Osho
- Con đường bên ngoài mọi con đường
Chương 16: Bên ngoài tất cả - nhân chứng
Ta không là người làm không là người kinh nghiệm.
Ta hiện hữu nhưng là nhân chứng cho mọi biểu hiện.
Chính bởi vì sự gần gũi của ta với chúng mà thân
thể, vân vân, dường như là ý thức, và bắt đầu vận hành tương ứng.
Ta là cái không thay đổi, cái vĩnh hằng.
Ta bao giờ cũng là nhà của phúc lạc, của thuần khiết
và việc biết.
Ta là toàn năng.
Ta là linh hồn rõ ràng
hiện diện trong mọi sinh linh hữu tình như một nhân
chứng.
Về điều này, không có hoài nghi.
Để đi vào trong chiều sâu và sự sâu lắng của sự tồn
tại, điều bản chất là hiểu thêm vài sự phủ định nữa. Hôm qua chúng ta đã thảo
luận rằng bạn không là thân thể, không là giác quan, không là tâm trí, không là
trí tuệ; bạn là tâm thức. Nhưng dầu vậy những tầng tinh vi hơn vẫn tồn tại, và
những tầng tinh vi này lại được tạo ra chỉ bởi vì sự xấp xỉ của chúng với tâm
thức.
Tâm thức chiếu sáng bất kì cái gì trong sự gần gũi
với nó. Cũng giống như chiếc đèn sẽ chiếu sáng mọi thứ ở gần đó. Chúng ta thắp
đèn, và ngay lập tức mọi thứ bên trong phạm vi của nó đều được chiếu sáng.
Tương tự, mọi thứ bên trong chúng ta gần với tâm thức đều được chiếu sáng. Và
chính với chiếu sáng này mà rắc rối bắt đầu.
Cố hiểu điều đó giống như thế này: nơi không có đèn
thì trời tối và chẳng cái gì là thấy được. Thế rồi chiếc đèn được thắp lên. Nếu
ánh sáng của chiếc đèn không có ý thức, nó sẽ trong ảo tưởng rằng tất cả những
cái trở nên được chiếu sáng, thấy được, đều là một phần của bản thân cái đèn.
Ánh sáng sẽ trong ảo tưởng rằng tất cả những cái trở nên được chiếu sáng đều
không tách rời khỏi nó, bởi vì "Khi ta không có, nó không có đó; cả tường
lẫn đồ đạc của căn phòng đều không thấy được. Khi ta không có đó, chẳng có gì
cả. Mọi sự chỉ tồn tại khi ta có đó. Một cách tự nhiên, chính logic đơn giản là
sự tồn tại của mọi thứ đều được hàm chứa bên trong sự tồn tại của ta.”
Điều đó cũng giống vậy với tâm thức. Nếu như không
có tâm thức thì sẽ không có năm thể, không có tâm trí, không có trí tuệ, không
có giác quan - không có gì! Mọi thứ tới trong sự tồn tại với việc nổi lên của
tâm thức. Nếu tâm thức trở thành vô ý thức, nếu nó biến mất trong giấc ngủ sâu,
thế thì ngay cả thân thể cũng không được cảm thấy, tâm trí không được cảm nhận.
Đó là lí do tại sao khi bạn phải chịu cuộc mổ thì một tầng của vô ý thức sâu được
tạo ra quanh tâm thức của bạn để cho bạn sẽ không cảm thấy đau ngay cả khi tay
bạn bị cắt cụt. Bạn thậm chí sẽ không biết liệu toàn thể thân thể có bị cắt
thành từng mảnh hay không, bởi vì ánh sáng của ngọn đèn đã chiếu sáng tất cả
điều này bị bao phủ bằng vô ý thức.
Cho nên ý thức, chiếu sáng bất kì cái gì ở gần nó,
trở nên bị đồng nhất với chúng. Bởi vì sự gần gũi này mà nó cảm thấy rằng “Bản
thân mình là cái này.” Đây là toàn bộ sai lầm của sự đồng nhất. Và thế rồi
chúng ta bắt đầu hành xử tương ứng với bất kì cái gì đang đó mà chúng ta đã
đồng nhất bản thân mình với nó.
Chẳng hạn, chúng ta thở; nếu tâm thức của bạn rời bỏ
thân thể thì hơi thở sẽ rời bỏ theo. Quá trình thở diễn ra chỉ khi ánh sáng của
ý thức còn rơi lên nó. Một cách tự nhiên, ý thức đồng nhất: “Khi mình hiện hữu,
việc thở hiện hữu, còn khi mình không hiện hữu, việc thở không có. Cho nên mình
phải là bản thân việc thở, bản thân mình là việc thở.”
Nhưng điều này không đúng. Bạn chưa bao giờ làm việc
thở cả. Việc thở xảy ra: bạn chỉ là nhân chứng. Chắc chắn, nhận biết về việc
thở xảy ra chỉ khi bạn hiện hữu, nhưng quá trình thở hoàn toàn tách biệt thế;
nó có thể diễn ra ngay cả lúc bạn vô ý thức. Và bây giờ các nhà khoa học còn
nói rằng ngay cả khi bạn chết thì họ vẫn có thể giữ cho quá trình thở diễn ra
với sự giúp đỡ của máy móc.
Việc thở là một cái máy tách biệt, một hệ thống tách
biệt, bạn chỉ là việc nhận biết về nó. Bạn đã bao giờ làm việc thở chưa? Nếu
đấy là bạn làm việc thở thì bạn đã chết từ lâu rồi, bởi vì nếu bạn quên mất
việc thở một chốc thôi, mọi thứ đã tan rã rồi. Và con người có thể phạm phải đủ
mọi loại sai lầm khác, điều đó là được, nhưng nếu con người quên mất thở thì
điều đó không thể được. Đó là lí do tại sao bạn không là người thở, điều đó xảy
ra theo cách riêng của nó; bạn không là người làm, bạn chỉ là nhân chứng cho
nó. Máu tuần hoàn trong thân thể bạn, bạn không làm nó tuần hoàn. Bạn không là
người làm. Trái tim đập - bạn không là người làm, bạn chỉ là nhân chứng.
Nếu bạn hiểu hiện tượng này về trái tim, việc thở,
mạch đập và việc tuần hoàn máu, không phải rất khó để hiểu cách tâm trí làm
việc. Bạn không làm cho nó làm việc, nó nữa cũng là một cái máy - tâm trí nữa
cũng là một cái máy.
Một người bị xâm chiếm bởi ham muốn dục; nếu người
đó nghĩ rằng mình đang làm thì người đó lầm. Nó chỉ là việc xảy ra. Điều này
nữa cũng chẳng là gì nhiều hơn vài tuyến nội tiết, chất dịch nào đó được tiết
ra từ những tuyến này. Khi các tuyến dục đã chín muồi vào độ tuổi mười bốn,
chúng làm cho ham muốn dục thành có thể. Nếu như bạn bị cắt bỏ đi những tuyến
này, khả năng của bất kì ham muốn dục nào cũng sẽ tiêu tan. Bạn thậm chí cũng
chẳng là người tạo ra những ham muốn dục của mình, và đó là lí do tại sao rất
khó loại bỏ chúng. Việc đó sẽ dễ làm sao nếu bạn đã tạo ra chúng. Nếu như bạn đã
là người tạo ra những ham muốn dục của mình thế thì sẽ chẳng khó khăn gì, bạn
sẽ chỉ nói, “Mình không muốn điều này,” và nó sẽ chấm dứt. Nhưng bạn nói rằng
bạn sẽ không có ham muốn dục nào và nó cứ nảy sinh ra, nó không rời bỏ bạn. Tại
sao? Nếu bạn là người làm, người sáng tạo, thế thì khó khăn gì ở đây?
Khó khăn là ở chỗ bạn không là người làm và, vẫn cứ
tin mình là người làm, bạn lâm vào rắc rối kép. Trước hết bạn coi mình là người
làm, và thế rồi bởi vì điều đó bạn nghĩ rằng nếu bạn muốn thì bạn có thể là
người kiểm soát nữa. Bạn nghĩ, “Bản thân mình là người làm và mình có thể dừng
ham muốn dục nếu mình muốn.” Nhưng nó không dừng; bạn không thể làm nó phát
sinh mà cũng không thể chấm dứt được nó.
Điều đó có nghĩa là bạn không bao giờ có thể gạt bỏ
được ham muốn dục hay không? Vâng, bạn có thể tự do với nó vào ngay chính
khoảnh khắc này. Nếu cảm giác người làm tan biến, và nếu bạn vẫn còn là một
nhân chứng, thế thì bạn được tự do với ham muốn. Ham muốn còn lại ở một bên,
cái máy vẫn còn tách rời khỏi nó và bạn đứng tách xa; lỗ hổng phát sinh ra ở
giữa.
Một điều nữa cần được hiểu. Bạn không là người làm
đối với cái máy này, nhưng sự hiện diện của bạn là cần để cho nó vận hành - chỉ
sự hiện diện của bạn. Bạn không là người làm.
Mặt trời khi nó mọc lên vào buổi sáng không làm nỗ
lực nào để mở từng nụ hoa. Có lẽ thậm chí nó còn không nhận biết về bao nhiêu
hoa đã nở bởi vì nó, bao nhiêu chim đã bắt đầu hót. Nó không phải là người tạo
ra tất cả những điều này, vậy mà những điều này sẽ không xảy ra nếu không có mặt
trời. Nếu mặt trời không mọc vào sáng mai thì chim chóc sẽ không có khả năng
hót, hoa sẽ không nở và hoa sen sẽ vẫn còn đóng. Vậy mà mặt trời không phải là
người làm bởi vì không có vấn đề về việc làm. Các tia sáng của nó không tới và
mở từng cái nụ ra, từng cái một. Các tia sáng của nó không vươn tới để tạo ra
tiếng hót trong họng từng con chim. Không có nỗ lực, chỉ sự hiện diện của nó
làm việc.
Khoa học chấp nhận một sự kiện được gọi là 'tác nhân
xúc tác'. Khoa học nói rằng có những thời điểm khi chỉ sự hiện diện của tác
nhân xúc tác cũng tạo ra hiệu quả. Chẳng hạn, nước bao gồm hydro và oxy, nhưng
nếu bạn trộn lẫn hydro và oxy thì kết quả sẽ không là nước. Bạn có thể cứ trộn
chúng, nhưng chúng sẽ không tạo ra nước khi tác nhân xúc tác không hiện diện.
Mọi thứ khác đều hiện diện... bởi vì nước không chứa gì khác hơn hydro và oxy.
Hiện tượng này của tác nhân xúc tác nên được hiểu
đúng vì nó sẽ rất có ích trong việc hiểu nhân chứng. Khi chúng ta phân tích
nước, chúng ta không tìm thấy gì ngoài hydro và oxy - chỉ hai chất này. Thế thì
sao chúng ta không thu được nước khi chúng ta trộn lẫn hydro và oxy? Hai chất
này đáng phải trở thành nước, nhưng việc đó lại không xảy ra chừng nào chưa có
điện hiện diện. Đó là lí do tại sao khi sét loé lên trên bầu trời nắng, đấy lại
là dấu hiệu của mưa, bằng không mây chỉ cứ lang thang và sẽ không có mưa. Khoa
học vẫn còn bị phân vân về việc điện đóng vai trò gì, nhưng người ta đã không
tìm thấy đóng góp trực tiếp nào của điện trong việc tạo ra nước. Đó là lí do
tại sao khi chúng ta phân tích nước chúng ta không tìm thấy điện đâu cả. Thế
thì điện làm gì? Nó chẳng làm gì cả, nhưng sự hiện diện của nó là bản chất;
nước sẽ không xảy ra nếu không có sự hiện diện của nó. Cho nên điện đã làm việc
như tác nhân xúc tác.
Tác nhân xúc tác nghĩa là hiện tượng không thể xảy
ra nếu không có sự hiện diện của nó, và vậy mà nó chẳng làm gì cả. Cho nên việc
thở là không thể có được nếu không có sự hiện diện của tâm thức, trái tim sẽ
không đập nếu không có sự hiện diện của tâm thức, trí tuệ sẽ không làm việc nếu
không có sự hiện diện của tâm thức. Và vậy mà tâm thức lại không phải là người
làm.
Nhưng điều này tạo ra bên trong chúng ta ảo tưởng
của việc là người làm - "Nếu điều gì đó không thể xảy ra mà không có mình,
thế thì mình là người làm" - bởi vì chúng ta có thể hiểu chỉ hai khái niệm
trong tâm trí mình: thứ nhất, "Nếu mình là người làm, thế thì mọi sự xảy
ra," và thứ hai, "Nếu mình không có, chúng không xảy ra." Cho
nên kết luận tự nhiên là "Mình là người làm."
Chúng ta không biết chiều thứ ba chút nào, khi chỉ
sự hiện diện của tâm thức làm việc. Khi chúng ta giả thiết vai trò của người
làm bởi vì sự hiện diện này, thế thì điều này trở thành sự tù túng của chúng
ta. Nếu sự hiện diện này vẫn còn là sự hiện diện không bị đồng nhất, thế thì đó
là nhân chứng. Chúng ta chỉ cần biết rằng chúng ta là nhân chứng, rằng mọi sự
chắc chắn xảy ra trong sự hiện diện của chúng ta, nhưng chúng ta không phải là
người làm. Khi điều này được hiểu, một khoảng cách được tạo ra giữa bản thân
chúng ta và máy móc của mình.
Thế thì nhiều điều sâu sắc xảy ra bởi vì sự hiện
diện không đồng nhất này. Chẳng hạn, trung tâm dục của bạn có thể cố gắng tự
khẳng định nó, nhưng nếu bạn vẫn còn là một nhân chứng thì nó sẽ không có khả
năng làm, bởi vì ngay khi bạn trở thành nhân chứng, bạn đã lùi lại vào trong
bản thân mình và bạn đã làm cách xa bản thân mình với trung tâm dục của mình.
Sự gần gũi của tâm thức, mà trung tâm dục của bạn cần để vận hành, bị gián
đoạn. Trung tâm dục có thể vẫn còn rung động và kêu gọi, các tuyến dục có thể
tiếp tục đòi hỏi hành động dục, nhưng sự hiện diện của bạn lại không có sẵn.
Đó là lí do tại sao điều đáng ngạc nhiên đôi khi xảy
ra. Bạn đang ngồi đó, tràn đầy ham muốn dục, tâm trí bạn hoàn toàn bị cuốn hút
vào nó, và bỗng nhiên ai đó kêu lên rằng nhà bạn bị cháy. Tại sao chính ham
muốn dục của bạn lại tan biến khỏi tâm trí chỉ chốc lát? - bởi vì tâm thức đi
khỏi đó và trở thành được nối với ý nghĩ về nhà đang bị cháy. Bằng không cứ thử
tách tâm trí bạn ra khỏi ham muốn dục mà xem và bạn sẽ biết rằng điều đó không
có tác dụng! Bạn không thể tách khỏi nó được. Nhưng ngay khi bạn nghe thấy tin
về cháy - cho dù là báo động giả - thì toàn bộ cơ chế của ham muốn dục của bạn
đi tới chỗ dừng lại; bạn quên mất về nó và nó kết thúc.
Điều gì đã xảy ra? Sự hiện diện của tâm thức bạn đã
dịch chuyển. Một tình huống khẩn cấp đã nảy sinh, và bây giờ tâm trí không thể
đi đâu khác được. Nó đi ra khỏi ham muốn, còn ham muốn này biến mất trong chính
việc rời đi này. Cái máy của ham muốn dục vẫn còn đó, và bạn nữa cũng đang hiện
diện bên trong cái máy này - nhưng thế rồi cái gì đã thay đổi? Cái đã thay đổi
là ở chỗ bạn không còn hiện diện gần ham muốn này nữa; tâm thức bạn đã dịch
chuyển ra khỏi nó, sự chú ý của bạn đã ra đi. Việc tự do khỏi ham muốn dục
không đạt tới được qua nỗ lực, nó được đạt tới qua việc chứng kiến vô nỗ lực,
bởi vì bạn không phải là người làm.
Cho nên hiền nhân này bắt đầu lời kinh này:
Ta không là người làm không là người kinh nghiệm.
“Ta không là người làm" - đây là cái gì đó có
thể lĩnh hội được; “Ta thậm chí không là người kinh nghiệm” - điều này khó hiểu
thấu hơn. Trong việc làm, chúng ta làm điều gì đó ở bên ngoài, việc làm bao giờ
cũng bên ngoài, nhưng việc kinh nghiệm là ở bên trong. Khi chúng ta làm điều gì
đó chúng ta đi ra ngoài, còn khi chúng ta kinh nghiệm điều gì đó thì chúng ta
đi vào trong.
Việc kinh nghiệm là bên trong, do đó nó ở gần hơn.
Đó là lí do tại sao, có thể, bạn có thể hiểu rằng bạn không phải là người làm,
nhưng lại rất khó hiểu rằng bạn không là người kinh nghiệm nữa. Nhưng người
không phải là người làm thì không thể là người kinh nghiệm được, bởi vì sâu bên
dưới việc kinh nghiệm cũng lại là một hành động, một việc làm. Nói "Tôi đã
kinh nghiệm" cũng là một việc làm tinh vi. "Tôi đã làm" là việc
làm thô thiển, "Tôi đã kinh nghiệm" là việc làm tinh vi.
Cho nên khi cảm thấy việc làm là ở ngoài, đồng thời
việc cảm thấy người kinh nghiệm xảy ra bên trong. Và cảm giác về việc làm càng
lớn, ham muốn của người kinh nghiệm cũng càng lớn. Do đó cảm giác về việc làm
càng lớn thì thì càng nhiều phiền não trong cuộc sống, bởi vì ham muốn của
người kinh nghiệm tăng lên theo cùng tỉ lệ - đam mê càng lớn, không hài lòng
càng lớn. Đó là lí do tại sao những người cố gắng nhiều thì thường thấy rất khổ
bởi vì họ cảm thấy rằng họ đã làm nhiều thế, nhưng họ đạt được gì? Họ có thể
tận hưởng cái gì? Trong thực tế bạn cứ làm và làm trong hi vọng rằng một ngày
nào đó bạn sẽ ngồi lại và tận hưởng. Điều đó cứ diễn ra theo cách này trong cả
đời bạn, nhưng khoảnh khắc để tận hưởng chẳng bao giờ tới.
Có ví dụ khác về sự gần gũi này. Bạn biết khi bạn ăn
thức ăn rằng bạn không tạo ra cơn đói - do đó bạn không phải là người làm. Điều
này không khó hiểu mấy. Bạn không tạo ra cơn đói, nó đơn giản tới. Nếu nó không
tới, chẳng có cách nào tạo ra nó. Cho nên điều này là rõ ràng, rằng cơn đói xảy
ra, chúng ta không tạo ra nó. Chúng ta ăn thức ăn bởi vì có cơn đói. Nhưng
chúng ta kinh nghiệm việc thưởng thức - cảm thấy ngon hay không ngon, đắng hay
ngọt. Cho nên chúng ta chấp nhận rằng cơn đói không do chúng ta tạo ra, chúng
ta không sản sinh ra nó - nó tới. Chúng ta không tạo ra cơn đói nhưng chúng ta
chắc chắn có kinh nghiệm thưởng thức. Thưởng thức là tinh tế hơn. Chúng ta có
thực sự kinh nghiệm thưởng thức không? Hay điều đó cũng xảy ra trong cái máy
của thân thể chúng ta và bởi vì sự gần gũi của chúng ta với nó mà chúng ta
nghĩ, "Mình đang thưởng thức nó."
Việc thưởng thức cũng xảy ra trong cái máy của chúng
ta. Đó là lí do tại sao khi bạn bị sốt, bạn không thấy ngon với cái gì cả. Bạn
vẫn vậy, nhưng cái máy của bạn bị trì trệ đi và không có khả năng kinh nghiệm
việc thưởng thức. Việc thưởng thức xảy ra trong cái máy này.
Pavlov đã làm nhiều thực nghiệm ở Nga. Có cái gì đó
cần được hiểu trong hoàn cảnh này từ những thực nghiệm đó. Pavlov hỏi: “Việc
thưởng thức là kinh nghiệm thích thú hay kinh nghiệm khó chịu? Nếu mùi hôi bốc
ra quanh bạn mọi lúc bạn đang ăn thức ăn, dần dần việc ăn sẽ trở thành điều khổ
sở. Hay nếu bạn bị gây sốc điện qua ghế bất kì khi nào bạn ăn, sau mười hay
mười lăm ngày mỗi lúc ăn bạn sẽ kinh nghiệm cái đau, 'Bây giờ nó lại tới đây!'
Một khi hình mẫu này được thiết lập, thế thì cho dù không bị gây sốc thêm nữa
bạn sẽ không có khả năng thưởng thức thức ăn.”
Nhiều người mẹ gặp phải vấn đề với con mình, rằng
chúng không thích ăn. Họ làm cả nghìn lẻ một nỗ lực, nhưng con họ không muốn
ăn. Và điều không bao giờ xuất hiện với họ là trẻ con không có lỗi. Trong thực
tế cách thức mà người mẹ có thể đã hành xử bất kì khi nào trẻ con đòi sữa chính
là điều đã làm hỏng mối quan tâm của nó tới thức ăn. Một liên kết đã được hình
thành. Bất kì khi nào đứa trẻ đòi sữa, cách người mẹ đáp ứng đã tạo ra một liên
kết xấu, một sở thích xấu. Cho nên hành vi của người mẹ đã trở thành được liên
kết với thức ăn.
Trong thực tế sự hấp dẫn của đàn ông tới cặp vú của
đàn bà là kết quả của nỗ lực của người mẹ cai sữa. Mọi người mẹ đều cố gắng dứt
đứa con ra khỏi bầu vú sớm nhất có thể được, và kết quả là ở chỗ nó sẽ không có
khả năng quên đi bầu vú trong cả đời mình. Người đó nhìn vào bầu vú ngay cả
trong tuổi già của mình. Sự hấp dẫn mà đàn ông có tới bầu vú không phải là
không có lí do. Trong thời thơ ấu của mình khi bầu vú mẹ là mọi thứ với đứa trẻ
- chúng đã là chính cuộc sống của nó - chúng đã bị dứt ra mạnh tới mức chúng sẽ
ám ảnh kí ức nó trong phần còn lại của cuộc đời nó. Chúng bị mắc kẹt trong tâm
trí người đó và một nỗi ám ảnh ngu si được sinh ra quanh cặp vú. Mọi người hoàn
toàn bị ám ảnh. Chỉ những phần này của thân thể phụ nữ dường như mới có ý
nghĩa. Các hoạ sĩ phí cả đời mình để vẽ chúng. Mọi người gọi các hoạ sĩ này là
thiên tài, nhưng tất cả mọi điều họ làm là vẽ vú phụ nữ; các nhà điêu khắc tạc
tượng chúng, còn các nhà thơ thì viết thơ về chúng. Và đây là những người được
gọi là thông minh!
Điều có quá nhiều thơ ca, điêu khắc và tranh vẽ về
cặp vú là những chỉ báo về sự điên rồ của con người. Con người là điên rồ,
nhưng sự việc làm lẩy cò cho tất cả những điều này là rất tầm thường. Đó là lí
do tại sao trong những bộ lạc nơi người mẹ thích nuôi con bằng vú mình thì
người ta không quan tâm tới cặp vú. Trong các bộ lạc nguyên thuỷ, trong cái gọi
là những bộ lạc chưa phát triển, người mẹ thích nuôi con bằng vú mình.
Và điều cũng thú vị là sự kiện trẻ con thích bú sữa
chỉ mới là một nửa của chân lí; người mẹ cũng thích nuôi con bằng vú, thậm chí
còn hơn trẻ con. Nếu nền văn minh và sự huấn luyện và tất cả những điều này
không can thiệp vào, trẻ con sẽ tự do với người mẹ theo cả nghìn lẻ một sự căng
thẳng.
Đó là lí do tại sao không có quan tâm như vậy trong
các bộ lạc nguyên thuỷ. Chúng ta cảm thấy ngạc nhiên rằng phụ nữ của bộ lạc này
đi quanh với vú để trần. Trong thực tế chúng ta nên ngạc nhiên rằng phụ nữ của
chúng ta che nó đi. Điều điên rồ là che đi cái đang đó. Và điều đáng ngạc nhiên
là ở chỗ nỗ lực che giấu chúng không gì nhiều hơn nỗ lực để phơi bầy chúng, bởi
vì nếu vú hoàn toàn để trần thì chẳng ai sẽ nhìn chúng cả. Chẳng có gì trong
chúng để nhìn. Không ai nhìn vào những phần thân thể để trần. Bất kì cái gì
được phơi bầy ra đều cần được bao phủ và trang trí thì nó mới hấp dẫn. Đấy là
một trò chơi kép: che cái bạn muốn phơi bầy, dấu cái bạn muốn để lộ ra. Trò
chơi này tạo ra những phức tạp có những hậu quả của chúng.
Bạn đang ăn. Bất kì cảm giác thích hay không thích
bạn có trong khi ăn đều được tạo ra bởi môi trường của bạn. Cái máy của bạn
nhận những ấn tượng và tuỳ theo những điều này nó quyết định liệu điều bạn ăn
là ngon hay không ngon. Đó là lí do tại sao những người không ăn cá bị ngạc
nhiên khi thấy làm sao những người khác lại có thể thích ăn cá thế. Nó có mùi
tanh, nhưng lại là mùi rất ngon cho những người ăn cá.
Cho nên mùi vị là gì? Nó là huấn luyện, thói quen.
Thói quen đó xảy ra trong cái máy của bạn và bạn hiện diện ngay đằng sau nó.
Bạn ở gần nó tới mức bất kì cái gì được chiếu sáng bởi vì bạn, bạn coi cái đó
là bản thân mình. Việc thưởng thức không thể được kinh nghiệm mà không có bạn,
cho nên bạn trở thành việc thưởng thức, bạn trở thành người kinh nghiệm.
Trong thực tế, sâu bên dưới bạn chỉ là một nhân
chứng cho việc thưởng thức. Bạn nhận ra mùi vị là ngọt hay đắng - người nhận ra
nó là bạn. Bạn không phải là vị ngọt, bạn là người nhận ra cái ngọt. Có ba điều
xảy ra: bạn ăn đồ ngọt, bạn đang kinh nghiệm cái ngọt, và bạn nhận biết về kinh
nghiệm này. Người nhận biết về kinh nghiệm này là bạn.
Đó là lí do tại sao hiền nhân này nói:
Ta không là người làm không là người kinh nghiệm.
Ta hiện hữu nhưng là nhân chứng cho mọi biểu hiện.
“Ta chỉ là việc chứng kiến, và mọi thứ đang xảy ra
bên ngoài ta.” Tâm thức chỉ chứng kiến, mọi thứ khác đang xảy ra trong thế giới
được biểu hiện. Mọi thứ đang xảy ra quanh bạn - bạn chỉ đang chứng kiến nó.
Nhưng chúng ta đánh mất việc chứng kiến này khi chúng ta hoặc trở thành người
làm hoặc người kinh nghiệm. Và đau khổ bắt đầu ngay khi chúng ta trở thành
người làm hay người kinh nghiệm.
Tôi đã nghe nói về một ngôi nhà bị cháy. Người chủ
của ngôi nhà đang kêu khóc và đấm ngực. Thế rồi một trong những người hàng xóm
tới và bảo người đó, “Sao ông khóc? Tôi ngẫu nhiên biết rằng con ông đã bán
ngôi nhà này hôm qua và cũng đã nhận tiền rồi.”
Nước mắt biến mất, tiếng khóc dừng lại, và người này
trở nên hoàn toàn bình thường. Điều gì đã xảy ra? Ngôi nhà vẫn còn đang cháy,
người này vẫn hệt thế, chẳng cái gì đã xảy ra cả. Nếu chúng ta nhìn, chẳng cái
gì đã xảy ra ở bên ngoài. Lúc này ngọn lửa còn bốc cao hơn, người đó đáng phải
khóc to hơn, nhưng người đó lại không khóc - sự đồng nhất đã bị phá vỡ, tâm
thức người đó đã không tham dự vào trong đó. Ngôi nhà không còn thuộc vào người
đó. Sự việc qua rồi.
Nhưng bỗng nhiên người con chạy tới, kêu lên,
"Sao bố cứ đứng đấy?" Người bố đang đứng đó như người xem còn người
con thì yêu cầu, "Sao bố cứ đứng bất động thế? Việc mua bán vẫn đang diễn
ra. Ngôi nhà đã bán được đâu.”
Người bố lại bắt đầu khóc và đấm ngực, mặc dầu hiện
tượng bên ngoài vẫn thế. Điều gì đã xảy ra ở giữa? Điều gì đã thay đổi trong
vài khoảnh khắc đó? Đám cháy vẫn đó, nhưng sao nước mắt đã biến mất? Sự đồng
nhất của người đó đã bị phá vỡ.
Khi chúng ta lấy cái gì đó là 'của mình', chúng ta
cảm thấy gần gũi với nó; khi chúng ta biết nó 'không phải của mình', gần gũi
biến mất. Gần gũi này, đồng nhất này, là đầu mối của mọi niềm vui, của mọi nỗi
buồn, của việc trở thành người làm và trở thành người kinh nghiệm của chúng ta.
Tôi đã nghe nói rằng một người tới ở trọ tại một
quán trọ ban đêm và ra đi lúc bốn giờ sáng. Sau một năm người này quay lại, và
lại trọ ở cũng chỗ cũ. Người chủ quán trọ ngạc nhiên giật nẩy người lên và nói,
“Ông vẫn còn sống à!”
Lữ khách đáp, “Ông định nói gì? Ông đã nghe tin đồn
tôi chết rồi sao?”
Ông chủ nói, “Vấn đề không phải là tin đồn. Lần
trước ông ở đây tất cả mọi người đã ăn ở đây đêm đó đều bị chết vào sáng hôm
sau trừ mỗi ông, và vì ông đã ra đi trước bình minh nên chúng tôi không thể nào
chắc chắn được về ông; thức ăn đã bị bỏ thuốc độc.”
Nghe thấy điều này, ông lữ khách lăn đùng ngất xỉu.
Đây là một sự kiện thực. Nhưng điều gì đã thực sự
xảy ra? Cũng cùng một loại hiện tượng đã xuất hiện vào lúc ngôi nhà kia bị
cháy. Trong trường hợp kia sự đồng nhất bị phá vỡ, trong khi ở trường hợp này
sự đồng nhất lại được tạo ra. Người lữ khách đã đồng nhất với ý tưởng bị đầu
độc, trở nên ngất xỉu và chết. Ít người chết vì đầu độc hơn là chết vì sự đồng
nhất của họ với ý tưởng bị đầu độc. Bản thân chất độc không hiệu quả thế, nó
cần cả sự đồng nhất nào đó.
Tôi đã nói trước đây về Brahmayogi, người đã dừng
việc thở của mình trong mười phút. Ông ấy cũng có thể chứa bất kì chất độc nào
trong thân thể mình trong ba mươi phút. Ông ấy sẽ nuốt nó, cất nó trong dạ dầy,
và rồi thải nó ra qua nước tiểu. Ông ấy có khả năng giữ nó ở bên trong tới ba
mươi phút, nhưng không lâu hơn. Nhưng ông ấy đã chết ở Rangoon, bởi vì ông ấy
không thể nào chứa nó bên trong nhiều hơn thế này. Ba mươi phút cũng không phải
là thời gian ngắn! Các nhà hoá học tất cả đều ngạc nhiên và kinh ngạc, bởi vì
chất độc này thậm chí có thể gây ra cái chết cho người ta vào khoảnh khắc nó
chạm vào lưỡi. Người ta sẽ không có khả năng còn sống đủ lâu cho dù chỉ để nói
điều gì đó, thậm chí cũng không đủ để nói, "Tôi đang chết" - mà con
người này lại có khả năng chứa loại chất độc này trong cơ thể của mình tới tận
ba mươi phút!
Nhưng ông ấy đã chết trong khi làm thực nghiệm này
tại Rangoon. Điều đó là điều ngạc nhiên. Điều gì đã xảy ra? Bí mật là gì? Ông
ấy đã uống thuốc độc tại Đại học Rangoon và đi về nơi ông ấy trọ, nhưng chiếc
xe ông ấy đi lại bị hỏng trên đường cho nên ông ấy đã không tới được đó trong
suốt ba mươi lăm phút sau đó, ông ấy bị ngất xỉu. Ông ấy không có khả năng chứa
chất độc này trong thời gian dài này, và năm phút chậm trễ bởi vì chiếc xe hỏng
đã gây ra cái chết của ông ấy. Điều đó đã là bí mật của ông ấy, về tới chỗ trọ
của ông ấy trong vòng ba mươi phút và thải chất độc qua nước tiểu
Bất kì khi nào ông ấy được hỏi làm sao ông ấy có thể
giữ chất độc trong cơ thể của mình với thời gian này thì ông ấy sẽ đáp,
"Tôi không trở nên bị đồng nhất với nó; tôi không cho phép bất kì cảm giác
nào rằng tôi đã uống thuốc độc. Nhưng tôi lại không thể kéo dài điều đó hơn ba
mươi phút. Sau khoảng thời gian đó tôi sẽ bắt đầu bị nó chế ngự, và thế thì nó
sẽ xuất hiện với tôi rằng tôi đã uống thuốc độc và rằng tôi có thể chết. Ngay
khi ý nghĩ này tới, rắc rối bắt đầu. Sự đồng nhất đó! Lập tức ý nghĩ này sẽ đem
tâm thức của tôi vào sự đồng nhất với nó và tôi sẽ trở thành người làm hay
người kinh nghiệm.”
Nếu tâm thức có thể vẫn còn không bị đồng nhất, điều
gì cũng là có thể được. Nếu bạn đã từng thấy một thực nghiệm thôi miên, bạn sẽ
bị ngạc nhiên. Nếu thân thể bạn được đặt nằm qua hai chiếc ghế, duỗi dài ra,
chân bạn trên ghế này còn đầu bạn trên ghế kia, bạn có thể nằm được thế không?
Với chân bạn trên ghế này còn đầu bạn trên ghế kia, phần giữa của bạn có còn
thẳng được không? Làm sao nó có thể giữ thẳng được? Bạn sẽ ngã ngay lập tức.
Nhưng nếu bạn bị thôi miên và được bảo rằng bạn là cái bảng không thể uốn cong
được, thế thì ai đó thậm chí có thể bước lên bạn và bạn vẫn không cong. Điều gì
đã xảy ra? Thân thể vẫn thế, nó không đổi. Xương vẫn cong tại các khớp khi
chúng được sử dụng, vậy mà ai đó đang ngồi lên bạn và thân thể bạn lại không
cong. Điều gì xảy ra? Sự đồng nhất đã bị loại bỏ. Ý tưởng về việc ngã, về việc
sụp đổ mà bạn bao giờ cũng mang theo, rằng bạn sẽ ngã nếu điều như vậy được làm
cho bạn, đã bị loại bỏ và một ý tưởng mới đã được trao cho bạn.
Ramamurti thường chịu một con voi dẫm lên ngực mình.
Bí mật của ông ấy là gì? Ngực không mạnh để cho voi dẫm lên nó - không ai có
ngực mạnh như thế, ngay cả ngực của Ramamurti. Điều đó không thể xảy ra được,
chính vấn đề này chưa hề nảy sinh. Ngực con người là ngực con người, và dù nó
mạnh đến đâu cũng chẳng thành vấn đề, chân voi sẽ chà nát nó thành từng mảnh.
Thực nghiệm của Ramamurti không chứa gì nhiều hơn nghệ thuật loại bỏ đi sự đồng
nhất. Nếu bạn có thể loại bỏ đi sự đồng nhất này thì bạn thậm chí có thể để voi
dẫm lên ngực mình mà xương không gẫy. Xương gẫy bởi vì cái ý tưởng rằng chúng
sẽ gẫy đã trở thành được tập trung thế trong bạn. Trọng lượng của bản thân voi
không làm vỡ chúng được - đó là điều đáng quan tâm nhất.
Lão Tử đã kể một câu chuyện về bốn người đang ngồi
trong chiếc xe bò kéo. Một trong số họ là người say còn ba người kia không say.
Chiếc xe gặp tai nạn và lật úp, nhưng người say chẳng hề hấn gì còn ba người
kia tất cả đều bị gẫy xương nhiều chỗ. Bí mật của người say là gì? Người đó
đáng phải bị thương nhiều nhất chứ! Hoàn toàn say với rượu, bạn sẽ cho rằng
người đó đang chuẩn bị xuống địa ngục, nhưng xương người ấy lại không gẫy.
Người đó nằm thảnh thơi bên vệ đường, còn ba người kia thì kêu la khóc lóc với
xương bị gẫy.
Người say thậm chí không nhận biết rằng chiếc xe đã
bị lật úp, và rằng người đó có thể đã bị gẫy xương. Nhận biết này là cần để tạo
ra sự đồng nhất. Người đó vô nhận biết. Người đó thậm chí đã không nhận biết
rằng chiếc xe đang đi hay rằng nó đã bị lật hay liệu người đó ở bên trong hay
bên ngoài xe, cho nên sự đồng nhất với xương người đó không được tạo ra và
người đó vẫn còn không bị thương. Đó là lí do tại sao trẻ con cứ đi loạng
choạng và ngã. Bạn thấy người say ngã đấy, nằm dài trên đường, nhưng họ chưa
bao giờ bị thương nặng cả. Vào buổi sáng họ lại dậy tươi tắn và đi tiếp. Bạn
thử ngã và xem điều gì xảy ra - mà không say! Một lần sẽ đủ để làm cho bạn khó
ra khỏi giường.
Đó là sự đồng nhất. Tâm thức lập tức đồng nhất với
thân thể khi nó thấy một tai nạn xảy ra. Cho nên bất kì điều gì bạn đang nghĩ
bên trong vào cái khoảnh khắc thời gian ngắn ngủi đó, nó đều vật chất hoá ra
bên ngoài. Nếu một khoảng cách được duy trì, điều đó tạo ra sự khác biệt...
điều đó tạo ra sự khác biệt.
Ta không là người làm không là người kinh nghiệm.
Ta hiện hữu nhưng là nhân chứng cho mọi biểu hiện.
Chính bởi vì sự gần gũi của ta với chúng mà thân
thể, vân vân, dường như là ý thức, và bắt đầu vận hành tương ứng.
Thân thể giả thiết rằng điều này là như vậy. Nhưng
đây chỉ là niềm tin của chúng ta. Thế giới của chúng ta là niềm tin của chúng
ta, và chừng nào niềm tin này còn chưa bị phá vỡ thì chúng ta không có cách nào
đạt tới giải thoát.
Ta là cái không thay đổi, cái vĩnh hằng.
Ta bao giờ cũng là nhà của phúc lạc, của thuần khiết
và việc biết.
Ta là toàn năng.
Ta là linh hồn rõ ràng
hiện diện trong mọi sinh linh hữu tình như một nhân
chứng.
Về điều này, không có hoài nghi.
Ngay khi ý tưởng là người làm và người kinh nghiệm
biến mất, hiện tượng chứng kiến bắt đầu. Hay, ngay khi việc chứng kiến bắt
đầu... những ý tưởng về việc là người làm và người kinh nghiệm biến mất. Điều
đó tuỳ ở bạn nơi bạn muốn bắt đầu. Bắt đầu từ bất kì đâu, và hiện tượng này bắt
đầu xảy ra. Dừng là người làm trong khi làm, dừng là người kinh nghiệm trong
khi kinh nghiệm, và nhân chứng bắt đầu nổi lên. Giữ cố để sinh thành ra nhân
chứng, cố để vẫn còn thường xuyên tỉnh táo và người làm và người kinh nghiệm sẽ
bắt đầu biến mất. Đây là hai đầu của một hiện tượng.
Có hai cách: một là thiền, và cách kia là khổ hạnh.
Khổ hạnh là phương pháp loại bỏ đi người kinh nghiệm và người làm. Thiền là
phương pháp được dùng để trở thành nhân chứng, người quan sát. Hãy bắt đầu từ
bất kì đâu, kết quả sẽ là như nhau.
Điều đó cần được hiểu tại sao người khổ hạnh đi vào
khổ sở. Tại sao sau rốt, người khổ hạnh lại chọn khổ sở? Tại sao Mahavira lại
cần đứng trần dưới mặt trời như thiêu như đốt? Cần gì cho thân thể trần trụi
của ông ấy run lên trong giá lạnh? Tại sao bước trên những con đường gập ghềnh
bằng chân trần và từ chối cho mình thức ăn hàng tháng trời cho đến cuối? Hoặc
ông ấy điên, mà đấy lại không phải là trường hợp này... Trong thực tế khó mà
tìm được ai an bình, định tâm, trí huệ như ông ấy, cho nên không có cách nào
gọi ông ấy là điên rồ cả.
Đôi khi các nhà tâm lí học phương Tây nghi ngờ rằng
Jesus là người điên, nhưng ngay cả vậy thì họ cũng không thể có hoài nghi về
Mahavira. Một số phát biểu của Jesus chứng tỏ dường như là ông ấy điên thật.
Chẳng hạn: “Ta là đứa con duy nhất của Thượng đế, ta là vua của toàn thể sự
sáng tạo. Trên trời ta sẽ ngồi cạnh Thượng đế. Những người theo ta sẽ được cứu
rỗi, còn những người bỏ ta sẽ bị rơi vào địa ngục vĩnh viễn.” Và thế rồi bỗng
nhiên ông ấy bị đóng đinh, và chết như bất kì người thường nào. Điều gì xảy ra
cho vương quốc của ông ấy? Ông ấy đã hứa cứu toàn thể thế giới mà chẳng thể cứu
được bản thân mình! Và nếu ông ấy là đứa con duy nhất của Thượng đế, làm sao
Thượng đế có thể cho phép con mình bị đóng đinh?
Các nhà tâm lí học phương Tây ngờ rằng ông ấy phải
đã bị ảo tưởng. Nhưng không có chân lí nào trong sự hoài nghi đó; họ đang phạm phải
sai lầm. Họ không hiểu ngôn ngữ của Jesus. Jesus đã nói cho những người chỉ là
dân làng, quê mùa, vô giáo dục, người đã không hiểu được ngôn ngữ của triết học
phức tạp. Ngôn ngữ của ông ấy phải là ngôn ngữ của thế giới trần tục.
Những hoài nghi như vậy không thể nào được đưa ra
với Mahavira bởi vì ông ấy đang dùng một ngôn ngữ rất có văn hoá... không có
chỗ sơ hở nào trong nó để chứng minh ông ấy là điên rồ! Thế thì tại sao
Mahavira lại tự áp đặt khổ lên mình? Lí do là ở chỗ đấy là một thực nghiệm trong
việc thoát khỏi người làm và người kinh nghiệm.
Chính sự kiện là bạn có thể dễ dàng trở thành người
kinh nghiệm trong vui thích, nhưng lại không dễ dàng với khổ sở. Chính khổ sở,
chính cái đau không cho phép bạn chỉ là người kinh nghiệm. Chiếc gai đâm vào
chân bạn và vào lúc đó bạn dễ dàng trở thành nhân chứng của cái đau này - bạn
phải trở thành, bởi vì làm sao bạn có thể tận hưởng nó được? Không có vui thích
trong nó, bạn không có thích thú gì về nó cả, bạn muốn cách xa nó. Một khoảng
cách là tự động được tạo ra với cái đau, cái khổ sở; sự đồng nhất bị phá vỡ bởi
vì không ai muốn sống trong khổ sở. Chúng ta không có ham muốn ở gần nó. Nó tới
- đó là vấn đề khác - nhưng chúng ta muốn giữ nó ở một khoảng cách.
Nhưng khi vui thích tới, chúng ta lại tới rất gần
chúng, thế thì chúng ta không muốn giữ khoảng cách nào. Khi mọi người đón chào
bạn với vòng hoa tôn vinh thì không có ham muốn là nhân chứng. Trong khoảnh
khắc đó bạn không cảm thấy bất kì quan tâm nào trong việc là nhân chứng. Trong
khoảnh khắc như vậy khao khát của bạn là thu lấy những lời ca ngợi nhiều nhất
có thể được. Chưa bao giờ xuất hiện cho bạn là người này có thể làm điều gì đó
sai, hay rằng người đó có thể đánh giá sai bạn vì ai đó khác - rằng điều đó có
thể là trò đùa, ảo tưởng. Không, trong khoảnh khắc như vậy tâm trí bạn nói,
"Đây không phải là ảo tưởng. Điều đó đáng phải xảy ra từ lâu trước đây rồi
- phải mất thời gian lâu thế này bởi vì cái ngu ngốc của mình. Ít nhất thì cuối
cùng các người đã thừa nhận tôi; điều đáng phải xảy ra từ lâu trước đây thì
cuối cùng bây giờ cũng đang xảy ra.”
Nhưng nếu ai đó lại đặt vòng hoa giầy lên cổ bạn -
sỉ nhục kiểu Ấn Độ, dấu hiệu của bác bỏ - thì một khoảng cách sẽ ngay lập tức
được tạo ra. Bạn sẽ nghĩ rằng điều đó không thể được ngụ ý cho mình, rằng phải
có hiểu lầm nào đó, rằng điều đó phải được ngụ ý cho ai khác. Hoặc là người này
phải điên, đồ vô lại, kẻ lừa gạt. Bạn không nghĩ điều đó là phải, bạn ném nó
ngược lại cho người khác. Nhưng nếu một vòng hoa được đem tới cho bạn thì bạn
lại xác nhận nó, bạn nghĩ mình xứng đáng với nó - bạn không coi nó đơn giản là
hành động lịch thiệp về phần người khác. Bạn bị đồng nhất với vòng hoa. Bạn
muốn được đồng nhất với những vui thích bởi vì bạn muốn vui thích. Điều bạn
muốn bạn trở thành bị đồng nhất với nó. Bạn chưa bao giờ muốn khổ sở, trong
thực tế bạn bao giờ cũng muốn khổ sở lui ra xa, cho nên cho dù nó tới bạn cũng
cố gắng lánh mình ra xa khỏi nó.
Cho nên điều này trở thành nguyên tắc của khổ hạnh -
đứng ở giữa chỗ khổ sở để cho từ từ, dần dần, sự việc trở thành rõ ràng rằng
bạn không là người làm, rằng bạn không là người kinh nghiệm.
Mahavira sẽ sống không thức ăn trong ba mươi ngày,
để cho khi ông ấy đói, thế thì ông ấy biết rằng đấy không phải là ông ấy đói -
đấy là thân thể, còn ông ấy chỉ là nhân chứng cho nó. Vào ngày thứ ba mươi mốt
ông ấy sẽ tới thăm một làng, ăn thức ăn nào đó, và biết rằng ông ấy không là
cơn đói trước đây cũng không là sự thoả mãn bây giờ. Cả hai hiện tượng này đều
ở ngoài ông ấy. Trong khổ sở của mình ông ấy đã thấy sự tách biệt của nó với
cái ta của ông ấy, và thế rồi ông ấy sẽ cố gắng duy trì cùng sự tách biệt đó
đối với cả vui thích nữa.
Cho nên khổ hạnh là một kĩ thuật. Nó là một cách
thức, một phương tiện để phá vỡ sự đồng nhất của chúng ta với người làm và
người kinh nghiệm; thế thì sinh thành của nhân chứng bắt đầu. Một mặt người làm
và người kinh nghiệm biến mất, và mặt khác nhân chứng bắt đầu lấy sự sinh
thành.
Thỉnh thoảng bạn thử thực nghiệm này. Không cần bạn
phải đi tìm khổ sở bởi vì biết bao nhiêu khổ sở đã tới với bạn theo cách riêng
của chúng. Cho nên khi buồn tới, thực nghiệm bằng kĩ thuật này của khổ hạnh.
Bạn không cần áp dụng cuộc sống khổ hạnh như Mahavira. Ông ấy đã thuộc vào một
gia đình nơi ông ấy đã tận hưởng nhiều vui thích cho nên có lẽ ông ấy đã không
có kinh nghiệm về khổ sở chút nào, và đó là lí do tại sao ông ấy đã làm chọn
lựa này.
Cuộc sống của bạn đã toàn những tầng khổ sở và khổ
sở - bạn không cần đi tìm nó. Cố gắng đừng đồng nhất với người làm và người
kinh nghiệm trong chính khổ sở đó. Khi bạn ốm, giữ một khoảng cách với ốm yếu
và vẫn còn là nhân chứng. Đừng kinh nghiệm bản thân mình đang ốm, chỉ kinh
nghiệm bản thân mình như nhân chứng cho cái ốm đó. Khi bạn kinh nghiệm bản thân
mình theo cách này, bạn bỗng nhiên thấy rằng mọi thứ đều mạnh khoẻ bên trong.
Cứ dường như là ai đó bỗng nhiên thắp lên ngọn đèn trong bóng tối và mọi thứ
trở nên rõ ràng. Khoảnh khắc của sáng tỏ đó là khoảnh khắc của việc chứng kiến.
Kĩ thuật khác là thiền. Nhấn mạnh của Mahavira là
vào khổ hạnh. Nhấn mạnh của Phật là vào thiền. Đó là lí do tại sao những người
theo cả hai không thể hiểu được nhau. Họ đều là người cùng thời, nhưng những
người theo họ không thể hiểu được lẫn nhau chút nào bởi vì nhấn mạnh của họ là
khác nhau và chúng trông có vẻ đối lập lẫn nhau.
Mahavira nói: “Làm sao có thể có thiền mà lại không
có khổ hạnh được?” Còn Phật nói: “Khổ hạnh có trước thiền là vô nghĩa.” Và cả
hai phát biểu đều đúng.
Và điều thú vị là ở chỗ trong thế giới này hai điều
không thể trở thành sai chỉ bởi vì chúng đối lập. Hai điều đối lập có thể đồng
thời đúng. Thế giới này phức tạp, đầy những bí ẩn tới mức hai điều đối lập nhau
về bản chất lại không sai.
Logic thông thường coi rằng nếu hai điều là đối lập,
hoặc cả hai trong chúng là sai, hoặc một trong chúng có thể sai và cái kia
đúng, nhưng cả hai không thể đúng được. Điều này chỉ chứng minh cái dốt nát về
bí ẩn của cuộc sống. Bí ẩn của cuộc sống nói cả hai có thể đồng thời cùng đúng.
Cho nên Mahavira và Phật cả hai đều đúng vào cùng lúc, đúng ngang nhau; chỉ
chiều hướng con đường họ là khác.
Mahavira bắt đầu với người kinh nghiệm, người làm,
và cái còn lại sau khi tách biệt với nó là nhân chứng. Phật bắt đầu với việc
đánh thức nhân chứng. Khi nhân chứng thức tỉnh, cảm giác về việc là người làm
và người kinh nghiệm bắt đầu tàn lụi đi. Khi nhân chứng thức tỉnh hoàn toàn, cả
người làm và người tận hưởng đều biến mất. Đó là lí do tại sao Phật có thể ảnh
hưởng tới cả thế giới nhiều hơn Mahavira. Lí do cơ bản là ở chỗ không ai có
nhiều hạnh phúc tới mức người đó sẽ đi tìm khổ. Mọi người đều đã có đủ khổ rồi,
cho nên chính ý tưởng về việc chọn khổ thêm nữa dường như kì quái; khổ đã có
sẵn quá dư thừa rồi.
Giáo huấn của Phật có thể được hiểu dễ dàng hơn bởi
vì chúng không làm tăng thêm khổ của người ta. Chúng là một thực nghiệm để đánh
thức nhân chứng một cách trực tiếp, cái làm giảm khổ đi.
Một ngày nào đó giáo huấn của Mahavira có thể trở
nên có ảnh hưởng và một ngày nào đó có thể, khi thế giới trở nên quá giầu có,
giáo huấn của Phật sẽ biến mất. Cũng có thể là trong thế kỉ tới, ở Mĩ, giáo
huấn của Mahavira có thể được sống lại - phồn vinh có thể đã tăng lên tới mức
ngay cả khổ cũng có thể bắt đầu có hấp dẫn; thịnh vượng và vui thích có thể có
sẵn nhiều tới mức ngay cả khổ có thể có vẻ như thay đổi đón chào.
Tại đây, hai nữ sannyasins phương Tây đã ngủ bên
ngoài trời dưới gốc cây. Họ bảo tôi vào buổi sáng rằng mọi người Ấn Độ dường
như lo nghĩ về điều này. Họ nói, "Bất kì ai gặp chúng tôi cũng đều nói,
'Các chị làm gì vậy? Đừng làm thế! Ngủ ngoài trời dưới gốc cây trong đêm là
nguy hiểm.' Mà chúng tôi thì lại thích điều đó.”
Tôi bảo họ, “Các bạn có thể không hiểu tại sao người
Ấn Độ không thể thấy thích ngủ dưới gốc cây - họ nghèo thế nên họ đã sống dưới
gốc cây! Bạn có thể thích điều đó bởi vì biết bao nhiêu khoảng cách đã xuất
hiện giữa bạn và cây đến mức có một cuộc phiêu lưu cho bạn.”
Cho nên cả hai kĩ thuật đều có thể giúp cho hiện
tượng này xảy ra, rằng chỉ nhân chứng còn lại. Thế thì, cho dù nhân chứng này
có thể ở bên trong chúng ta, nó cũng không phải là của chúng ta; nó là sự tràn
ngập khắp. Với việc kinh nghiệm về nhân chứng, bản ngã biến mất, bởi vì bản ngã
không là gì ngoài tổng của người làm và người chứng kiến. "Tôi đã
làm", "Tôi đã kinh nghiệm", "Tôi đã đạt tới" - tất cả
những điều này tạo ra cái tôi của bạn, bản ngã. Nếu tôi đã không làm và tôi đã
không kinh nghiệm và tôi đã không đạt tới, cái tôi của bạn có thể đứng ở đâu?
Toàn bộ tích luỹ này sụp đổ rời ra.
Cho nên nhân chứng không phải là 'của tôi'. Hiểu
điều này cho đúng: nhân chứng không phải là 'của tôi' - bạn trở thành nhân chứng
cho tất cả những cái bạn đã gọi là 'của tôi'. Ngay khi nhân chứng thức dậy thì
cái tôi tan biến. Nhân chứng giống như đại dương vô hạn bên trong chúng ta. Nó
là bên trong tôi, bên trong bạn, bên trong mọi người; ở đâu đó nó ngủ, ở đâu đó
nó thức, ở đâu đó nó lắc lư và xoay tròn, ở đâu đó nó mơ mộng, ở đâu đó nó hoàn
toàn tỉnh thức và ở đâu đó nó ngủ, trong giấc ngủ, nhưng nhân chứng là một. Nó
là cùng trong cái cây, nó là cùng trong tảng đá - trong giấc ngủ, giấc ngủ say.
Nó là cùng trong con vật - nó mới chỉ bắt đầu cựa quậy. Nó là cùng trong chúng
ta - thỉnh thoảng thức dậy một chốc. Nó là cùng trong Phật và trong Christ -
hoàn toàn thức tỉnh. Những khác biệt này chỉ là về lượng. Nhưng ai đó biết tới
nó trong trạng thái thức tỉnh hoàn toàn thì thấy ngay lập tức rằng nó là đại
dương bao la.
Nhân chứng mang tính đại dương, thấm nhuần tất cả
chúng ta. Chúng ta tất cả đều trong nó, và nó là trong tất cả chúng ta. Nhưng
nó là một, và nó là có mặt khắp nơi. Hiền nhân này nói: Về điều này, không có
hoài nghi. "Tôi nói điều đó sau khi biết nó, tôi nói điều đó sau khi hiểu
nó, tôi đã thấy nó là vậy.”
Thường có vẻ như những phát biểu của hiền nhân này
là những khẳng định rất bản ngã. Những người không biết thì nhất định cảm thấy
như thế. Những người không hiểu ngôn ngữ nào khác hơn ngôn ngữ của bản ngã đều
nhất định cảm thấy theo cách đó. Nói rằng không có hoài nghi nào về nó, điều đó
chẳng độc đoán sao? Nếu như chúng ta hỏi Krishnamurti, ông ấy không thấy điều
đó là độc đoán và là một nỗ lực để tạo ra một giáo điều tối hậu sao?
Krishnamurti sẽ không thích nói, “Điều tôi nói là ở bên ngoài mọi hoài nghi.”
Ông ấy sẽ nói, “Điều này sẽ có nghĩa là tôi đang gây sức ép lên bạn để tin vào
tôi.” Và có lẽ ông ấy cũng phải.
Có những người tuyên bố mọi thứ một cách độc đoán chỉ
để cho điều đó được chấp nhận. Nhưng cũng sai mà tin rằng tất cả mọi người điều
giống thế. Những người thích hiền nhân này cũng tồn tại, những người không áp
đặt bất kì sự độc đoán nào lên bất kì ai, người chỉ phát biểu một sự kiện - một
thông tin khiêm tốn nào đó về điều họ không có hoài nghi. Và nếu họ không có
hoài nghi thế thì nói vậy là sai sao? Hay họ phải nói rằng họ có hoài nghi chỉ
bởi vì nỗi sợ rằng phát biểu của họ có vẻ độc đoán? Hay bạn cho rằng điều phải
với họ là nói rằng họ không biết dù họ có hoài nghi hay không? Hay họ không nên
nói điều gì hết cả, bởi việc sợ rằng điều đó có thể giống như một phát biểu độc
đoán với ai đó? Dẫu sao đi chăng nữa, nỗi sợ này có tạo ra bất kì khác biệt gì
không?
Krishnamurti đã từng nói trong cả đời mình rằng ông
ấy không phải là thầy tâm linh của bất kì ai, rằng phát biểu của ông ấy không
nên được lấy làm giáo điều tối thượng, rằng không cần chấp nhận điều ông ấy
nói; rằng ông ấy không có thẩm quyền. Nhưng điều thú vị nhất là ở chỗ hàng trăm
người chấp nhận ông ấy như là người có thẩm quyền. Và sự việc còn trở thành thú
vị hơn, và trong thực tế là một chuyện đùa, là mọi người chấp nhận ông ấy như
một người có thẩm quyền bởi vì ông ấy phủ nhận điều đó là như vậy; mọi người
coi ông ấy đáng là bậc thầy chỉ bởi vì ông ấy phủ nhận rằng ông ấy là bậc thầy!
Một trò chơi rất thú vị của tâm trí con người là khi
ai đó nói với bạn rằng người đó không phải là thầy thì bản ngã bạn cảm thấy
được thoả mãn - "Điều này vĩ đại đây, con người này có thể là người bạn;
cúi mình dưới chân người này là không cần thiết, chúng ta có thể ôm người đó,
chúng ta có thể là bạn bè với người đó, người đó không ở trên chúng ta.”
Đúng là khi ai đó cố gắng cao hơn thì đó là bản ngã.
Nhưng khi ai đó tuyên bố rằng mình không ở trên ai cả chỉ để cho người khác có
thể cảm thấy thoải mái, điều này nữa cũng là bản ngã - tất nhiên, từ phía bên
kia, từ phía của bạn. Nếu ai đó bảo bạn chạm chân người đó thì người đó sẽ
dường như là kẻ bản ngã đối với bạn. Nhưng khi ai đó yêu cầu bạn không chạm
chân người đó bởi vì chẳng có gì đặc biệt về người đó cả, bạn không nhận biết
rằng sự thoả mãn bạn có được từ điều này cũng là bản ngã của bạn. Và nếu, ngược
lại, con người này chạm chân bạn, phải nói gì về bản ngã của bạn!
Một người bạn tới tôi và bảo tôi, “Tôi chỉ thích mỗi
Krishnamurti - ông ấy dường như là người trí huệ duy nhất.”
Tôi hỏi anh ta tại sao, và anh ta đáp, "Khi tôi
tới gặp ông ấy, ông ấy đã đi tới gần tôi và bắt đầu vỗ bàn chân tôi."
Krishnamurti có thể đã làm điều này trong khoảnh
khắc của tình yêu, nhưng ông ấy không nhận biết rằng trong khi ông ấy có thể đã
vỗ vào bàn chân người này, điều thực sự được vỗ về là bản ngã của người này. Và
Krishnamurti hấp dẫn anh ta bởi vì điều đó!
Con người là câu đố rất phức tạp.
Cho nên khi hiền nhân này nói rằng không có hoài
nghi về bất kì cái gì, ông ấy không ngụ ý rằng bạn nên tin vào điều ông ấy nói.
Không, ông ấy chỉ ngụ ý rằng phát biểu của ông ấy không đơn thuần là phát biểu,
chúng đang tới từ việc hiểu của ông ấy. Và chẳng có gì sai trong việc nói điều
đó. Ông ấy tuyên bố rằng bên trong mình không có hoài nghi. Tuyên bố này rằng
Về điều này, không có hoài nghi - nếu đây là cách nó như vậy, có gì sai trong
nó? Nếu ông ấy biết nó, ông ấy phải diễn đạt nó. Nói ra chân lí là khiêm tốn.
Điều rất thú vị là chúng ta cứ lặp lại - đặc biệt
trong quá khứ một trăm năm nay, ý tưởng ngu xuẩn này đã đi sâu hơn và đã trở
thành rất ảnh hưởng - rằng chúng ta tất cả đều bình đẳng, rằng không ai thấp
hơn và không ai cao hơn. Điều này đã không làm thay đổi cái gì. Điều đó không
có nghĩa là chúng đã dừng suy nghĩ về bản thân mình như là cái gì cao hơn.
Không, tất cả điều đó nghĩa là chúng ta đã dừng việc suy nghĩ về người khác như
là cao hơn chúng ta. Khi chúng ta nói không ai thấp hơn và không ai cao hơn,
điều đó không có nghĩa là chúng ta đã dừng việc coi ai đó khác là thấp hơn, nó
chỉ có nghĩa là chúng ta đã dừng việc coi bất kì ai khác là cao hơn.
Khi chúng ta nói rằng tất cả đều bình đẳng, trong
nghĩa sâu nhất thì điều này là đúng, nhưng chúng ta lại không có hiểu biết về
chiều sâu đó. Chúng ta vẫn còn chưa đi tới điểm mà phát biểu này là đúng; nơi
chúng ta hiện hữu, phát biểu này hoàn toàn sai. Tại đó, nơi chúng ta đang hiện
hữu, chúng ta tất cả đều không bình đẳng, trong thực tế chúng ta tất cả đều bất
bình đẳng. Nhưng chúng ta đã chấp nhận ý tưởng này rằng sự bình đẳng tồn tại.
Nhưng nơi chúng ta đang hiện hữu, chúng ta tất cả đều hoàn toàn khác nhau và
bất bình đẳng.
Vấn đề khác nảy sinh khi một người tin rằng mọi
người đều bình đẳng: thế thì người đó sẽ không bao giờ phát hiện ra cái điểm mà
sự bình đẳng là thực sự có thể. Ai đó bắt đầu từ tiền đề là mọi người đều bất
bình đẳng thì một ngày nào đó sẽ đạt tới điểm nơi sự bình đẳng sẽ trở thành có
thể, bởi vì người đó sẽ làm cái gì đó về nó: người đó sẽ tiếp tục cuộc hành trình,
làm nỗ lực nào đó hướng tới việc hoàn thiện bản thân mình, tinh luyện mình,
thay đổi tình huống. Nhưng ai đó tin bản thân mình là bình đẳng với Phật...
điều này chẳng làm hại Phật theo bất kì cách nào. Nếu như điều đó làm hại Phật
theo bất kì cách nào thì sẽ không có vấn đề gì, nhưng nó làm hại cho người tin
vào ý tưởng này.
Vậy mà nếu Phật nói, “Bạn sai" - thế thì với
bạn Phật sẽ dường như là người bản ngã bởi việc tuyên bố rằng bạn bất bình
đẳng! Thế thì Phật phải làm gì? Ông ấy không thể nói, “Vâng, bạn bình đẳng với
tôi, không chỉ bình đẳng mà còn cao hơn tôi” - điều này thoả mãn bản ngã của
bạn, nhưng cuộc hành trình của bạn để biến đổi và hoàn thiện sẽ không bắt đầu.
Hay, nếu Phật nói theo một cách tự nhiên và tự phát, “Không chúng ta không bình
đẳng” - điều đó làm tổn thương bản ngã bạn.
Phật, Mahavira, Krishna hay Christ đều không tuyên
bố rằng nơi chúng ta đang hiện hữu bây giờ chúng ta là bình đẳng. Chắc chắn họ
biết rằng tại điểm nào đó, tại trung tâm, chúng ta tất cả đều bình đẳng, nhưng
đó là đích cuối cùng của chúng ta; chúng ta không bình đẳng nơi chúng ta đang
hiện hữu bây giờ. Có lỗ hổng lớn, những khoảng cách lớn giữa chúng ta trên con
đường, trong cuộc hành trình, nhưng không có lỗ hổng nào giữa chúng ta tại
đích.
Đó là lí do tại sao phát biểu của Krishnamurti hấp
dẫn mọi người, nhưng nó lại nguy hiểm bởi vì ông ấy nói tất cả chúng ta đều
bình đẳng ngay cả trên đường; rằng không ai là thầy và không ai là đệ tử, rằng
không ai ở trước, không ai ở sau. Điều này là đúng tại đích, nhưng không đúng
chút nào trên đường. Và người tin rằng tất cả chúng ta đều bình đẳng trong khi
đang trên đường sẽ không bao giờ đạt tới đích.
Khi hiền nhân này nói: Về điều này, không có hoài
nghi, đấy chỉ là phát biểu khiêm tốn về bản thân ông ấy. Điều ông ấy ngụ ý là ở
chỗ ông ấy không nói như vậy qua một quá trình suy nghĩ về nó mà qua việc biết.
Và nó còn có nghĩa theo một cách nữa: bởi vì chúng ta đang sống trong nghi ngờ,
trong hoài nghi.
Như tôi đã nói với bạn... con chim mới nở từ trứng
cố gắng chỉ vẫy cánh đậu bên ngoài tổ, nhưng không có đủ dũng cảm để bay bởi vì
nó chưa bao giờ bay cả. Nó không có ý tưởng rằng đôi cánh này là để bay. Nó
cũng không tự tin bởi vì đôi cánh của nó còn bé thế, mà bầu trời bao la thế.
Làm sao chúng có ích trong bầu trời bao la này? Và làm sao tin cậy nảy sinh với
cái không quen thuộc, cái không biết, con đường chưa ai đặt chân tới, bầu trời
bao la mà trong đó người ta chưa bao giờ bay cả? Thấy con chim nào đó khác đang
bay, ngay cả thế tin cậy vẫn không nảy sinh rằng "Mình cũng có thể
bay," bởi vì không nhất thiết là người ta có thể làm được điều người khác
làm.
Nhưng nếu con chim khác có thể nói với con chim này,
“Tôi cũng đã trải qua pha này rồi. Một hôm nào đó, đậu ngoài tổ mình, tôi cũng
đã lo nghĩ. Tôi cũng đã không có khả năng tin cậy vào đôi cánh của mình là tôi
có thể bay trên bầu trời, bởi vì tôi không có kinh nghiệm trước. Nhưng bây giờ
tôi có thể bảo bạn từ kinh nghiệm của tôi rằng không có hoài nghi về nó; mặc
dầu bạn có đôi cánh tí hon, bầu trời này được tạo ra cho đôi cánh của bạn và
bạn có thể bay. Cánh của bạn là đủ lớn, thậm chí toàn bộ bầu trời này còn quá
nhỏ cho chúng. Bạn có thể bay - điều này vượt ra ngoài hoài nghi. Tôi nói điều
đó từ kinh nghiệm riêng của mình.”
Kinh nghiệm nghĩa là người ta đã biết cả hai tình
huống, bằng không nó sẽ không là kinh nghiệm. Người đã biết tình huống thứ nhất
mà trong đó con chim nhỏ bé hôm nay, vẫy đôi cánh mình, không thể thu được can
đảm, và người cũng biết tình huống thứ hai, kinh nghiệm về việc bay trên bầu
trời, điều này người ta có thể nói với con chim này, “Đừng sợ, nhảy đi!”
Về điều này, không có hoài nghi.
Tuyên bố này là có ích. Tuyên ngôn này không có
nghĩa điều Krishnamurti chắc chắn phải tính tới nó để ngụ ý - ý nghĩa đó cũng
dúng, nhưng không nhất thiết là như vậy. Nó không có nghĩa là con chim kia đang
cố gắng tạo ra thẩm quyền của mình và thúc ép các con chim khác phải tin vào
điều nó nói. Nó không có nghĩa là con chim kia đang cố gắng trở thành thầy và
làm cho con chim nhỏ này thành đệ tử. Không, không có điều đó. Vâng, điều đó có
thể là như vậy, nhưng điều đó không phải là không tránh được. Con chim lớn đơn
giản nói với con chim nhỏ hãy nhìn vào mình, rằng điều nó đang nói không chỉ là
vô căn cứ, rằng nó đang nói điều đó sau khi biết nó. "Nếu bạn cũng có khả năng
nhìn tôi và biết tôi, thế thì tin cậy này có thể trở thành tiêm nhiễm và cho
sinh thành tự tin trong bạn nữa."
Thầy trở thành điều phiền hà, cản trở cho bạn khi
ông ấy yêu cầu bạn tin cậy vào ông ấy; thầy trở nên có ích khi ông ấy làm nảy
sinh tin cậy của bạn vào cái ta riêng của bạn. Trong cả hai tình huống này, một
tuyên bố rằng không có hoài nghi về điều đó là bản chất.
Xem tiếp Chương 17 - Quay về Mục lục
Chương 16: Bên ngoài tất cả - nhân chứng
4/
5
Oleh
John Nguyen
