ăn xin này thì nó
lại rất có ý nghĩa.
Cả hai đều là người ăn xin, nhưng việc ăn xin của
Phật có vẻ duyên dáng của hoàng đế. Ngay cả trong việc ăn xin của mình Phật
cũng là người chủ. Với ông ấy tiền bạc đã trở thành vô nghĩa, nó đã bị loại bỏ.
Người kia cũng là kẻ ăn xin, nhưng người đó thực sự là kẻ ăn xin; tiền bạc là
rất có ý nghĩa với người đó, và ham muốn về tiền vẫn tiếp tục.
Tình huống này là hệt giữa người dốt nát và người
của trí huệ tối thượng. Người trí huệ từ bỏ tri thức theo cùng cách Phật đã từ
bỏ của cải - sau khi biết nó, sau khi tận hưởng nó, sau khi có nó. Ông ấy thấy
rằng ngay cả tri thức cũng có biên giới, rằng tất cả mọi thông thái đều dừng
lại ở đó và không có gặp gỡ nào với điều vô hạn xảy ra cả, cho nên ông ấy từ bỏ
tri thức. Ông ấy châm lửa vào tri thức của mình, đặt thông thái của mình lên
lửa và đốt nó. Ông ấy trở thành giống như người dốt nát, nhưng ông ấy không dốt
nát. Người dốt nát vẫn còn tìm kiếm tri thức, trong khi con người này đã hoàn
thành cuộc hành trình về tri thức của mình và đã đi ra ngoài nó.
Do đó, hiền nhân này nói:
Ta là brahman này được biết tới bởi mọi vedanta,
trạng thái bên ngoài tri thức.
Ông ấy không nói: “Ta là brahman kia được biết tới
bởi mọi Veda, kinh sách cổ,” bởi vì ông ấy không là brahman mà kinh sách đó nói
tới. Brahman đó là hữu hạn, bị giới hạn bởi các khái niệm của tri thức. “Ta là
brahman được biết tới trong trạng thái bên ngoài tri thức. Ngay cả kinh sách
cũng không thể biết được nó. Chỉ người nào dám từ bỏ kinh sách của mình, tri
thức của mình, mới có khả năng biết nó; ta là brahman đó.” Điều đó sẽ trở nên
dễ dàng nếu chúng ta cố gắng hiểu nó từ bên trong.
Chúng ta có thể biết mọi thứ qua tri thức ngoại trừ
bản thân chúng ta, bởi vì mọi thứ đều ở trước tri thức còn chúng ta chỉ ở sau
nó. Chúng ta biết mọi thứ qua năng lực của tri thức, nó chỉ là phương tiện cho
chúng ta.
Hiểu điều đó như thế này: chúng ta có thể thấy mọi
thứ qua mắt mình ngoại trừ bản thân đôi mắt. Và nếu bạn đang thấy chúng qua
gương, bạn không thấy mắt mình, bạn đang thấy chỉ phản xạ của mắt mình. Phản xạ
là cái gì đó khác. Mắt thấy mọi thứ, nhưng tại sao chúng lại không thể tự thấy mình
được? Vấn đề là gì? Để thấy một vật thì khoảng cách là cần có, lỗ hổng là cần
có để thấy cái gì đó; điều cần thiết là chúng đối diện lẫn nhau theo cách nào
đó. Bây giờ làm sao mắt bạn đối diện với nó được? Điều đó là không thể được. Đó
là lí do tại sao mắt có thể thấy mọi thứ trừ bản thân nó.
Tri thức nữa cũng có thể biết mọi thứ trên thế giới
này trừ mỗi brahman, thực tại tối thượng - cái bị ẩn kín bên trong chúng ta,
cái mà chúng ta là. Tri thức là con mắt của brahman đó bên trong chúng ta, và
tất cả những cái khác có thể được cảm nhận qua nó. Tuyển tập của tất cả cảm
nhận đó được gọi là veda, tri thức. Điều mà brahman này biết được gọi là veda,
tri thức, còn điều mà qua đó brahman này có thể được biết được gọi là vedanta,
trạng thái bên ngoài tri thức.
Bây giờ, làm sao để biết brahman này, thực tại tối
thượng? Người sẽ biết nó là ai? Trong thực tế chính ngôn ngữ của việc biết phải
bị bỏ đi bởi vì việc biết bao giờ cũng hàm ý cái khác. Làm sao có thể biết
chính mình được? Làm sao bạn có thể biết bản thân mình là gì? - và ai sẽ biết
nó? Từ chiều nào, theo cách nào bạn sẽ đi tới biết nó? Đó là lí do tại sao bất
kì cái gì chúng ta đi tới biết về bản thân mình đều sẽ trở thành cái gì đó khác
hơn bản thân chúng ta - chỉ ngay trong chính việc biết về nó. Trong thực tế cái
ta của riêng người ta là ở bên ngoài tầm với của việc biết của người ta.
Chỉ có một cách và đó là cởi bỏ tất cả tri thức của
chúng ta như quần áo và gạt nó sang bên, trở thành trần trụi, như nó đã thế,
không quần áo. Theo cùng cách này, khi bạn có thể trở thành được trần trụi với
mọi tri thức thì khải lộ xảy ra không phải là tri thức, nó là khải lộ bên
trong. Xúc động của cực lạc lan toả bên trong, việc nhận ra điều xảy ra, mà
không có bất kì việc biết hình thức nào, được gọi là vedanta, trạng thái vượt
ra ngoài tri thức.
Con người rất láu lỉnh, con người đã tạo ra kinh
sách ngay cả quanh vedanta - trạng thái ở bên ngoài tri thức. Con người đã tạo
ra tri thức ngày cả từ trạng thái ở bên ngoài tri thức. Các bác học cứ tuyên
truyền rằng vedanta không phải là kết thúc của kinh sách có tên Veda, tri thức,
mà là chính điều tinh tuý của những kinh sách này. Họ cứ khăng khăng rằng
vedanta là phần vật lí của những kinh sách này. Đây là điều dối trá hoàn toàn,
nó hoàn toàn sai.
Toàn bộ nỗ lực của hiền nhân này đã là bằng cách nào
đó giải phóng bạn khỏi lời nói, giáo điều, tri thức sao cho bạn có thể trở nên
lắng đọng trong thực tại tối thượng đó, cái không có sẵn qua tri thức mà chỉ có
qua hiện hữu. Tri thức là rào chắn cho hiện hữu, bởi vì tri thức không là gì
ngoài mở rộng, bành trướng ra ngoài của người ta. Hiện hữu là chìm vào bên
trong người ta, lắng đọng vào bên trong cái ta riêng của người ta, đi tới trung
tâm ngọn nguồn.
Cho nên vedanta nghĩa là trạng thái khi bạn sẵn sàng
từ bỏ tất cả mọi tri thức của người ta, cũng hệt như Phật Gautam sẵn sàng từ bỏ
mọi của cải của mình. Tri thức của bạn nữa cũng là một loại của cải, nó là tích
luỹ của cải bên trong.
Điều rất thú vị là ngay cả của cải của chúng ta cũng
không phải là của chúng ta, chúng ta chỉ sở hữu nó như một móc xích ở giữa
trong một dây xích lớn - con kế thừa của cải của bố, thế rồi con của con lại kế
thừa nó từ người con này. Không ai được sinh ra cùng của cải cả, điều này là
chắc chắn: người đó xuất xứ từ đâu chẳng thành vấn đề, không ai được sinh ra
cùng nó. Nó có thể được quốc gia cho, nó có thể được gia đình cho, xã hội cho,
hay phong tục tập quán cho, nó có thể được kiếm qua làm việc vất vả, hay nó có
thể bị đánh cắp, nhưng một điều là chắc chắn: không ai được sinh ra cùng nó và
không ai chết đi cùng nó. Cho nên của cải là hiện tượng xảy ra ở lưng chừng đâu
đó và ở ngoài chúng ta.
Điều đó cũng hệt như vậy với tri thức: nó được thu
lấy từ người khác. Tri thức là tiền lãi được tích luỹ của xã hội. Đó là lí do
tại sao con vật lại không thể có hiểu biết được - chúng không có ngôn ngữ qua
đó tích luỹ tri thức của chúng. Đó là lí do tại sao khi con vật bố chết đi, nó
không có khả năng trao kinh nghiệm của riêng nó cho con nó, không có cách nào.
Con phải bắt đầu lại từ nơi bố đã bắt đầu; do đó con vật không thể phát triển
được.
Xã hội thất học không thể tạo ra tiến bộ nào. Thông
tin truyền miệng từ người bố là không đủ. Nhiều điều bị thất lạc và con phải
bắt đầu lại lần nữa - từ ABC.
Khi ngôn ngữ tiến hoá nó đã tạo ra những báu vật về
tri thức. Và khi chúng ta tạo ra chữ viết và phát hiện ra cách viết, mọi sợ hãi
về việc mất tri thức đó biến mất. Đó là lí do tại sao hiện tượng này đã trở
thành có thể chỉ với con người. Với con vật, con bắt đầu đích xác tại cùng điểm
khi bố đã bắt đầu - con chết đi tại cùng điểm bố đã chết, con nó lại bắt đầu
lại mọi sự từ chính lúc ban đầu - đó là lí do tại sao không tiến bộ nào trở
thành có thể.
Mọi tiến bộ nhân loại xảy ra bởi vì từng người con
kế tục chỗ người bố bỏ lại; khối lượng tri thức cứ tăng lên mãi và của cải tri
thức cứ được tích luỹ lại. Mọi thế hệ đều tích luỹ tri thức và trao nó cho thế
hệ tiếp. Đó là lí do tại sao xã hội càng tích luỹ được nhiều tri thức hơn, nó
càng trở nên thông minh hơn. Tri thức là sự tích luỹ.
Tưởng tượng rằng trong hai mươi năm mọi đại học, cao
đẳng, trường phổ thông đều bị đóng cửa, rằng tất cả các thư viện đều bị đốt
cháy, và trong hai mươi năm không phương tiện giáo dục nào có sẵn; rằng bố dừng
dạy dỗ cho con, thầy dừng giảng dạy cho trò... bạn có biết điều gì sẽ xảy ra
không? Trong hai mươi năm bạn sẽ ở chỗ bạn đã ở cách đây hai triệu năm. Mọi thứ
sẽ mất.
Tri thức là việc tích luỹ và nó phải được truyền
trao thường xuyên, do đó mới tồn tại trường học. Trường phổ thông, cao đẳng đại
học để làm gì? Họ trao việc tích luỹ tri thức từ thế hệ bố sang thế hệ con,
không gì khác. Công việc của thầy giáo là làm việc truyền trao này, toàn bộ
nghiệp vụ của ông ấy là trao cái mà thế hệ già hơn đã tích luỹ được cho thế hệ
mới - đó là công việc duy nhất của ông ấy, đó là mối nối trung gian.
Tri thức cũng là của cải thu được từ những người
khác. Tất cả các tri thức gắn lại với nhau mới có thể được gọi là veda. Tại Ấn
Độ chúng ta gọi Veda là samhita. ‘Samhita’ nghĩa là cái đã được thu thập, mọi
thứ được biết tới đều được soạn ra. Đó là lí do tại sao tôi không đồng ý rằng
veda chỉ bao gồm bốn kinh sách Ấn Độ được gọi là Veda. Bất kì cái gì đã được
tích luỹ lại trên thế giới như tri thức thì đều là veda; tri thức vậy cũng là
veda, samhita, tuyển tập, bởi vì nó đã được tích luỹ lại.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này lại nói điều đó
rất có ý thức, có chủ ý - chúng không phải là những lời nói ngẫu nhiên ... được
biết tới bởi mọi vedanta, trạng thái bên ngoài tri thức. Không được biết qua
Veda, bởi vì cái được biết qua tri thức đã tích luỹ không phải là việc biết.
Việc biết về thực tại tối thượng không phải là tri thức được tích luỹ, nó đã ở
bên trong bản thân chúng ta; nó không cần được mang vào từ bên ngoài.
Cho nên có thể là các đại học bị đóng cửa và hệ
thống giáo dục bị gián đoạn - phong trào này dường như xảy ra trên khắp thế
giới. Nếu phong trào thanh niên, người hippy và những người khác mà thành công,
các đại học sẽ không hoạt động nữa và các thư viện sẽ bị đốt; chẳng mấy chốc
mọi thứ sẽ kết thúc. Nhưng sẽ không có hại gì được làm đối với brahmangyan,
việc biết về brahman, việc kinh nghiệm brahman. Tất cả các Veda có thể bị đốt,
Kinh Thánh và kinh Koran có thể bị phá huỷ, nhưng việc biết về brahman sẽ không
bị ảnh hưởng bởi vì nó chưa bao giờ được đạt tới qua chúng. Chúng chẳng có liên
quan gì tới nó. Bất kì khi nào việc biết về brahman xảy ra, nó đều tới từ bên
trong. Nó có thể đã được diễn đạt ở bên ngoài, nhưng việc đạt tới nó chưa bao
giờ là từ bên ngoài.
Veda có thể đã cố gắng nói điều về việc nhận biết
brahman là gì, nhưng điều đó chưa bao giờ được đón nhận từ Veda. Chúng có thể
chứa cách diễn đạt - mọi người đã biết tới trạng thái này đều đã cố gắng truyền
đạt nó, và việc biên soạn tất cả những điều này đã tạo ra Veda - nhưng bất kì
ai đã biết tới trạng thái này thì đều đã không biết nó qua Veda, người đó đã
biết nó bởi vedanta, bằng việc đi ra ngoài tri thức. Và khi tôi nói ‘trạng thái
bên ngoài tri thức’, tôi ngụ ý việc kết thúc của tri thức - khi tri thức được
siêu việt lên, khi người đó buông bỏ tri thức.
Một người như vậy nói: “Tôi đã biết mọi điều, nhưng
tất cả những tri thức đó đã tới từ bên ngoài. Bây giờ tôi từ bỏ tất cả nó và
muốn biết cái ở bên trong, cái chưa bao giờ tới từ bên ngoài. Bây giờ tôi muốn
tìm kiếm và biết rằng thực tại thuần khiết mà chưa bao giờ có sẵn từ bên ngoài
thì bao giờ cũng hiện diện ở bên trong.”
Do đó hiền nhân này nói:
... được biết tới bởi mọi vedanta,
trạng thái bên ngoài tri thức.
Điều này cần được hiểu. Nếu hiền nhân này đã chỉ nói
rằng “cái đã được biết tới bởi vedanta,” thì điều đó có hơi sai. Nhưng hiền nhân
này nói “cái đã được biết tới bởi mọi vedanta.” Bởi vì không phải là hiểu biết
về vedanta được sinh ra chỉ ở Ấn Độ, không. Bất kì chỗ nào nó xảy ra, bất kì
chỗ nào trạng thái bên ngoài tri thức này xảy ra, tất cả đều được bao hàm.
Điều Jesus đã hiểu ra cũng là vedanta, trạng thái
bên ngoài tri thức này, mặc dầu ông ấy đã không nhận biết về Upanishads - điều
đó là không cần thiết. Khi Lão Tử tới hiểu ra điều đó, đó là qua vedanta; khi
Eckhart tới hiểu ra điều đó, đó là qua vedanta - bất kì khi nào bất kì ai trên
thế giới đã hiểu rõ điều đó, điều đó xảy ra qua vedanta, trạng thái bên ngoài
tri thức. Bất kì tuyển tập tri thức nào họ có, chỉ qua việc vứt bỏ nó mà họ mới
đi tới hiểu rõ thực tại tối thượng.
Cho nên hiền nhân này nói:
... bởi mọi vedanta,
Bất kì chỗ nào, vào bất kì thời đại nào, tại bất kì
chỗ nào, và trong bất kì hoàn cảnh nào nó bao giờ cũng được hiểu qua vedanta,
trạng thái vượt ra ngoài tri thức, chỗ dừng lại của tri thức. Đây là ý nghĩa
toàn diện của vedanta, trạng thái vượt ra ngoài tri thức.
Nhưng như con người hiện hữu, và như tâm trí con
người hiện hữu, chúng ta vẫn bắt gặp những người cứ khoe khoang là vedantins -
người ủng hộ vedanta. Không ai có thể là vedantin, điều này cực kì ngu xuẩn.
Không ai có thể là một vedantin bởi vì vedanta không phải là 'chủ thuyết', học
thuyết, giáo điều. Bất kì 'chủ thuyết' nào thì cũng lại là kinh sách, lại là
Veda. Cho nên nếu ai đó nói người đó theo vedanta thì người đó hoàn toàn sai
lầm, bởi vì nơi vẫn có việc đi theo, làm sao tri thức có thể được loại bỏ? Là
người theo sau là thuộc vào tri thức, cho nên không ai là vedantin cả, người
theo sau vedanta. Và khi tôi nói điều này, điều tôi ngụ ý là ở chỗ không ai có
thể làm ra 'chủ thuyết', lí thuyết từ nó được. Bất kì ai cố gắng làm điều đó
thì đều đã không hiểu biết về nó, người đó đã bỏ lỡ vấn đề; người đó đã bỏ lỡ
điều thực. Chính ý nghĩa của vedanta là: không 'chủ thuyết', không lí thuyết,
không kinh sách, không tri thức. Vậy thì làm sao bạn có thể trở thành người
theo của nó được?
Trong thực tế để đi vào trạng thái này, mọi lí
thuyết, mọi kinh sách, mọi nguyên tắc đều phải bị bỏ lại đằng sau. Ngay cả
những kinh sách cổ đại nhất cũng phải bị bỏ đi. Thế thì chúng ta có thể nói
rằng một người như vậy là trong trạng thái của vedanta - nhưng người đó không
phải là vedantin, người theo sau. Người đó đã đi vào trong trạng thái bên ngoài
tri thức, điều nhiều nhất có thể nói ra được, nhưng người đó không thể nói rằng
mình là người theo nó. Điều này sẽ là không nhất quán, chính ý nghĩa của từ này
sẽ bị mất.
Ta là brahman này được biết tới bởi mọi vedanta,
trạng thái bên ngoài tri thức.
“Ta là cái mà các hiền nhân này đã hiểu ra khi họ
vứt bỏ mọi tri thức của mình.” Điều hiền nhân này đang tuyên bố là lời tuyên
ngôn từ thực tại tối thượng. Người ta có thể nghĩ rằng tuyên bố này là rất bản
ngã: “Ta là cái đó, cái đã được mọi vedanta biết tới, trạng thái bên ngoài tri
thức!" Không, không chút nào, không có dấu vết nào của bản ngã ở đâu cả.
Hiền nhân này chỉ đang nói: “Bây giờ ta đang nói về thực tại đó, thực tại tối
thượng đó mà không thể được tiếp cận tới qua tri thức. Ta cư ngụ là có thể, nơi
chỉ 'sự hiện diện' thuần khiết mới có thể vào; nơi tri thức trở thành rào chắn,
nơi tri thức là bệnh tật, nơi tri thức tạo ra bất ổn - ta ngụ ở đó, nơi thậm
chí không có một gợn tri thức tồn tại.”
Chúng ta tất cả đều đã nghe nói rằng nếu ý nghĩ dừng
lại, thiền xảy ra. Nhưng bây giờ cố hiểu điều gì đó sâu sắc hơn - khi việc biết
dừng lại, brahman xảy ra. Với việc dừng lại của ý nghĩ thì thiền xảy ra, nhưng
khái niệm về việc biết vẫn còn trong thiền này. Khi khái niệm về biết cũng biến
mất, khi không có một gợn biết, khi tất cả tri thức biến mất, brahman, thực tại
tối thượng xảy ra.
Ta không hình dạng không tên tuổi không hành động.
Ta là brahman này, thực tại tối thượng:
chỗ cư ngụ của sat, chit, anand - chân lí, tâm thức,
phúc lạc.
Ta không là thân thể...
Phần cuối là phát biểu rất quí giá, cực kì quí giá.
Ta không là thân thể -
làm sao có thể có sinh và tử cho ta?
Ta không là hơi thở sống -
làm sao có thể có đói hay khát cho ta?
Ta không là tâm trí -
làm sao có thể có buồn rầu hay vui thích cho ta?
Phát biểu cuối là lời đáp lại cho việc hỏi ban đầu
này, nơi Upanishad này đã bắt đầu. Câu trả lời đã tới sau một cuộc hành trình
dài như vậy quả là lạ lùng. Lời đáp là:
Ta không là người làm -
làm sao có thể có tù túng hay giải thoát cho ta?
Upanishad này đã bắt đầu với: Tù túng là gì? Giải
thoát là gì? Đây là những câu hỏi đầu tiên. Hiền nhân này đã thảo luận mọi điều
chi tiết, đi sâu vào trong thực tại của cuộc sống, đến mức bạn không bao giờ có
thể tưởng tượng được rằng đây sẽ là lời đáp cuối cùng mà ông ấy đưa ra. Ông ấy
đáng phải nói như vậy ngay từ đầu!
Điều hiền nhân này bây giờ mới nói là “Khi không có
tù túng ngay chỗ đầu tiên, làm sao có thể có bất kì giải thoát nào được? Ta
không là cái gì đó có thể bị giới hạn, ta không thể bị giới hạn được; tự do là
bản tính của ta, cho nên ai có thể đặt ta vào tù túng được? Làm sao ta có thể
bị giới hạn? Làm sao bất kì tù túng nào lại có thể dính vào ta được? Ta thậm
chí không có sự tồn tại này mà để có thể bị gắn bó với. Thân thể có thể bị gắn
bó với là ở đâu? Hình dạng có thể bị cầm tù là ở đâu? Đường nét của nó ở
đâu?" Chỉ sau khi đi ra ngoài tất cả các giới hạn, đã thảo luận về tự do
từ mọi hình dạng đầy đủ chi tiết... Có lẽ đến giờ bản thân người tìm kiếm có
thể đã quên mất rằng việc truy tìm nguyên thuỷ của mình đã là: Tù túng là gì?
Giải thoát là gì? Việc truy tìm đó đã rút lui xa đến mức có lẽ bạn đã không nhớ
đến nó nữa! Việc truy tìm này đã bị bỏ lại đằng sau xa tới mức, việc thảo luận
đã đi sâu tới mức bây giờ hiền nhân này nói:
Ta không là người làm -
làm sao có thể có tù túng hay giải thoát cho ta?
“Nếu tù túng không tồn tại, ý nghĩa gì có đó trong
giải thoát? Nếu tù túng là không thể có với ta, vấn đề giải thoát nảy sinh ở
đâu?”
Upanishad này bắt đầu với một câu hỏi và nó kết thúc
với một câu hỏi. Hiền nhân này nói, “Làm sao có thể có tù túng được - và do đó
làm sao có thể có giải thoát được? Nơi ta hiện hữu, tù túng và giải thoát không
thể tồn tại được.” Nhưng nếu đây là câu trả lời, ông ấy có thể đã nói điều này
từ ngay lúc bắt đầu!
Tôi nhớ tới một câu chuyện Sufi. Hassan, một fakir,
bỏ làng mình lên đường tìm kiếm thầy. Một thầy tu già đang ngồi bên tảng đá và
Hassan nói với ông ấy, “Tôi khởi hành đi tìm thầy đây. Tôi không có hi vọng nào
đạt tới chân lí trong làng này” - trong làng của riêng người ta không ai có hi
vọng như vậy - “và nếu những người tôi biết có bất kì chân lí nào trong họ thì
điều đó ở ngoài tưởng tượng của tôi, điều này là chắc chắn. Đó là lí do tại sao
tôi lại rời bỏ chỗ này. Xin ông hãy hướng dẫn tôi xem tôi phải đi đâu, tôi nên
tìm kiếm ở đâu?”
Ông thầy tu già nói, “Con đường này là rất khó, nó
rất gian nan. Nhưng vì anh đã hỏi, ta sẽ bảo anh. Nếu anh tìm thấy một người có
khuôn mặt như thế nào đó và người khớp với mô tả như thế nào đó, đừng buông bỏ
người đó, theo người đó bằng mọi giá; một người với khuôn mặt và đôi mắt như
thế nào đó, với kiểu khăn chít đầu như thế nào đó trên đầu, mặc loại áo choàng
như thế nào đó, ngồi theo tư thế như thế nào đó trên một tảng đá như thế nào
đó, dưới gốc cây như thế nào đó - nếu anh tìm thấy con người này, đừng từ bỏ
người đó.”
Hassan tiếp tục tìm kiếm mãi con người này. Tương
truyền ông ấy tới mọi thị trấn và làng mạc nhưng ông ấy không thể nào tìm được
cái cây, tảng đá lẫn con người này. Ông ấy đã lang thang trong ba mươi năm. Ông
ấy đã lang thang cho tới khi trở nên bị mệt mỏi, hoàn toàn chán ngán, cạn kiệt,
mòn mỏi. Ông ấy đã không tìm thấy dù chỉ một thoáng chân lí và chính khát khao của
ông ấy về chân lí gần như đã bị phai nhoà và nó mất mọi mãnh liệt. Bây giờ ông
ấy thậm chí bắt đầu hoài nghi rằng có điều như vậy rằng chân lí ở khắp mọi nơi,
cho nên làm sao ông ấy có thể tìm thấy nó?
Ông ấy đã trở nên giận dữ với ông già kia: “Vô nghĩa
làm sao! Ông ấy đã đẩy ta vào nhiều rắc rối thế, bảo ta đi tìm một người với mô
tả thế này, tại chỗ đặc biệt này. Giá mà ông ấy đã không làm như vậy, có lẽ ta
đã thành công trong việc tìm kiếm của mình. Ta đã bị tàn tạ đi bởi việc tìm
kiếm con người này, bởi việc tìm kiếm này, mà ta không tìm thấy chỗ ông ấy tả,
cũng chẳng thấy người đó.”
Hassan trở về làng mình. Ông già đó vẫn ngồi tại lối
vào của làng. Thấy điều này, Hassan ngạc nhiên - cây trông giống như cây ông ấy
đã nói, đá trông cũng giống hệt. Ông ấy tới gần và thấy rằng mắt cũng là một.
Hassan sụp xuống dưới chân ông già và khóc, “Thầy có điên không? Nếu thầy là
người mà tôi đã tìm kiếm, sao thầy không bảo tôi ngay từ đầu? Sao thầy lại làm
cho tôi cứ lang thang suốt ba mươi năm qua?”
Ông thầy tu già đáp, “Ta đã bảo ông điều đó vào
chính ngày đó, nhưng ba mươi năm lang thang là cần thiết để ông nhận ra ta. Ta
đã bảo ông mọi điều vào chính cái ngày đó nhưng ông đã không nhìn vào ta, ông
cũng chẳng nhìn vào tảng đá hay nhìn vào cây. Ông đang vội vã thế, tất cả đều
sẵn sàng và hăm hở đi tìm kiếm. Ông đã coi là đương nhiên rằng chân lí không
thể được tìm thấy tại chỗ này mà ông đã bỏ lại sau. Ta đã tả đôi mắt - ông đã
thậm chí chẳng nhìn vào mắt ta. Ta đã tả nét mặt nữa. Không chỉ ông đã gây ra
nhiều rắc rối, còn ta thì sao? - Ta đã không thể rời khỏi tảng đá này trong ba
mươi năm! Ta đã phải đợi ông, cho tới khi ông quay lại.
“Điều này là chắc chắn, rằng ông sẽ quay lại; ông
còn có thể đi đâu khác được? Tất cả mọi mô tả ta đã nêu ra không sánh được ở bất
kì đâu khác ngoại trừ tảng đá này, cái cây này. Cho nên ông cũng đã tạo ra rắc
rối cho ta. Nhưng ba mươi năm lang thang của ông là cần thiết; việc ông trải
qua chịu đựng này là rất bản chất. Phiền não này là kỉ luật tâm linh cho ông.”
Hiền nhân này cũng đã có thể trao cho anh ta câu trả
lời ngay từ đầu. Ông ấy có thể đã nói, “Tù túng gì? - ai có đó mà bị giam cầm?
Và khi không có tù túng, giải thoát có nghĩa lí gì? Ai để mà được tự do?” Nhưng
thế thì không cuộc hành trình nào để đi tìm kiếm là có thể và có lẽ người tìm
kiếm có thể đã im lặng quay về, nhưng không an bình.
Có lẽ người đó có thể đã ngậm miệng, có lẽ người đó
có thể đã không có khả năng nói ra một lời để đáp lại, nhưng điều này không
phải là giải pháp; điều đó sẽ không ích gì cho người đó cả. Hiền nhân này phải
đợi. Đó là cuộc hành trình dài. Từng li một trên cuộc hành trình dài này người
đó xoá dần người tìm kiếm đi.
Điều đáng lưu ý là hiền nhân này hoàn toàn bỏ qua
việc truy tìm ban đầu. Ông ấy đã không chú ý gì tới điều người tìm kiếm đã hỏi
và thay vì thế chỉ bắt đầu xoá bỏ đi người tìm kiếm bằng việc nói: “... không
là thân thể, không là giác quan, không là tâm trí, không là trí tuệ, không tôi,
không bạn, không cái đó, cũng chẳng kinh sách, chẳng tri thức - bên ngoài tất
cả và mọi thứ.” Hiền nhân này cứ tháo dỡ người đó, làm tan biến người đó. Và
bây giờ, khi quá trình làm tan biến đã hoàn tất và ông ấy đã thấy rằng tảng
băng, tới như một người tìm kiếm, đã tan ra và trở thành một với đại dương, ông
ấy hỏi người tìm kiếm , “Tù túng là gì? Tù túng cho ai? Anh nghĩ anh là ai mà
có thể bị trói buộc? Anh ở đâu mà có thể bị trói buộc? Và khi thực tại là ở chỗ
anh chưa bao giờ bị trói buộc, giải thoát này là gì mà anh đi tìm kiếm? Ai là
người anh muốn giải phóng? Ai sẽ đạt tới việc giải thoát này?”
Upanishad này là tuyệt diệu theo khía cạnh này. Nó
bắt đầu với một câu hỏi và nó kết thúc với một câu hỏi, nhưng hình dạng của câu
hỏi, ngữ cảnh của câu hỏi, phẩm chất của câu hỏi đã thay đổi. Lúc ban đầu đệ tử
này đã hỏi câu hỏi đó, và bây giờ đến cuối thầy đang hỏi câu hỏi này. Và đâu đó
ở giữa hai điều này, câu trả lời nằm đó. Đó là lí do tại sao cả hai đã cầu
nguyện : ... bảo vệ cả hai chúng ta. Cầu cho điều đó chăm sóc cả hai chúng ta.
Cùng nhau chúng ta có thể cố gắng...“bảo vệ cả hai chúng, để chúng ta chìm ngập
ở giữa.”
Chỉ trao một câu trả lời sẽ là rất dễ dàng, nhưng để
giúp ai đó đạt tới giải pháp, tới trạng thái không câu hỏi, là rất khó. Bất kì
ai cũng đều có thể cho câu trả lời, cho câu trả lời không làm cho người ta
thành thầy; người ta có thể trở thành thầy giáo, nhưng người đó sẽ không là
thầy.
Đây là khác biệt giữa thầy và thầy giáo. Thầy cho
giải pháp: trạng thái không câu hỏi; thầy giáo cho câu trả lời. Bạn có thể hỏi
thầy giáo cái gì là cái gì và ông ấy sẽ nói cho bạn. Nhưng ngay cả câu trả lời
này cũng có thể không nhất thiết là câu trả lời của riêng ông ấy, ông ấy có thể
đã nhận được nó từ ai đó khác. Cũng không nhất thiết là câu trả lời ông ấy trao
sẽ giải quyết cho vấn đề của riêng người ấy. Điều này nữa cũng không phải là
cần thiết. Nó là câu trả lời cố định, nó là truyền thống; thầy giáo chỉ truyền
nó cho học trò. Nhưng thầy không trao câu trả lời, thầy chỉ cho giải pháp. Và
giải pháp chỉ có thể được cho qua chứng ngộ của bạn - không có cách khác. Trong
thực tế chỉ chứng ngộ mới đem tới giải pháp, trạng thái vô câu hỏi.
Toàn bộ quá trình được Upanishad này mô tả là quá
trình của chứng ngộ. Nếu bạn đi dần từng bước qua quá trình này, bạn sẽ đạt tới
chứng ngộ. Chứng ngộ là giải pháp.
Cái ngày giải pháp được đạt tới, thầy đặt câu hỏi
ngược trở lại cho đệ tử: “Bây giờ ta hỏi ông!” Bởi vì tất cả mọi việc hỏi này
đều, như tôi đã nói trước đây, giống như ảo tưởng khi bạn thấy rắn trong dây
thừng vào lúc chạng vạng, và thế rồi bạn bỏ chạy tới tôi nói với tôi về rắn và
hỏi tôi cách xua nó đi, cách loại bỏ nó. Phải giết nó bằng gậy hay bằng đạn -
hay không đi đường đó nữa?
Nếu tôi chỉ nói với bạn rằng không có chuyện rắn ở
đó, rằng bạn đang dưới ảo tưởng, rằng đấy là phóng chiếu tâm trí của bạn và
rằng bạn lầm, thế thì không thể trông đợi bạn chấp nhận phát biểu của tôi được.
Bạn có thể im lặng, nhưng rắn với bạn còn thực hơn phát biểu của tôi. Tôi chỉ
nêu ra một phát biểu! Rắn còn thực hơn. Không, tôi có thể cho bạn câu trả lời,
nhưng điều đó sẽ không giải quyết được vấn đề. Thích hợp hơn cả là đem chiếc
đèn tới với bạn và nói, “Chúng ta xem con rắn to chừng nào để chúng ta đem kiếm
hay gậy với kích thước thích hợp tới, hay chúng ta sẽ làm việc thu xếp thích
hợp để giết nó - nhưng trước hết, chúng ta tới và xem kích cỡ của con rắn này.”
Ai đó biết rằng không có rắn và vậy mà vẫn cầm đèn
và tới với bạn, không phải là thầy giáo. Thầy giáo sẽ chỉ trao cho bạn câu trả
lời. Có thể là ông ấy đã giải thích cho bạn thỉnh thoảng mọi người cũng lầm dây
thừng là rắn. Ông ấy có thể đã giải thích mọi thứ, nhưng nếu bạn yêu cầu ông ấy
tới và đi cùng đường với bạn thì ông ấy sẽ nói, “Câu trả lời của ta chỉ là điều
ta đã nghe nói. Ta không muốn dính vào rắc rối nào - có thể có rắn ở đó, ta
không muốn dính líu với nó. Câu trả lời của ta được lấy từ kinh sách. Ta biết
nó. Thầy giáo ta đã nói cho ta về nó, thầy giáo của thầy đã nói điều đó cho
thầy; ta biết nó rõ lắm. Ta sẵn sàng nói cho ông mọi điều nhưng ta không định
đi tới đó.”
Thầy sẽ đi cùng bạn - vẫn biết rõ rằng không có rắn.
Nhưng thực tại không có rắn đó phải trở thành kinh nghiệm riêng của bạn. Thầy
sẽ tới với bạn, mang theo cây đèn. Toàn bộ Upanishad này đi phía trước bạn,
mang theo cây đèn. Từng li một con đường được chiếu sáng lên, bóng tối bị xua
đi, và chẳng mấy chốc thầy đi tới cái dây thừng. Bạn có thể vẫn thấy rắn nhưng
thầy nói, "Nhìn đây, rắn đâu nào? Đây không phải là đuôi rắn, đây là dây
thừng; đây không phải là thân rắn, đây là dây thừng; đây không phải là đầu rắn,
đây là dây thừng.”
Điều này là điều đã được thảo luận ở đây, rằng bạn
không thế này cũng chẳng thế nọ - không là cái gì ngoài việc khử bỏ đi con rắn.
Khi cái tôi đã hoàn toàn bị xoá bỏ và chỉ dây thừng còn lại, thầy hỏi đệ tử,
“Bây giờ làm sao giết con rắn này? Con rắn nào cần phải bị giết? Và nếu không
có rắn, gươm giết cái gì? Và nếu không có rắn, ta có thể trao cho ông lời
khuyên gì để được an toàn với nó? Ông nói cho ta hay!” Và với câu hỏi này,
Upanishad kết thúc.
Tại đây kết thúc Upanishad.
Không có đến một câu trả lời từ đệ tử. Đệ tử này bây
giờ nên nói điều gì đó; ít nhất thì cũng một lời cám ơn - ít nhất cũng một thái
độ biết ơn nào đó, ít nhất cũng bầy tỏ cách diễn đạt về sùng kính và vui
sướng... cái gì đó! Đệ tử nên nói điều gì đó! Nhưng đệ tử này hoàn toàn im
lặng. Đệ tử này im lặng bởi vì theo một nghĩa nào đó anh ta không còn tồn tại
nữa, nói gì tới việc nói ra. Không chỉ rắn đã bị xoá bỏ đi, mà đệ tử này nữa
cũng đã bị xoá bỏ đi. Người đã tới để hỏi không còn nữa, tâm trí đã tới hỏi nay
không còn nữa, bản ngã đã có câu hỏi và muốn câu trả lời nay không còn nữa.
Trong thực tế người đã tới không còn nữa và người bây giờ còn lại thì chưa bao
giờ tồn tại trước đây, cho nên ai đưa ra lời cám ơn? đưa lời cám ơn cho ai? Câu
trả lời nào có thể có đó?
Thiền sư Lin Chi quen nói với đệ tử của mình, “Nếu
ông không trả lời câu hỏi của ta thì cây thiền trượng này sẽ đánh vào đầu ông;
còn nếu ông trả lời, thế nữa cây thiền trượng này cũng đánh vào đầu ông.”
Chắc chắn rồi, đấy là một công án bởi vì ông ấy đã
chẳng để đường ra nào cả. Và đó là thực hành của Lin Chi để hỏi các đệ tử mình
những câu nói. Ông ấy hay nói, “Ông có thể hỏi ta câu hỏi chỉ nếu ông trước hết
trả lời câu hỏi của ta, đây là điều kiện.”
Thầy hay bảo đệ tử trả lời câu hỏi của mình trước,
và chỉ thế thì thầy mới trả lời câu hỏi của họ. Và Lin Chi cầm cây thiền trượng
trong tay. Thế rồi ông ấy sẽ nói, “Ta sẽ đánh ông nếu ông trả lời và nếu ông
không trả lời, thế nữa ta cũng sẽ đánh ông." Thường mọi người đều chạy mất
tăm, nhưng những người biết cách thức của ông ấy thì ở lại.
Khi Bokuju tới gặp ông ấy lần đầu tiên, ông ấy nói với
Lin Chi, “Chúng ta làm điều đó theo cách này - trước hết hoàn thành việc đánh
của thầy đi, để cho việc đó qua đi, thế rồi câu hỏi và câu trả lời có thể xảy
ra tiếp sau. Bằng không thì điều này sẽ tạo ra phân tán và rối loạn không cần
thiết. Đây là việc dễ dàng, chúng ta để cho nó xong đi với điều thứ nhất; câu
hỏi và câu trả lời là vấn đề khó. Trước hết làm việc đánh của thầy đi - đầu tôi
đây.”
Và Lin Chi nói, “Vậy là người đã tới. Ta sẽ không
hỏi ông các câu hỏi - ông có thể hỏi ta.”
Nếu việc hỏi của bạn chỉ là từ tò mò, điều đó là vấn
đề khác, nó không có giá trị. Nhưng nếu việc hỏi là một phần của việc truy tìm
của bạn thế thì đó là việc mạo hiểm, đó là việc mạo hiểm lớn, bởi vì để hỏi
những câu hỏi như: Tù túng là gì? Giải thoát là gì? là đặt cuộc sống của người
ta vào nguy cơ. Sau khi xoá bỏ đi mọi thứ, sau khi chùi sạch toàn bộ thiên kiến
đến mức thậm chí không lời nào còn lại trên nó, đến cuối thầy đẩy câu hỏi lại
cho đệ tử. Đến mức thậm chí không việc biết nào có thể còn lại, cuối cùng thầy
chùi nốt điều đó nữa và nói, “Không kinh sách và không ý nghĩa nào của việc
biết có bất kì lối vào nào ở đó.”
Thầy đã phá huỷ mọi thứ, thiêu đốt mọi thứ thành
tro, đốt cháy chính bản thân hạt mầm. Và thế rồi thầy hỏi, “Tù túng là gì? Ai
có đó để mà bị trói buộc? Giải thoát là gì? Khi người ta chưa bao giờ bị trói
buộc ngay chỗ đầu tiên, giải thoát nào là cần tới?”
Giá mà đệ tử đã nói, cho dù nói “Cám ơn,” thì toàn
bộ Upanishad này sẽ phải bắt đầu lại lần nữa, bởi vì điều đó sẽ có nghĩa là
trong khi rắn có thể không còn ở đó nữa thì đệ tử này vẫn còn ở đó. Đệ tử vẫn
nói, đệ tử vẫn có đó để nói, “Lòng từ bi của thầy thật vĩ đại. Thầy đã giải
thích mọi điều, con đã hiểu tất cả điều đó. Con đã đạt tới việc biết.”
Nếu bạn trở về từ thầy như người biết, điều đó đã là
phí phạm thời gian đi tới thầy. Thây là người phá huỷ bạn, từ thầy bạn không
thể trở về được bởi vì bạn không còn tồn tại nữa; chỉ thế thì việc đi của bạn
tới thầy mới có nghĩa.
Tôn giáo là nghệ thuật chết, nghệ thuật triệt tiêu;
nó là khoa học của việc làm tiêu tan cái ta của bạn theo thoả thuận riêng của
bạn. Điều đó cũng giống như khi ai đó thổi tắt ngọn đèn và ngọn lửa biến mất:
tương tự, bản ngã chúng ta, cái tôi của chúng ta, phải biến mất theo cách mà nó
không bao giờ có thể được tìm thấy lại, sao cho chỉ cái trống rỗng là còn lại
đằng sau - hư không. Chỉ duy nhất trong cái trống rỗng đó mà chúng ta mới có
thể nhận ra sự hiện hữu thực của mình. Do đó phát biểu cuối cùng: Như thế là bí
ẩn này....
Như thế là bí ẩn này....
Tại đây kết thúc Upanishad.
‘Upanishad’ nghĩa là bí ẩn, và 'bí ẩn' nghĩa là cái
mà thậm chí chúng ta hiểu, nó vẫn còn ở bên ngoài việc hiểu của chúng ta, hoặc
cái mà chúng ta có thể không hiểu và vậy mà lại dường như đã hiểu rồi. Đây là
điều bí ẩn nghĩa là gì. Những người không hiểu mang một khái niệm sai lầm là họ
đã hiểu, còn những người hiểu thì biết rằng điều đó ở bên ngoài nhận thức; đây
là ý nghĩa của bí ẩn. Nếu cái gì đó được hiểu qua việc hiểu biết của bạn thì nó
không phải là bí ẩn, nếu cái gì đó không được hiểu chỉ bởi vì bạn đã không hiểu
thì thế nữa nó cũng không là bí ẩn. 'Bí ẩn' hàm ý rằng những người không biết,
cảm thấy rằng họ biết; còn những người biết lại cảm thấy rằng họ không thực sự
biết.
Trong những ngày cuối đời mình Socrates nói, “Điều
đó là tốt trong khi tôi không biết; ít nhất thì cũng là ảo tưởng về việc biết
có đó. Nhưng bây giờ sự việc đã trở thành khó khăn bởi vì từ khi tôi đã biết,
tôi biết rằng mình không biết.”
Đây là điều được gọi là bí ẩn.
Nhà tiên tri của Delphi đã công bố rằng Socrates là
người trí huệ nhất ở Hi Lạp. Mọi người chạy tới Socrates nói, “Thầy có biết
rằng nhà tiên tri của Delphi đã công bố rằng thầy là người trí huệ nhất không?”
Socrates đáp, “Nhà tiên tri bị muộn trong lời công
bố của bà ấy; khi tôi còn trí huệ, chẳng ai tới nói cho tôi về điều này. Đã có
thời tôi trí huệ, nhưng thế thì chẳng ai công bố điều đó. Vào lúc đó, bản thân
tôi đã nghĩ lan man quanh việc công bố nó! Còn bây giờ, khi tôi đi tới biết
rằng tôi chẳng biết gì, bây giờ ý nghĩ kì lạ này lại len vào tâm trí nhà tiên
tri này. Phải có sai lầm ở đâu đó. Các bạn đi và hỏi lại bà ta lần nữa xem
sao.”
Họ quay lại. Họ sung sướng quay lại bởi vì họ bị tổn
thương khi nghe nói rằng Socrates là người trí huệ. Nếu Socrates mà nói, “Vâng,
tôi là người trí huệ,” họ sẽ không tin ông ấy về điều đó. Nhưng ông ấy nói,
“Tôi là người dốt nát nhất.” Họ nói, “Socrates phải đúng rồi, và nhà tiên tri
kia phải nhầm lẫn.”
Họ quay lại và hỏi lại: “Dường như có sai lầm gì
đó....”
Nhưng nhà tiên tri đáp, “Tôi chưa bao giờ lầm cả.”
Thế là họ nói, “Phải có nhầm lẫn bởi vì đích thân
Socrates nói, ‘Ta là người dốt nát.’”
Nhà tiên tri đáp, “Đó là lí do tại sao ta lại công
bố ông ấy là người trí huệ - đây là lí do. Chừng nào mà ông ấy còn là người trí
huệ, ta không thể công bố điều đó.”
Đây là điều được gọi là bí ẩn. ‘Upanishad’ nghĩa là
bí ẩn. Bằng không thì từ upanishad về từng chữ có nghĩa rằng cái đã được hiểu
ra bằng việc ngồi gần thầy - không phải bởi việc nghe thầy mà bởi việc ngồi gần
thầy; bởi vì trong việc nghe người ta chỉ nhận được lời, nhưng bằng việc ngồi
gần thầy người ta nhận được cái gì đó nhiều hơn. Nhưng ngồi gần thầy là nghệ
thuật. Nghe là rất dễ, ngồi gần thầy là rất khó.
Từ ‘upanishad’ nghĩa là cái người ta đạt tới bằng
việc ngồi gần thầy - đơn giản bằng việc ngồi gần thầy, bằng việc tới gần thầy
hơn, bằng việc buông xuôi theo thầy, bằng việc hiện hữu trong tình yêu với
thầy, bằng việc hiện hữu như cái không gần thầy, quên đi bản thân mình khi ở
gần thầy. Trong thực tế đó là lí do tại sao điều thầy nói là không quan trọng
như điều thầy là gì, bởi vì điều thầy nói là được nghe thấy, nhưng điều thầy
là, được nhận bởi việc ngồi gần thầy.
Điều thường xảy ra là khi Gurdjieff có một đệ tử
ngồi gần mình, ông ấy sẽ nhìn vào đệ tử đó với giận dữ tới mức trái tim của đệ
tử này sẽ run lên. Nhiều đệ tử đơn giản trốn khỏi ông ấy. Gurdjieff là chuyên
gia về điều đó; ông ấy giỏi tới mức những người ở gần ông ấy nói rằng những
người ngồi phía bên này của ông ấy sẽ thấy giận dữ trong mắt này, trong khi ông
ấy lại đang diễn đạt tình yêu qua con mắt kia cho những người ngồi phía bên kia
ông ấy. Và những người ngồi phía đối diện đôi khi lâm vào biện luận với những
người quan sát của họ về việc Gurdjieff thuộc loại người gì.
Người này nói, “Gurdjieff là người đáng yêu làm sao
- có tình yêu thuần khiết tuôn ra từ đôi mắt ông ấy.” Người khác sẽ nói, “Anh
có điên hay thế nào không đấy? Tôi cũng ở đó, và mắt ông ấy biểu lộ chỉ toàn
độc ác và dữ tợn chứ không gì khác.”
Alan Watts, một nhà tư tưởng phương Tây lớn, đã gọi
ông ấy là ‘thánh nhân bất lương’ - vị thánh mà vẫn là kẻ bất lương. Nhưng
Gurdjieff là một người tuyệt diệu. Rất dễ dàng là vị thánh thông thường hay là
kẻ bất lương thông thường. Nhưng những người biết ông ấy, người đã ngồi gần ông
ấy, bao giờ cũng nói với người khác đừng lo nghĩ về điều ông ấy làm, điều ông
ấy nói, cách ông ấy chuyển động mắt, nhưng quan tâm tới bản thân mình về việc
hiện hữu trong toán của ông ấy, ở gần ông ấy. “Điều ông ấy nói qua mắt ông ấy,
qua lời ông ấy hay qua điệu bộ nét mặt không cần là mối bận tâm của bạn, bởi vì
để học cái gì đó từ ông ấy thì chỉ cần hiện hữu với ông ấy, ở gần ông ấy là
đủ." Họ nói, “Đừng lo nghĩ về cách diễn đạt của ông ấy hay liệu ông ấy
đang gọi bạn bằng tên, bầy tỏ giận dữ hay bầy tỏ tình yêu; đừng chú ý tới tất
cả những điều đó, đây tất cả đều là cách thức của ông ấy. Qua chúng ông ấy tìm
ra liệu bạn tới chỉ để nghe ông ấy hay để hiện hữu với ông ấy.”
Nếu bạn đã tới chỉ để nghe và hiểu ông ấy, ông ấy
gạt bỏ bạn, bởi vì ông ấy nói rằng một người tới chỉ để nghe ông ấy thì không
thể đi xa được. Người ta phải đến gần ông ấy - thân mật, gần gũi, gắn bó là cần
thiết. Trong gần gũi đó, tâm thức bắt đầu hội nhập lại với nhau - những cánh
cửa giữa các bạn mở ra và tâm thức bắt đầu đi vào lẫn nhau.
Cái ngày luồng tâm thức bên trong này xảy ra,
upanishad xảy ra. Vào ngày đó... chỉ vào ngày đó, và không trước ngày đó.
Kết thúc quyển "Con đường bên ngoài mọi con đường"
- Quay về Mục lục
Chương 17: Như thế là bí ẩn này
4/
5
Oleh
John Nguyen
