Osho
- Nhạc cổ trong rặng thông
Chương
8. Sống, chết và yêu
Câu hỏi thứ nhất:
Thầy có thể nói về việc đối diện với
cái chết của từng khoảnh khắc và việc buông bỏ không?
Chết đã xảy
ra rồi. Dù bạn có đối diện với nó hay không, dù bạn có nhìn vào nó hay không,
nó đã có đó rồi.
Nó cũng hệt
như việc thở vậy. Khi một đứa trẻ được sinh ra, nó hít vào, nó thở vào lần đầu
tiên. Đó là bắt đầu của sống. Và khi một ngày nào đó tới nó trở nên già cả, chết
đi, nó sẽ thở ra.
Chết bao giờ
cũng xảy ra với thở ra và sinh với hít vào. Nhưng thở ra và hít vào đang xảy ra
liên tục: với mỗi lần hít vào bạn được sinh ra, với mỗi lần thở ra bạn chết đi.
Cho nên điều
đầu tiên phải hiểu là ở chỗ chết không ở đâu đó trong tương lai đang chờ đợi bạn,
như nó bao giờ cũng được hình dung. Nó là một phần của sống, nó là quá trình
đang tiếp diễn - không trong tương lai; ở đây, bây giờ. Sống và chết là hai
khía cạnh của sự tồn tại, đồng thời xảy ra với nhau.
Thông thường,
bạn đã được dạy nghĩ về chết như chống lại sống. Chết không chống lại sống. Sống
không thể có nếu không có chết, chết là chính nền tảng mà trên đó sống tồn tại.
Chết và sống giống như hai cánh: chim không thể bay được với một cánh, và sống
không thể có mà thiếu chết. Cho nên điều đầu tiên là hiểu rõ ràng chúng ta ngụ
ý chết là gì.
Chết là quá
trình tuyệt đối cần thiết cho sống hiện hữu. Nó không phải là kẻ thù, nó là bầu
bạn, và nó không có ở nơi nào đó trong tương lai, nó là ở đây, bây giờ. Nó
không định xảy ra, nó bao giờ cũng đang xảy ra. Vì bạn đã ở đây nên nó có với bạn.
Với mỗi lần thở ra thì nó xảy ra - cái chết nhỏ bé, cái chết tí hon - nhưng bởi
vì sợ mà chúng ta đã đẩy nó vào tương lai.
Tâm trí bao
giờ cũng cố gắng tránh những điều nó không thể hiểu được, và chết là một trong
những bí ẩn không được hiểu rõ nhất. Chỉ có ba bí ẩn: sống, chết và yêu. Và cả
ba điều này đều vượt ra ngoài tâm trí.
Cho nên tâm
trí coi sống là được cho không; thế thì chẳng cần truy tìm - đó là cách thức lẩn
tránh. Bạn chưa hề nghĩ, bạn chưa hề thiền về sống; bạn đơn giản chấp nhận nó,
coi nó như được cho không. Nó là bí ẩn cực kì. Bạn đang sống động, nhưng đừng
nghĩ rằng bạn đã biết sống.
Với chết, tâm
trí chơi trò khác: nó trì hoãn chết - bởi vì chấp nhận nó ở đây và bây giờ sẽ
là lo nghĩ thường xuyên. Cho nên tâm trí đẩy nó đi đâu đó trong tương lai, thế
thì chẳng vội gì: “Khi nào nó tới, chúng ta sẽ thấy.”
Và với yêu,
tâm trí đã tạo ra cái thay thế vốn không phải là yêu: đôi khi bạn gọi sở hữu của
mình là yêu, đôi khi bạn gọi gắn bó của mình là yêu, đôi khi bạn gọi chi phối của
mình là yêu. Những điều này đều là trò chơi bản ngã, yêu chẳng liên can gì tới
chúng cả. Trong thực tế, bởi vì những trò chơi này mà yêu là không thể được.
Giữa sống và
chết, giữa hai bờ của sống và chết, dòng sông yêu tuôn chảy. Và điều đó là có
thể chỉ đối với những người không coi cuộc sống là được cho không, người đi sâu
vào trong phẩm chất của việc sống động và trở thành sự tồn tại, chân thực.
Và tình yêu
là dành cho người chấp nhận cái chết ở đây và bây giờ và không trì hoãn nó. Thế
thì giữa hai điều này một hiện tượng đẹp nảy sinh - dòng sông tình yêu.
Sống và chết
giống như hai bờ. Khả năng có đó cho dòng sông yêu tuôn chảy, nhưng nó chỉ là
khả năng thôi. Bạn sẽ phải cụ thể hoá nó. Sống và chết có đó; nhưng tình yêu phải
được cụ thể hoá - đó là mục đích của việc là con người. Chừng nào mà tình yêu
còn chưa được cụ thể hoá, bạn đã bị lỡ - bạn đã lỡ toàn bộ vấn đề về sự hiện hữu.
Chết đã xảy
ra rồi - cho nên đừng đẩy nó vào tương lai. Nếu bạn không đẩy nó vào tương lai,
không có vấn đề về việc bảo vệ bản thân bạn; nếu nó đã xảy ra - và nó bao giờ
cũng đã xảy ra rồi - thế thì không có vấn đề về việc bảo vệ bản thân bạn chống
lại chết. Chết không giết bạn, nó vẫn đang xảy ra trong khi bạn vẫn còn sống.
Nó vẫn đang xảy ra ngay bây giờ và sống không bị phá huỷ bởi nó. Trong thực tế,
bởi vì nó mà sống tự làm mới bản thân mình vào từng khoảnh khắc; lá úa rụng xuống,
chúng có thể nhường chỗ cho lá mới nhú ra, hoa cũ biến mất, hoa mới xuất hiện.
Cánh cửa này đóng lại, cánh cửa khác mở ra. Từng khoảnh khắc bạn chết đi và từng
khoảnh khắc lại có phục sinh.
Có lần một
nhà truyền giáo Ki tô giáo tới tôi và người đó hỏi, “Thầy có tin vào phục sinh
của Jesus Christ không?”
Tôi bảo người
đó rằng không cần phải đi xa thế. Từng khoảnh khắc mọi người đều phục sinh.
Nhưng người đó không thể hiểu được. Điều đó là khó cho những người có quá nhiều
vấn đề trong ý thức hệ của mình.
Người đó nói,
“Nhưng thầy có tin rằng ông ấy bị đóng đinh không? Điều này có phải chỉ là huyền
thoại thôi không, hay nó là thực tại? Thầy nghĩ gì?”
Tôi lại nói với
người đó rằng mọi người đều bị đóng đinh vào mọi khoảnh khắc. Đó là toàn bộ ý
nghĩa của việc đóng đinh Jesus và phục sinh của ông ấy. Liệu đấy là sự kiện lịch
sử hay không cũng chẳng thành vấn đề chút nào. Nó đơn giản không liên quan tới
việc nghĩ liệu điều đó có xảy ra hay không - nó đang xảy ra.
Mỗi khoảnh khắc
quá khứ bị đóng đinh, lá úa biến mất. Và mỗi khoảnh khắc hiện hữu mới lại nảy
sinh trong bạn, phục sinh. Nó là phép màu thường xuyên.
Điều thứ hai
cần hiểu về chết là ở chỗ chết là điều chắc chắn duy nhất. Mọi thứ khác đều
không chắc chắn: nó có thể xảy ra, nó có thể không xảy ra. Chết là chắc chắn,
vì trong việc sinh ra, một nửa của nó đã xảy ra rồi, cho nên đầu kia phải ở đâu
đó, cực kia phải ở đâu đó trong bóng tối. Bạn vẫn còn chưa đi qua nó bởi vì bạn
sợ, bạn không đi vào trong bóng tối. Nhưng nó là chắc chắn! Với việc sinh, cái
chết đã trở thành điều chắc chắn.
Một khi chắc
chắn này xuyên thấu vào hiểu biết của bạn, bạn được thảnh thơi. Bất kì khi nào
một cái gì đó tuyệt đối chắc chắn, thế thì chẳng còn lo nghĩ nữa. Lo nghĩ nảy
sinh từ cái bất định.
Quan sát xem:
một người sắp chết và người đó lo nghĩ. Khoảnh khắc cái chết trở thành chắc chắn
và bác sĩ nói, “Bây giờ anh không thể được cứu nữa,” người đó bị choáng. Rùng
mình lan suốt con người người đó, nhưng thế rồi mọi sự lắng đọng lại, và ngay lập
tức tất cả mọi lo nghĩ biến mất. Nếu người này được phép biết rằng người đó sắp
chết và cái chết là chắc chắn, với cái chắc chắn đó, an bình, im lặng tới với
người đó.
Mọi người sắp
chết đều có quyền biết điều đó. Các bác sĩ che giấu nó nhiều lần, bằng việc
nghĩ, “Tại sao phải làm rối loạn làm gì?” Nhưng cái bất định mới gây rối loạn;
cái chắc chắn chẳng bao giờ gây rối loạn. Lơ lửng ở giữa, hiện hữu này trong
tình trạng lấp lửng, tự hỏi liệu người ta sẽ sống hay chết - đây là nguyên nhân
gốc rễ cho mọi lo nghĩ. Một khi đã chắc chắn rằng bạn sắp chết thế thì chẳng có
gì mà làm cả. Thế thì người ta đơn giản chấp nhận nó, và trong chấp nhận đó...
là bình lặng, là yên tĩnh. Cho nên nếu người này được phép biết rằng mình sắp
chết, trong khoảnh khắc chết người đó trở nên an bình.
Ở phương Đông
chúng ta đã thực hành điều đó từ hàng nghìn năm nay. Mà không chỉ có thế, ở nhiều
nước như Tây Tạng các kĩ thuật đặc biệt còn được phát triển để giúp cho người
chết. Họ gọi điều đó là bardo thodol. Khi một người sắp chết, bạn bè, họ hàng
và người thân sẽ tụ tập quanh người đó để nêu cho người đó điều tuyệt đối chắc
chắn rằng người đó sắp chết, và để giúp người đó thảnh thơi. Bởi vì nếu bạn có
thể chết trong thảnh thơi toàn bộ, phẩm chất của chết thay đổi. Sinh thành mới
của bạn ở đâu đó sẽ có phẩm chất cao hơn, bởi vì phẩm chất của sinh do chết quyết
định. Và thế rồi, đến lượt nó, sinh sẽ quyết định phẩm chất của cái chết khác.
Đó là cách thức người ta đi lên cao mãi, người ta tiến hoá. Và bất kì khi nào một
người trở thành tuyệt đối chắc chắn về cái chết, một ngọn lửa phát sinh trên
khuôn mặt người đó - bạn có thể thấy nó. Trong thực tế, phép màu xảy ra: người
đó trở thành sống động như người đó chưa hề như vậy trước đó.
Có một câu ngạn
ngữ Ấn Độ nói rằng trước khi ngọn lửa tắt đi, nó trở nên cực kì mạnh mẽ. Chỉ
trong một khoảnh khắc, nó bừng sáng tới độ toàn bộ.
Tôi đã đọc một
giai thoại nhỏ:
Ngày xưa có
hai con sâu nhỏ. Con thứ nhất lười nhác và không biết lo xa, bao giờ cũng nằm bẹp
trên giường dậy rất muộn. Con kia bao giờ cũng dậy sớm, đi làm. Con chim dậy sớm
bắt lấy con sâu dậy sớm. Thế rồi một người đánh cá với chiếc đèn nhấp nháy tới,
và bắt lấy con sâu dậy muộn.
Bài học đạo đức:
Bạn không thể thắng được.
Chết là chắc
chắn. Nó đã xảy ra, đó là lí do tại sao nó chắc chắn; nó đã xảy ra rồi, đó là
lí do tại sao nó chắc chắn. Cho nên tại sao đợi cho tới khoảnh khắc khi bạn chết
trên giường? Tại sao không làm cho nó là chắc chắn ngay bây giờ?
Quan sát đi.
Nếu tôi nói chết là chắc chắn, bạn không thể cảm thấy sợ hãi biến mất bên trong
bạn sao? Bạn không thể cảm thấy chính cái ý tưởng này - và nó chỉ là một ý tưởng
ngay bây giờ, không phải là kinh nghiệm của bạn - chỉ là một ý tưởng rằng cái
chết là chắc chắn và bạn thanh thản và yên bình. Nếu bạn có thể kinh nghiệm nó
- và bạn có thể đấy, bởi vì nó là sự kiện. Tôi không đang nói lí thuyết đâu,
tôi không buôn bán lí thuyết - đây là sự kiện đơn giản. Mở mắt ra và quan sát
nó. Và đừng cố gắng tránh nó, không có cách nào để tránh nó cả. Trong tránh né,
bạn bị lỡ. Chấp nhận nó, nắm lấy nó. Và sống với ý thức rằng từng khoảnh khắc bạn
đều chết đi và từng khoảnh khắc bạn lại sinh ra. Cho phép điều đó xảy ra. Đừng
níu bám lấy quá khứ - nó không còn nữa, nó đã mất rồi.
Tại sao mang
những thứ chết thế? Tại sao bị nặng gánh với những xác chết? Vứt chúng đi, và bạn
sẽ cảm thấy vô trọng lượng, bạn sẽ cảm thấy không nặng gánh.
Và một khi bạn
vứt bỏ quá khứ, tương lai cũng bị vứt bỏ theo cách riêng của nó, bởi vì tương
lai không là gì ngoài phóng chiếu của quá khứ. Trong quá khứ bạn đã có những
hoan lạc nào đó, bây giờ tâm trí phóng chiếu cùng những hoan lạc đó vào tương
lai. Trong quá khứ bạn có đau khổ nào đó, bây giờ tâm trí phóng chiếu một tương
lai trong đó đau khổ không được phép xảy ra. Đó chính là tương lai của bạn là
gì - tương lai của bạn còn có thể là cái gì khác nữa? Hoan lạc bạn đã tận hưởng
trong quá khứ, được phóng chiếu, khổ bị loại bỏ. Tương lai của bạn nhiều mầu sắc
hơn và là quá khứ đã được sửa đổi, tô vẽ, cải tiến, nhưng nó là quá khứ. Một
khi quá khứ bị vứt bỏ, bỗng nhiên tương lai cũng bị vứt bỏ - và thế thì bạn được
bỏ lại ở đây và bây giờ; bạn trong sự tồn tại, bạn là sự tồn tại, và điều đó là
cách duy nhất để hiện hữu. Tất cả các cái khác chỉ là né tránh cuộc sống. Và bạn
càng né tránh cuộc sống, bạn lại càng trở nên sợ chết.
Một người thực
sự sống thì không sợ chết theo bất kì cách nào. Nếu bạn đang sống đúng, bạn sẽ
được kết thúc với cái chết, bạn đã quá biết ơn, được hoàn thành. Nhưng nếu bạn
không sống, thế thì lo nghĩ thường xuyên tiếp tục, “Mình vẫn còn chưa sống mà
cái chết tới. Và cái chết sẽ chấm dứt tất cả và với cái chết sẽ không có tương
lai nữa.” Cho nên người ta trở thành e dè, sợ hãi, và cố gắng tránh cái chết.
Trong khi cố
gắng điều đó, trong né tránh chết, người ta bỏ lỡ sống. Quên né tránh đó đi. Sống
cuộc sống. Trong sống cuộc sống, cái chết bị tránh xa. Trong sống cuộc sống, bạn
trở thành được thoả mãn đến mức nếu chính khoảnh khắc này cái chết tới và tương
lai dừng lại, bạn sẽ sẵn sàng. Bạn sẽ sẵn sàng một cách hạnh phúc. Bạn đã sống
cuộc sống của mình, bạn đã sung sướng trong sự tồn tại, bạn có thể mở hội nó, bạn
được mãn nguyện. Không phàn nàn, không càu nhàu; bạn không có ác cảm nào. Bạn
đón chào cái chết. Và chừng nào bạn chưa thể đón chào cái chết, một điều là chắc
chắn - bạn đã không sống.
Tôi đã từng
nghe một giai thoại:
Hai nhà quí tộc
Hungari rơi vào một cuộc cãi lộn chí tử. Nhưng vì cả hai đều lo âu không dám liều
mạng bằng gươm hay súng, nên một cuộc tranh chấp không đổ máu đã được quyết định
thực hiện. Mỗi người đều phải nói ra một con số, và người đưa ra số cao hơn sẽ
được phân xử là người thắng.
Giây phút tất
nhiên trong tay, và điều kích động cùng nỗi hồi hộp đều lên cực điểm khi hai
nhà quí tộc, ngồi đối diện tại hai đầu bàn dài, cúi mình vào công việc nghĩ một
số cao hơn. Bên bị thách thức có đặc quyền đi trước đưa ra con số dù lâu và
gian khó. Các mạch máu thái dương người đó nổi hằn lên và mồ hôi toát ra đầy
trán.
“Ba,” cuối
cùng người đó nói.
Người đua
tranh kia nói ngay, “Được, điều đó hơn tôi rồi.”
Khi bạn sợ chết
thậm chí số ba cũng là số tối thượng. Khi bạn sợ chết, bạn tìm cớ để tiếp tục sống.
Dù cuộc sống của bạn có ý nghĩa gì hay không, người ta đơn giản đi tìm cái cái
cớ để kéo dài nó.
Tại phương
Tây bây giờ, có trào lưu kéo dài cuộc sống. Điều đó đơn giản chỉ ra rằng ở đâu
đó cuộc sống đang bị lỡ. Bất ki khi nào một quốc gia hay một nền văn hoá bắt đầu
nghĩ về cách kéo dài cuộc sống, điều đó đơn giản chỉ ra một việc, rằng cuộc sống
vẫn chưa được sống. Nếu bạn sống cuộc sống, thế thì cho dù chỉ một khoảnh khắc
cũng đủ. Một khoảnh khắc có thể bằng với vĩnh hằng. Vấn đề không phải ở chiều
dài, vấn đề là ở chiều sâu; vấn đề không phải ở số lượng, nó là vấn đề chất lượng.
Nghĩ xem: bạn
muốn như một khoảnh khắc của cuộc sống Phật hay bạn muốn hàng nghìn năm cuộc sống
của riêng mình? Thế thì bạn sẽ có khả năng hiểu điều tôi ngụ ý về phẩm chất, sự
mãnh liệt, chiều sâu. Trong một khoảnh khắc của hoàn thành là có thể, bạn có thể
ra hoa và nở hoa: nhưng bạn không thể nở hoa trong một nghìn năm, và bạn có thể
vẫn còn bị che giấu trong hạt mầm.
Đây là khác
biệt giữa thái độ khoa học hướng tới cuộc sống và thái độ tôn giáo. Thái độ
khoa học quan tâm tới việc kéo dài - cách thức kéo dài cuộc sống. Nó không quan
tâm tới ý nghĩa. Cho nên bạn có thể thấy người già trong bệnh viện, đặc biệt là
ở phương Tây, chỉ treo ở đó. Họ muốn chết nhưng nền văn hoá sẽ không cho phép.
Họ đã phát ngán với việc sống; họ đơn giản sống vô vị - không ý nghĩa gì, không
nghĩa lí gì, không thơ ca; mọi thứ đều đã biến mất, và họ là gánh nặng cho
chính mình. Họ đang yêu cầu được chết không đau đớn nhưng xã hội không cho phép
điều đó. Xã hội sợ chết đến mức nó không cho phép thậm chí với cả những người
đã sẵn sàng chết.
Chính từ ‘chết’
là một từ kiêng kị, còn kiêng kị hơn cả dục. Dục đã dần dần trở nên gần như được
chấp nhận. Bây giờ chết cũng cần tới một Freud để làm cho nó được chấp nhận, để
cho nó không còn là điều cấm kị nữa và mọi người có thể nói về nó và mọi người
có thể chia sẻ kinh nghiệm của họ về nó. Và thế thì không cần phải che giấu nó
và không có nhu cầu phải buộc mọi người sống ngược với bản thân mình. Trong bệnh
viện, ở nhà dưỡng lão, mọi người đơn giản sống lơ lửng bởi vì xã hội, vì văn
hoá, luật pháp sẽ không cho phép họ chết. Và nếu họ yêu cầu rằng họ nên được
cho phép chết, điều đó có vẻ như họ đang yêu cầu được tự tử. Họ không yêu cầu tự
tử. Trong thực tế, họ đã trở thành những cái xác chết; họ là người tự tử sống
và họ đang yêu cầu được gạt bỏ nó. Bởi vì sống lâu không có ý nghĩa. Bạn sống
bao lâu không phải là vấn đề! Bạn sống sâu sắc như thế nào, bạn sống mãnh liệt
như thế nào, bạn sống toàn bộ như thế nào, phẩm chất...
Khoa học quan
tâm tới số lượng; tôn giáo quan tâm tới chất lượng. Tôn giáo quan tâm tới nghệ
thuật của cách sống cuộc sống và cách chết cuộc sống. Bẩy năm, bẩy mươi năm hay
bẩy trăm năm - điều đó có gì khác biệt? Bạn sẽ lặp đi lặp lại mãi cùng cái vòng
luẩn quẩn ấy. Bạn sẽ đơn giản ngày càng chán hơn.
Cho nên thay
đổi sự tập trung của con người bạn đi. Học cách sống từng khoảnh khắc và học
cách chết từng khoảnh khắc, bởi vì cả hai đi đôi với nhau. Nếu bạn biết cách chết
từng khoảnh khắc, bạn sẽ có thể sống từng khoảnh khắc - tươi tắn, trẻ trung,
trong trắng. Chết đi quá khứ. Đừng cho phép nó can thiệp vào hiện tại của bạn.
Khoảnh khắc mà bạn đã đi ra khỏi nó, để nó không còn có đó nữa. Nó không còn có
đó; nó đi vào trong kí ức của bạn, nó chỉ còn là nhớ lại. Để việc nhớ này cũng
được thả ra. Không nên cho phép treo lơ lửng về mặt tâm lí này.
Tôi không nói
rằng bạn phải quên đi mọi điều bạn biết. Tôi không nói rằng tất cả kí ức đều xấu.
Nó có ích lợi kĩ thuật. Bạn phải biết cách lái xe, bạn phải biết nhà mình ở
đâu, bạn phải nhận ra vợ con mình. Nhưng những điều đó không phải là treo lơ lửng
về mặt tâm lí. Khi bạn về nhà tất nhiên bạn nhận ra rằng đây là vợ bạn. Đây là
trí nhớ thực sự - có ích, nâng cao cuộc sống, làm thuận tiện cho nó. Nhưng nếu
bạn về nhà và bạn nhìn vợ với tất cả những kinh nghiệm quá khứ với cô ấy, thế
thì đó là treo lơ lửng về tâm lí. Hôm qua cô ấy giận... bây giờ lần nữa bạn
nhìn với kí ức đó len vào giữa; mắt bạn bị che phủ bởi kí ức đó. Hôm kia cô ấy
buồn rầu và cáu kỉnh - bây giờ nếu bạn nhìn qua tất cả những ấn tượng tâm lí
này, thế thì bạn đang không nhìn vào người phụ nữ này, người đang đứng trước bạn
ngay bây giờ. Bạn đang nhìn vào ai đó không có đó, bạn đang thấy ai đó không tồn
tại. Bạn đang nhìn vào bóng ma - cô ấy không phải là vợ bạn. Và cô ấy cũng có
thể nhìn vào bạn theo cùng cách đó.
Cho nên ma gặp
nhau, và các thực tại vẫn còn tách biệt: ma lấy nhau, còn thực tại li dị. Thế
thì hai con ma này sẽ làm tình, hai con ma này sẽ đánh nhau, cãi nhau, và làm cả
nghìn lẻ một thứ, còn các thực tại sẽ ở xa, rất xa xôi. Sẽ không có tiếp xúc;
các thực tại sẽ không có mối nối nào. Và thế thì không thể có trao đổi, không
thể có đối thoại. Chỉ các thực tại mới có thể yêu. Ma chỉ có thể làm những cử
chỉ bất lực, những chuyển động, nhưng không có cuộc sống trong chúng.
Vứt quá khứ từng
khoảnh khắc đi. Nhớ vứt bỏ nó. Giống như bạn lau nhà mỗi sáng, mọi khoảnh khắc
lau sạch ngôi nhà bên trong của mình khỏi quá khứ. Tất cả các kí ức tâm lí đều
phải bị loại bỏ. Chỉ giữ lại những điều thực sự và tâm trí bạn sẽ rất, rất sạch
sẽ và trong trẻo.
Đừng đi trước
bản thân mình vào trong tương lai bởi vì điều đó không có khả năng làm được.
Tương lai vẫn còn chưa biết; đó là cái đẹp của nó, đó là cái hùng vĩ, cái huy
hoàng của nó. Nếu nó trở nên được biết tới, nó sẽ thành vô ích bởi vì thế thì
toàn bộ phấn chấn và toàn bộ ngạc nhiên sẽ bị mất.
Đừng mong đợi
điều gì trong tương lai. Đừng làm biến chất nó. Bởi vì tất cả những mong đợi của
bạn, nếu được đáp ứng, thế nữa sẽ làm cho bạn khổ... bởi vì nó là mong đợi của
bạn và nó đã được đáp ứng. Bạn sẽ không hạnh phúc về nó. Hạnh phúc là có thể chỉ
thông qua ngạc nhiên, hạnh phúc là có thể chỉ khi cái gì đó xảy ra mà bạn chưa
bao giờ mong đợi, khi cái gì đó chiếm giữ hoàn toàn không nhận biết của bạn. Nếu
mong đợi của bạn được đáp ứng một trăm phần trăm, bạn sẽ sống dường như là bạn
đang trong quá khứ, không trong tương lai. Bạn về nhà và bạn mong đợi vợ mình
nói điều gì đó và cô ấy làm, rồi bạn mong đợi con bạn đối xử theo cách nào đó
và đứa trẻ làm như vậy. Nghĩ mà xem - bạn sẽ thường xuyên thấy chán. Chẳng có
gì xảy ra cả. Mọi thứ sẽ chỉ là lặp lại, dường như bạn thấy cái gì đó mà bạn đã
thấy trước đây, nghe cái gì đó mà bạn đã nghe trước đây. Liên tục như thế bạn sẽ
thấy rằng đấy là lặp lại cái gì đó và lặp lại chẳng bao giờ có thể thoả mãn cả.
Cái mới, cái lạ, cái nguyên bản là cần thiết.
Cho nên nếu
mong đợi của bạn được đáp ứng, bạn sẽ vẫn còn hoàn toàn không được đáp ứng. Và
nếu mong đợi của bạn không được đáp ứng thế thì bạn cảm thấy thất vọng. Thế thì
bạn thường xuyên cảm thấy dường như bạn đề nghị và Thượng đế có ý riêng, bạn cảm
thấy rằng Thượng đế là kẻ thù, bạn cảm thấy dường như mọi người đều chống lại bạn
và mọi người đều làm việc chống lại bạn. Mong đợi của bạn chẳng bao giờ được
đáp ứng, bạn cảm thấy thất vọng.
Thiền về mong
đợi đó đi: nếu chúng được đáp ứng, bạn sẽ cảm thấy chán, nếu chúng không được
đáp ứng bạn sẽ cảm thấy mình bị lừa, dường như âm mưu đang diễn ra để chống lại
bạn, dường như toàn bộ sự tồn tại đang mưu đồ chống lại bạn. Bạn sẽ cảm thấy bị
khai thác, bạn sẽ cảm thấy bị bác bỏ, bạn sẽ không thể nào cảm thấy như ở nhà.
Và toàn bộ vấn đề nảy sinh bởi vì bạn mong đợi.
Đừng đi trước
tương lai. Loại bỏ các mong đợi.
Một khi bạn
loại bỏ mong đợi, bạn đã học được cách sống. Thế thì mọi điều xảy ra đều đáp ứng
cho bạn - dù nó là bất kì cái gì. Với điều này bạn chẳng bao giờ cảm thấy thất
vọng bởi vì ngay chỗ đầu tiên bạn không hề mong đợi, cho nên thất vọng là điều
không thể có. Thất vọng là cái bóng của mong đợi. Với mong đợi bị loại bỏ, thất
vọng cũng bị loại bỏ theo cách riêng của nó.
Bạn không thể
làm tôi thất vọng được, vì tôi chẳng bao giờ mong đợi điều gì. Dù bạn làm bất
kì cái gì, tôi sẽ nói “Tốt.” Tôi bao giờ cũng nói “Tốt,” ngoại trừ có đôi lần
khi tôi nói “Rất tốt!”
Một khi mong
đợi không có đó, bạn được tự do - để đi vào trong cái chưa biết và chấp nhận
cái chưa biết, bất kì cái gì nó đem lại, và chấp nhận nó với lòng biết ơn sâu sắc.
Phàn nàn biến mất, càu nhàu biến mất. Dù bất kì tình huống nào, bạn bao giờ
cũng cảm thấy chấp nhận, như ở nhà. Không ai chống lại bạn; sự tồn tại không phải
là âm mưu chống lại bạn. Nó là nhà của bạn.
Điều thứ hai:
thế thì mọi thứ xảy ra không mong đợi trước được, mọi thứ trở thành mới. Nó đem
tươi mát cho cuộc sống của bạn; làn gió mát liên tục thổi qua và nó không cho
phép bụi bặm tụ lên bạn. Cửa ra vào và cửa sổ của bạn đều mở: ánh sáng mặt trời
chiếu vào, gió thoảng kéo vào, hương thơm của hoa đưa vào - và mọi thứ đều
không mong đợi được. Bạn chưa bao giờ yêu cầu về nó, mà sự tồn tại cứ mưa rào lên bạn. Người ta cảm thấy sự sùng
kính hiện hữu.
Mệnh đề ‘Thượng
đế hiện hữu’, không phải là một mệnh đề; nó là tuyên bố của ai đó, người đã sống
một cách không mong đợi, không bất kì mong đợi nào, người đã sống trong ngạc
nhiên. Thượng đế không phải là một giả thiết logic; đấy là lời tán thưởng về niềm
vui. Nó cũng giống như, “A ha!” Và nó không có nghĩa điều gì nữa, nó đơn giản
nghĩa là, “A ha!”... đẹp thế, kì diệu thế, mới thế, lạ thế, và bên ngoài bất kì
cái gì mà bạn có thể đã mơ. Vâng, cuộc sống còn phiêu lưu hơn bất kì cuộc phiêu
lưu nào mà bạn có thể tưởng tượng ra. Và cuộc sống là thai nghén, bao giờ cũng
thai nghén cái chưa biết.
Một khi bạn
mong đợi, mọi thứ bị phá huỷ. Loại bỏ quá khứ; đó là cách chết đi từng khoảnh
khắc. Đừng bao giờ lập kế hoạch cho tương lai; đó là cách cho phép cuộc sống
tuôn chảy qua bạn. Và thế thì bạn vẫn còn trong trạng thái không đông đặc, tuôn
chảy. Đây là điều tôi gọi cho sannyasin - không quá khứ, không tương lai, chỉ tại
khoảnh khắc này sống động, sống động mãnh liệt, ngọn lửa bùng cháy từ cả hai đầu,
bó đuốc bùng cháy từ cả hai đầu. Và điều này chính là buông bỏ là gì.
Câu hỏi thứ
hai:
Mới thời gian
ngắn trước đây tôi nghe Thầy nói rằng Thầy thấy bản thân mình đang đứng trong
bãi chợ với một chai rượu trong tay. Hôm nay tôi đã bị từ chối vào buổi darshan
vì trong hơi thở tôi có rượu.
Điều này là từ
Vedanta.
Điều tôi nói
và điều bạn nghe thấy không nhất thiết là một. Rượu tôi là rượu của tôi, rượu bạn
là rượu của bạn. Khi tôi nói về rượu, tôi không nói về rượu của bạn. Tôi đang
nói về rượu của chư phật. Vâng, họ đang say - say với điều thiêng liêng.
Nhưng tôi có
thể hiểu được. Bạn nghe điều mà bạn muốn nghe. Bạn không nghe tôi, bạn thao
túng. Bạn xoay xở để nghe bất kì điều gì bạn muốn nghe. Vô thức của bạn can thiệp
vào, nó làm bạn lẫn lộn. Vâng, tôi đã nói rằng tôi ở bãi chợ và không chỉ trong
bãi chợ, mà với một cái chai trong tay. Đây là một câu ngạn ngữ thiền cổ.
Thiền nói rằng
người mà cuối cùng đã hiểu bản thân mình, quay trở lại với thế giới - và trở lại
hoàn toàn say sưa. Nhưng tại sao cái chai trong tay? Ý nghĩa là rõ ràng. Người
đó không chỉ say, người đó còn có cái gì đó để đem biếu bạn nữa. Đó là ý nghĩa
của cái chai trong tay. Nếu bạn sẵn sàng, người đó có thể làm cho cả bạn cũng
say nữa - người đó có cái gì đó đem biếu bạn. Không chỉ là việc người đó say,
người đó có thể chia sẻ men say của mình với bạn. Do đó mới có cái chai. Người
đó có lời mời cho bạn.
Đó là lí do tại
sao người đó đã tới bãi chợ. Bạn đến bãi chợ để kiếm cái gì đó, người đó tới
bãi chợ để cho cái gì đó. Người đó đã tìm thấy cái gì đó, và việc tìm thấy này
là cái mà phải được chia sẻ. Chia sẻ là bản chất cố hữu của nó. Bạn không thể
giữ phúc lạc cho bản thân mình - cũng dường như đoá hoa cố gắng giữ hương thơm
của nó cho chính nó hay ngôi sao cố gắng giữ ánh sáng của nó cho chính nó. Điều
đó là không thể được. Khi có ánh sáng, nó lan toả, nó đi tới người khác, nó
giúp ngay cả những người không được chuẩn bị để nhận sự giúp đỡ của nó. Hương
thơm phát tán trong gió cho bạn bè và cho cả kẻ thù như nhau.
Khi một người
đã đạt tới, người đó phải chia sẻ. Không phải là người đó phải làm điều gì đó để
chia sẻ nó; người đó đơn giản thấy bản thân mình đang chia sẻ - người đó không
thể làm khác được. Người đó đi tới bãi chợ nơi có mọi người. Nơi mọi người đang
loạng choạng trong bóng tối, người đó đem ánh sáng của mình tới cho họ; nơi mọi
người đang khát, người đó đem men say của riêng mình ra chia sẻ với họ.
Vâng, tôi
đang say và tôi có cái chai trong tay - bạn không thể thấy được nó sao? Nhưng đấy
không phải là cái chai của bạn. Mọi người đều có khuynh hướng vô ý thức để nghe
điều gì đó không được nói ra.
Tôi đã nghe một
giai thoại:
Một người đàn
bà nguyên thuỷ chạy tới chồng mình trong khuấy động lớn nhất.
“Wok ơi!” cô ấy
kêu lên. “Cái gì đó khủng khiếp vừa mới xảy ra. Một con hổ răng kiếm vừa mới
chui vào chỗ mẹ em và mẹ còn ở đó. Làm
điều gì đó đi! Làm điều gì đó đi!”
Wok nhìn lên
chiếc cẳng voi ma mút mà anh ta vừa gặm và nói, “Sao tôi lại phải làm điều gì
đó? Tôi là cái quái gì mà lo chuyện xảy ra cho con hổ răng kiếm đây?”
Không nhất
thiết là bạn nghe điều được nói. Vô thức của bạn liên tục tô mầu bất kì cái gì
bạn nghe thấy; nó liên tục diễn giải theo cách riêng của nó. Lời nói có thể là
một, nhưng một cái xốc nhẹ đem cho ý nghĩa, một bước chuyển nhẹ, và mọi sự thay
đổi.
Sau mười năm
lấy nhau, một người đàn ông liên tục tới tư vấn luật sư hôn nhân.
“Khi tôi lấy
vợ lần đầu,” người đó nói, “tôi đã rất hạnh phúc. Khi tôi về nhà ban đêm, con
chó nhỏ của tôi sẽ chạy ra sủa, còn vợ tôi sẽ đem cho tôi chiếc dép. Bây giờ,
sau ngần ấy năm, khi tôi về nhà, con chó của tôi đem cho tôi đôi dép, còn vợ
tôi sủa vào tôi.”
“Có gì mà phải
phàn nàn?” luật sư nói, “anh vẫn nhận được cùng sự phục vụ đấy thôi!”
Vâng, phục vụ vẫn thế, nhưng mà lại không thế. Bạn có thể
nghe lời tôi và bạn có thể nghĩ ý nghĩa là một - nhưng không phải vậy. Cho nên
xin lưu tâm. Xem xét lời tôi thật cẩn thận; chúng là tinh tế. Và trước khi bạn
quyết định chúng có ý nghĩa gì, đừng vội vã - thiền đã. Nếu không, bạn không chỉ
bị lỡ, bạn có thể còn hiểu nhầm, và không chỉ lời tôi không thể giúp được bạn,
chúng có thể còn có hại nữa.
Câu hỏi thứ
ba:
Liệu có khả
năng cho chính khách chứng ngộ không?
Chưa hề nghe
nói về điều đó. Điều đó chưa bao giờ xảy ra. Có những vấn đề rất bản chất.
Chính chiều hướng mà các chính khách đi là ngược lại với chứng ngộ.
Đôi điều cần
phải được hiểu. Chính trị là hiện tượng đối lập hẳn với tôn giáo. Nhà khoa học
có thể dễ dàng trở nên tôn giáo; cách tiếp cận của người đó là khác nhưng không
đối lập. Người đó có thể đã làm việc với vật chất, với thế giới khách quan,
nhưng việc làm việc của người đó là một loại thiền. Người đó cần không gian nào
đó trong tâm thức của mình, không gian im lặng, để làm việc và để khám phá.
Không phải khó lắm để chuyển từ đối thể sang chủ thể bởi vì cùng không gian ấy
có thể được dùng cho cuộc hành trình bên trong.
Nhà thơ có thể
rất dễ dàng trở nên tôn giáo - người đó rất gần, rất, rất gần gũi, hầu như ở
lân cận. Hoạ sĩ hay nhà điêu khắc có thế rất dễ dàng trở nên tôn giáo; họ đã là
tôn giáo rồi, một cách vô tình. Họ đã là những người tôn thờ mặc dầu họ còn
chưa tôn thờ. Họ có thể không nghĩ về Thượng đế, họ có thể không có ý thức là
tôn giáo chút nào, họ có thể không quan tâm tới Kinh thánh, Koran và Gita -
nhưng đấy không phải là vấn đề. Hoạ sĩ thấy cái gì đó thiêng liêng trong tự
nhiên: mầu sắc là thiêng liêng đối với người đó. Nhà thơ cảm thấy cái gì đó của
lãng mạn tôn giáo tất cả xung quanh. Tất cả các nghệ thuật sáng tạo đều có quan
hệ rất gần gũi - bất kì khoảnh khắc nào tâm thức cũng có thể bừng lên, bất kì
tia sáng nào cũng có thể trở thành chuyển biến.
Nhưng chính
khách đi theo hướng đối lập hoàn toàn. Toàn bộ ước định của người đó là chống lại
tôn giáo.
Tôi đã nghe một
giai thoại:
Một nghị sĩ
quốc hội vừa có bài nói khuấy động chống lại một dự luật gây tranh cãi. Ông ta
bị chìm ngập trong hàng núi thư ở nhà vì các cử tri viết lên án quan điểm của
ông ấy. Hôm sau ông ấy lui bước trong nghị viện, lần này lại làm một bài phát
biểu ủng hộ cho dự luật. Khi ông ấy kết thúc, một nghị sĩ chặn ông ấy lại.
“Hôm qua,”
ông nghị này nói, “ông đã đưa ra lời giải thích hùng biện về các nguyên tắc lấy
làm động cơ cho quan điểm của ông. Tôi tự hỏi, điều gì đã xảy ra làm thay đổi
tâm trí ông vậy?”
“Một ngày nào
đó,” nghị sĩ này nói, “ông sẽ hiểu ra rằng sẽ đến một thời điểm trong cuộc sống
của mọi người khi người đó phải vượt lên trên các nguyên tắc đơn thuần.”
Chính khách
là kẻ cơ hội; trong thực tế ông ta chẳng có nguyên tắc nào cả. Ông ta nói về
nguyên tắc, nhưng chính khách không có nguyên tắc. Ông ta giả vờ rằng ông ta có
nguyên tắc, nhưng nếu ông ta là chính khách xứng đáng với cái tên này thì ông
ta không thể có bất kì nguyên tắc nào cả. Nguyên tắc đó chỉ để lừa phỉnh mọi
người. Ông ta đang trong trò bản ngã. Ông ta dùng tất cả các loại nguyên tắc.
Tôi đã nghe
nói về một chính khách. Trong chiến dịch bầu cử ông ấy đã nói trong khu vực bầu
cử của mình và có tranh luận rất sôi nổi về điều cấm đoán: về việc liệu nên cấm
rượu toàn bộ hay không. Khi ông ta nói, một người đứng dậy và hỏi, “Quan điểm của
ông về cấm đoán là gì?”
Bây giờ ông
ta trở nên đôi chút run rẩy bởi vì một nửa dân chúng ủng hộ điều đó và một nửa
chống lại điều đó. Và ông ta có thể thấy rằng một nửa đám đông này đang ủng hộ
nó và nửa đám đông đang chống lại nó. Nếu ông ấy nói có, thế thì được một nửa,
nếu ông ấy nói không, cũng một nửa. Thực sự là khó khăn. Ông ta trong thế tiến
thoái lưỡng nan.
Và thế rồi
ông ấy nói, “Tất cả các bạn đều là bạn của tôi. Xin hãy giơ tay lên tất cả những
người ủng hộ và những người phản đối.” Một nửa những người giơ tay để ủng hộ,
và một nửa phản đối.
Thế rồi ông
ta nói, ‘Tốt. Tôi cùng ý với các bạn, tôi tất cả đều vì các bạn. Các bạn tất cả
đều là bạn tôi và tôi ủng hộ các bạn.”
Bây giờ ông
ta chẳng nói có mà cũng chẳng nói không.
Sai lầm là của
bản ngã: làm sao trở nên mạnh mẽ hơn, làm sao kiểm soát người khác. Tôn giáo
chính là cái đối lập lại. Nó không theo bất kì con đường nào của trò bản ngã -
người ta phải làm mất bản ngã của mình. Và người ta không cố gắng có uy quyền lớn,
trong thực tế, người ta cố gắng để hiểu toàn bộ cái vô ích của việc bộ phận chống
lại toàn thể. Người ta học cách buông xuôi, không học cách chinh phục; và người
ta không bận tâm tới người khác, người ta quan tâm toàn bộ tới bản thân mình. Nếu
điều này là có thể, rằng, “Tôi có thể trở nên nhận biết về bản thể riêng của
mình” - cũng đủ, quá đủ là đằng khác.
Chính khách bận
tâm tới thế giới bên ngoài, ông ta là hướng ngoại. Người tôn giáo là người hướng
nội. Người đó không quan tâm tới mọi vật, với thế giới, với tình huống; người
đó quan tâm tới phẩm chất của tâm thức mình. Người tôn giáo cố gắng tìm cách để
được đáp ứng; chính khách cố gắng để chỉ ra cho thế giới rằng ông ta là ai đó.
Ông ta không thể nào được đáp ứng nhưng ông ta giả vờ rằng mình được đáp ứng;
chính khách đã chọn giả vờ, đạo đức giả. Ông ta đơn giản muốn toàn bộ thế giới
biết rằng ông ta là ai đó; đặc biệt, phi thường, rất hạnh phúc. Sâu bên trong
ông ta có thể mang địa ngục nhưng ông ta tin rằng nếu ông ta có thể lừa mọi người
khác, ông ta sẽ có khả năng lừa bản thân mình.
Mơ đó chẳng
bao giờ được hoàn thành. Bạn có thể lừa mọi người khác bằng mỉm nụ cười giả dối,
nhưng làm sao bạn có thể lừa bản thân mình? Sâu bên dưới bạn biết rằng mọi thứ
đang nguội lạnh và chết; sâu bên dưới bạn biết rằng mọi thứ là trống rỗng, vô dụng.
Nhưng người ta cứ nghĩ, “Nếu mình có thể thuyết phục mọi người khác rằng mình
là ai đó, thế thì bằng cách nào đó mình sẽ có khả năng thuyết phục chính mình rằng
mình là ai đó.”
Chính khách
là kẻ nói dối. Ông ta cố gắng dối trá - với bản thân mình và với toàn thế giới.
Chiều hướng tôn giáo là chiều hướng của con người chân chính, đích thực.
Có lần chuyện
xảy ra là một người đi vào quán rượu và nói, “Anh phục vụ, tôi muốn anh gặp con
chó của tôi. Nó biết nói đấy. Tôi sẽ bán nó cho anh chỉ mười đô la thôi.”
“Ông nghĩ ông
đang lừa ai vậy?” người phục vụ nói.
Con chó, nước
mắt lưng tròng, ngước nhìn lên. “Xin ông mua tôi đi,” nó nói. “Người này đối xử
với tôi độc ác lắm. Ông ấy chẳng bao giờ cho tôi xương. Ông ấy chẳng bao giờ tắm
cho tôi. Ông ấy bao giờ cũng đá tôi. Và đã có thời tôi là con chó khéo léo giầu
có nhất nước. Trước đó tôi đã từng làm tổng thống và vua. Tên tôi xuất hiện
trên báo chí hàng ngày, và...”
“Vậy ra nó
nói thật,” người phục vụ nói. “Nhưng sao ông bán con chó giá trị thế mà chỉ có
mười đô la thôi?”
“Bởi vì,” ông
khách hàng nói, “tôi ghét kẻ nói dối.”
Chính khách
là kẻ nói dối, và ông ta đang cố gắng thuyết phục bản thân mình qua việc thuyết
phục người khác.
Chính khách gần
như điên - điên vì quyền lực. Nhiều người vào nhà thương điên trên thế giới. Ai
đó nghĩ mình là Adolf Hitler, ai đó nghĩ mình là Napoleon, ai đó nghĩ mình là
Ford hay Mao Trạch Đông. Và họ đều trong tù, hay trong nhà thương điên, hay
trong bệnh viện, bởi vì chúng ta nghĩ họ đã phát điên. Ai đó nghĩ rằng mình là
Adolf Hitler bị coi là điên, nhưng còn bản
thân Adolf Hitler thì sao? Điều khác biệt duy nhất là thế này: rằng con người
này, người điên này mà nghĩ mình là Adolf Hitler, không có khả năng chứng minh
điều đó, có thế thôi. Người đó hồn nhiên. Điên của người đó chỉ là hồn nhiên.
Adolf Hitler đã chứng minh cho thế giới rằng, đúng ông ta: Adolf Hitler còn
điên hơn con người này. Điên của ông ta đến mức ông ta đã chứng minh cho toàn
thế giới rằng ông ta là ai đó; nếu ông ta không thể sáng tạo, ông ta có thể phá
huỷ.
Chỉ có hai khả
năng. Hoặc là bạn có thể là đấng sáng tạo, và thế thì bạn cảm thấy đáp ứng nào
đó - điều đó tới cho người mẹ khi cô ấy cho sinh thành ra đứa con, hoặc điều đó
tới cho nhà thơ khi bài thơ được sinh ra, hay tới cho nhà điêu khắc khi người
đó đã tạo ra cái gì đó - một hình đẹp bằng đá cẩm thạch, bằng đá, bằng gỗ. Bất
kì khi nào bạn tạo ra điều gì đó, bạn đều cảm thấy được nâng cao lên, bạn đạt tới
các đỉnh, bạn đạt tới chiều cao.
Mọi người
sáng tạo đều gần với tôn giáo. Tôn giáo là sáng tạo lớn nhất bởi vì nó là nỗ lực
để cho sinh ra chính mình, để trở thành người bố và người mẹ của chính mình, để
được sinh ra lần nữa, để được tái sinh qua thiền, qua nhận biết. Bài thơ là
hay, bức vẽ là hay - nhưng khi bạn cho sinh thành ra tâm thức riêng của mình,
thế thì không gì so sánh được. Thế thì bạn đã cho sinh thành bài thơ tối thượng,
âm nhạc tối thượng hay điệu vũ tối thượng. Đây là chiều hướng của sáng tạo.
Trên các bậc của sáng tạo, tôn giáo là bậc cuối. Nó là nghệ thuật lớn nhất, nghệ
thuật tối thượng - đó là lí do tại sao tôi gọi nó là ‘thuật giả kim tối thượng’.
Ngay đối lập
là bậc thang của huỷ diệt. Những người không thể sáng tạo trở thành huỷ diệt bởi
vì qua huỷ diệt họ có thể có cảm giác gián tiếp rằng họ mạnh mẽ. Khi Hitler huỷ
diệt hàng triệu người, tất nhiên ông ta có cảm giác rất mạnh mẽ rằng, “Mình là
ai đó, mình có thể huỷ diệt toàn bộ thế giới.” Ông ta gần như sẵn sàng huỷ diệt
toàn bộ thế giới - ông ta đã gần như phá huỷ nó.
Chính khách
là tâm trí huỷ diệt. Ông ta có thể nói về quốc gia, đất nước; ông ta có thể nói
về thiên đường, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản - nhưng về cơ bản chính
khách là tâm trí huỷ diệt và tâm trí huỷ diệt không thể nào trở thành chứng ngộ
được.
Trước hết,
toàn bộ năng lượng phải chuyển theo xây dựng, theo sáng tạo. Chỉ thế thì mới có
khả năng là dần dần bạn tham dự vào trong việc sáng tạo tối thượng - đó là niết
bàn - sáng tạo tối thượng, trong đó bạn được sinh ra thiêng liêng, vô hạn, vô
giới hạn. Bạn mở rộng, bạn trải rộng ra khắp tất cả sự tồn tại. Thế thì bạn
không còn là một con sóng nữa, bạn đã trở thành đại dương.
Chính khách
chẳng bao giờ có thể trở nên chứng ngộ được. Tôi không nói rằng chính khách
không thể đi theo việc chứng ngộ - ông ta có thể đi, nhưng khi ông ta đi, ông
ta sẽ phải vứt bỏ chính trị. Chính khách cũng là một con người, nhưng ông ta sẽ
phải vứt bỏ chính trị. Vào lúc ông ta tới để thiền, ông ta sẽ không còn là
chính khách nữa. Vẫn còn là chính khách, chính khách không thể nào trở nên chứng
ngộ được. Cá tính của ông ta vẫn còn đó - ngay cả Hitler cũng có thể trở thành
phật... một ngày nào đó. Người ta hi vọng ông ta sẽ thế. Một ngày nào đó, xa
xôi trong tương lai, ngay cả Aldolf Hitler cũng sẽ trở thành phật; đó là tiềm
năng của ông ta. Nhưng thế thì, vào lúc đó, ông ta sẽ không là Aldolf Hitler nữa.
Chiến tranh hạt
nhân đã tới và qua đi. Chỉ còn một con khỉ tí xíu trên một phần cô lập của thế
giới là còn sống. Sau nhiều tuần lang thang, cuối cùng nó bất chợt gặp một con
khỉ cái nhỏ. Nó quàng đôi tay quanh con khỉ cái để chào mừng.
“Tớ đang chết
đói đây,” nó nói. “Đằng ấy có tìm thấy cái gì để ăn không?”
“Này,” con khỉ
cái nói. “Tớ tìm thấy ít táo cũ này.”
“Ô không đằng
ấy đừng ăn!” nó ngắt lời. “Chúng ta không định bắt đầu tất cả điều đó lại lần nữa!”
Thậm chí khỉ
cũng lo nghĩ về nhân loại. Và tôi đã nghe khỉ nói. Chúng không tin vào Darwin,
chúng không nói rằng con người đã tiến hoá từ con khỉ, chúng không nghĩ rằng
con người là một hình thái đã phát triển; chúng nghĩ người đã sa ngã từ khỉ. Tất
nhiên - ngã xuống từ cây, ngã xuống từ chiều cao, ngã xuống từ khỉ.
Và điều này
là đúng theo một cách nào đó, bởi vì con người từ trước cho tới giờ vẫn còn
chính trị. Toàn bộ lịch sử từ trước cho tới giờ đã là chính trị; chưa nền văn
minh nào đã tồn tại mà là tôn giáo cả - thậm chí nền văn minh Ấn Độ cũng không.
Không một quốc gia nào đã đi vào hiện hữu mà là tôn giáo cả - chỉ hiếm cá nhân
mới là tôn giáo, chỗ này chỗ nọ, xa xăm. Đâu đó có một Phật, một Jesus, một
Zarathustra, một Lão Tử - những hòn đảo. Ngoài ra, thông thường, dòng chảy
chính của nhân loại vẫn còn là chính trị.
Chính trị về
cơ bản là tham vọng. Chính trị về cơ bản là sai bởi vì tham vọng là sai. Bạn
không trở thành ai đó, tôn giáo nói, bạn đã thế rồi. Bạn không trở thành quyền
thế - bạn đã thế rồi. Bạn là sự mở rộng của Thượng đế. Bạn không cần phải lo
nghĩ về quyền thế và là ai đó trên ngai vàng; đấy tất cả đều là trò chơi đần độn,
ngây thơ, chưa thành niên, chưa chín chắn. Bạn không thể tìm ra nhiều người
chưa chín chắn hơn các chính khách.
Thực tế,
trong một thế giới tốt hơn, chính khách sẽ được giữ trong nhà thương điên, còn
người điên sẽ được phép đi vào thế giới. Những người điên này đã không làm điều
gì sai cả. Họ có thể có chút ít lệch lối nhưng họ không gây hại. Chính khách là
những người điên nguy hiểm, cực kì nguy hiểm.
Tôi đã nghe
nói rằng trước khi Richard Nixon từ bỏ ngai vàng, ông ta đã triệu tập một cuộc
họp các đồng nghiệp của mình và ông ta đe doạ rằng nếu ông ta có quyền lực, ông
ta có thể đi vào một phòng khác, bấm nút, và toàn bộ thế giới có thể bị phá huỷ
trong hai mươi phút.
Và, vâng, ông
ấy có quyền lực đó. Hàng triệu quả bom nguyên tử đã sẵn sàng - chỉ cần một nút
được nhấn. Sức mạnh của các quả bom nguyên tử và bom H đã được chế tạo gấp bẩy
lần sức mạnh cần để huỷ diệt trái đất này- bẩy lần hơn. Bẩy trái đất cùng kích
cỡ này có thể bị huỷ diệt. Chúng ta đã trở nên thiện nghệ thế, siêu thiện nghệ
trong huỷ diệt. Và không ai có thể nói được - bất kì ngày nào bất kì tổng thống
nào của Mĩ, hay của nước Nga xô viết, hay của Trung quốc, có thể phát điên. Và
các chính khách gần như điên - bất kì ngày nào, bất kì ai cũng có thể nhấn nút.
Và bây giờ vấn đề duy nhất là nhấn nút, và mọi người đều có những khoảnh khắc
điên khùng, khoảnh khắc giận dữ. Mối đe doạ là rất, rất thực.
Chính trị đã
là bệnh hoạn của nhân loại, bệnh ung thư của tâm thức.
Vứt tất cả
các chính trị bên trong bạn đi. Và nhớ, khi tôi đang nói về chính khách, tôi
không ngụ ý đặc biệt cho những người đang trong chính trị - tôi ngụ ý tất cả những
người tham vọng. Bất kì chỗ nào có tham vọng, chính trị bước vào; bất kì chỗ
nào bạn cố gắng tiến lên trước ai đó, chính trị bước vào; bất kì chỗ nào bạn cố
gắng chi phối ai đó - có thể là vợ bạn, hay chồng bạn - chính trị bước vào.
Chính trị là bệnh tật rất, rất thông thường, giống như cảm lạnh thông thường vậy.
Câu hỏi cuối
cùng:
Từ khi tôi ở
đây, tôi đã mất khả năng tập trung. Thật vất vả cho tôi thốt ra một câu logic
và tôi trở nên rất hay quên. Tôi cảm thấy bản thân mình như đứa trẻ đần độn. Có
phải đó là con đường đi tới thông minh mà Thầy nói tới không?
Khả năng tập
trung không phải là cái gì đó để cảm thấy ân huệ về nó. Nó là trạng thái đông cứng
của tâm trí, trạng thái rất chật hẹp của tâm trí. Tất nhiên là có ích: có ích
cho người khác, có ích cho tìm kiếm khoa học, có ích trong kinh doanh, có ích
trên thị trường, có ích trong chính trị - nhưng tuyệt đối vô ích cho bản thân bạn.
Nếu bạn trở thành quá hoà hợp với tập trung, bạn sẽ trở nên rất, rất căng thẳng.
Tập trung là trạng thái căng thẳng của tâm trí; bạn sẽ chẳng bao giờ được thảnh
thơi. Tập trung giống như đèn pin, hội tụ, còn tâm thức giống như ngọn đèn, không hội tụ.
Toàn bộ nỗ lực
của tôi ở đây là để dạy cho bạn về có ý thức, không về tập trung. Và đây là điểm
cần phải nhớ: nếu bạn trở nên có ý thức, bất kì khoảnh khắc nào bạn muốn tập
trung vào một vấn đề đặc biệt, bạn đều có thể làm được điều đó. Nó không phải
là vấn đề. Nhưng nếu bạn trở nên quá hội tụ với tập trung, điều ngược lại không
đúng: bạn không thể thảnh thơi. Tâm trí thảnh thơi bao giờ cũng có thể tập
trung một cách dễ dàng, không có rắc rối gì về nó cả. Nhưng tâm trí tập trung
trở nên bị ám ảnh, chật hẹp. Không dễ gì cho nó thảnh thơi và bỏ căng thẳng. Nó
vẫn còn căng thẳng.
Nếu bạn thiền,
trước hết tập trung sẽ biến mất và bạn sẽ cảm thấy chút ít mất đi. Nhưng nếu bạn
tiếp tục, dần dần bạn sẽ đạt tới trạng thái nhẹ nhàng không tập trung - đó là
điều thiền là gì. Một khi thiền được đạt tới, tập trung là trò chơi trẻ con - bất
kì khi nào bạn cần, bạn đều có thể tập trung. Sẽ không có vấn đề gì về nó và nó
sẽ dễ dàng và không căng thẳng gì.
Ngay bây giờ,
bạn đang bị xã hội sử dụng. Xã hội muốn có con người hiệu quả; nó không lo lắng
gì về linh hồn bạn, nó lo lắng về tính hiệu quả của bạn. Tôi không lo lắng về
tính hiệu quả của bạn: con người đã có quá nhiều, nhiều hơn mức người đó có thể
tận hưởng - không cần phải tạo thêm ra nữa. Bây giờ có nhiều nhu cầu để chơi
quanh. Có nhiều nhu cầu để được ý thức hơn. Khoa học đã phát triển đủ; bây giờ,
bất kì cái gì khoa học đang làm cũng là gần như phù phiếm. Bây giờ lên mặt
trăng đơn giản là vô ích nhưng tốn phí năng lượng cực kì. Tại sao? Bởi vì các
nhà khoa học bây giờ bị ám ảnh - họ phải làm điều gì đó. Họ đã học được mẹo tập
trung: họ phải làm cái gì đó, họ phải sản xuất, họ phải sản xuất ra cái gì đó -
họ không thể thảnh thơi được. Họ sẽ lên tới mặt trăng, họ sẽ lên tới sao Hoả,
và họ sẽ thuyết phục mọi người rằng bất kì cái gì họ đang làm cũng đều cực kì
quan trọng. Điều đó hoàn toàn vô ích.
Nhưng việc
này xảy ra. Một khi bạn trở nên được huấn luyện theo một điều nào đó, bạn cứ đi
theo đường đó, mù quáng, chừng nào mà chưa gặp ngõ cụt và bạn không thể đi được
thêm nữa. Nhưng cuộc sống là vô hạn. Chẳng tới ngõ cụt nào cả. Bạn có thể cứ đi
mãi đi mãi.
Bây giờ hoạt
động khoa học đã gần như trở thành kì cục.
Hoạt động tôn
giáo hoàn toàn khác. Nó không lo nghĩ gì về hiệu quả hơn; toàn bộ vấn đề là làm
sao vui vẻ hơn, làm sao mở hội hơn. Cho nên nếu bạn đi với tôi, dần dần, tập
trung sẽ được thảnh thơi ra. Và lúc ban đầu bạn sẽ cảm thấy sợ hãi bởi vì bạn sẽ
thấy kĩ năng của mình đang mất đi, tính hiệu quả của mình đang mất đi. Bạn sẽ cảm
thấy bạn đang mất cái gì đó mà bạn đã thu được với bao nhiêu nỗ lực. Ban đầu điều
đó sẽ xảy ra. Tảng băng đang tan ra và trở thành nước. Băng cứng rắn, một cái
gì đó bị tập trung lại; nó trở thành nước - lỏng ra, thảnh thơi, tuôn chảy theo
đủ mọi hướng. Nhưng bất kì lúc nào bạn cần băng, nước đều có thể biến trở lại
thành băng. Không có vấn đề gì - chỉ một chút ít lạnh là đủ.
Đây là kinh
nghiệm của tôi. Dù tôi nói bất kì điều gì, tôi cũng nói từ kinh nghiệm riêng của
mình - cùng những điều đã xảy ra cho tôi. Trước hết, tập trung biến mất; nhưng
bây giờ tôi có thể tập trung vào bất kì cái gì. Không có vấn đề gì. Nhưng tôi
không còn trong tập trung nữa; tôi có thể tập trung và thảnh thơi bất kì khi
nào nhu cầu phát sinh. Cũng như bất kì khi nào nhu cầu phát sinh, bạn bước; bạn
không chỉ ngồi trên ghế và rung đùi. Có vài người hay rung đùi bởi vì họ không
thể nào ngồi thảnh thơi được - bạn sẽ gọi người này là bất ổn!
Chân theo trật
tự hoàn hảo là cần để cho bất kì khi nào bạn cần, bạn có thể bước, bạn có thể
chạy; nhưng khi không cần, bạn có thể thảnh thơi, và thế thì chân sẽ không hoạt
động nữa.
Nhưng tập
trung của bạn đã trở thành gần như là hội tụ nếu bạn liên tục chuẩn bị cho cuộc
đua Olympic! Người chạy đua trong cuộc đua Olympic không thể thảnh thơi được. Họ
phải chạy một khoảng nào đó mỗi sáng và tối; họ liên tục chạy. Nếu họ thảnh
thơi trong vài ngày, họ sẽ mất kĩ năng của mình. Nhưng tôi gọi tất cả các trò
đua Olympic là chính trị, tham vọng, ngu ngốc. Không cần thiết.
Đua tranh là
ngu ngốc; không cần. Nếu bạn thích chạy, hoàn toàn tốt - chạy và tận hưởng.
Nhưng tại sao phải đua tranh? Phỏng có ích gì mà đua tranh? Đua tranh đem tới ốm
yếu, không lành mạnh; đua tranh đem tới ghen tị, và cả nghìn lẻ một bệnh tật.
Thiền sẽ cho
phép bạn tập trung bất kì khi nào nhu cầu nảy sinh, nhưng nếu không có nhu cầu,
bạn sẽ vẫn còn thảnh thơi, tuôn chảy theo mọi hướng như nước.
“Thật vất vả
cho tôi để thốt ra một câu logic.”
Cảm thấy phúc
lạc, cảm thấy ân huệ đi. Phỏng có ích gì để thốt ra những câu nói logic? Thốt
ra cái vô nghĩa đi; tạo ra âm thanh, tiếng ú ớ, như chim, như cây cối... bạn
nhìn mà xem! (Vào khoảnh khắc này một cây gần đó quyết định, với sự trợ giúp của
làn gió thoảng qua, minh hoạ cho lời của Osho bằng việc rung cành và làm cho
hàng trăm lá rụng xuống gây ra âm thanh xào xạc trên mặt đấy - bt.) Cách này đấy!
Điều này có logic không? Cây đang thích thú, vui vẻ, đơn giản bỏ rơi quá khứ.
Vui vẻ, ca
hát, thốt ra âm thanh - quên mọi logic đi! Dần dần bạn sẽ trở nên sống động hơn
- tất nhiên ít logic hơn. Đó là cái giá mà người ta phải trả. Bạn trở nên chết
nếu bạn trở thành logic hơn và bạn trở nên sống hơn nếu bạn trở nên ít logic.
Cuộc sống là
mục đích, không phải là logic. Bạn định làm gì với logic? Nếu bạn đói, logic
không định nuôi dưỡng bạn, nếu bạn cần tình yêu, logic không định ôm choàng lấy
bạn, nếu bạn khát, logic sẽ bảo bạn rằng nước là H2O! Nó không định cho bạn nước,
nước thực. Không - nó đơn giản vận hành theo công thức, châm ngôn.
Nhìn vào cuộc
sống, và dần dần bạn sẽ hiểu rằng cuộc sống có logic riêng rất logic của nó.
Hoà hợp với nó, điều đó sẽ trở thành cánh cửa cho cực lạc, samadhi, niết bàn của
bạn.
“Và tôi trở
nên rất hay quên.”
Hoàn toàn tốt!
Nếu bạn có thể quên, bạn sẽ có khả năng nhớ nhiều hơn. Quên là khả năng lớn -
nó đơn giản có nghĩa là làm cho quá khứ không bị bụi bặm. Không cần phải nhớ mọi
thứ đã xảy ra - gần như chín mươi chín phần trăm những điều đó là tầm thường.
Nhưng bạn cứ nhớ mãi...
Nghĩ mà xem -
bạn nhớ cái gì? viết điều đó ra rồi nhìn lại nó. Cái gì diễn ra trong tâm trí bạn?
Bạn sẽ không thể nào đưa nó cho bạn thân của bạn được bởi vì người ấy sẽ nghĩ bạn
điên. Điều này cứ diễn ra trong tâm trí bạn sao?
Quên đi - thế
là tốt. Quên lãng là khả năng lớn bởi vì nó sẽ cho phép bạn nhớ. Nó là một phần
của nhớ. Cái vô ích phải bị quên đi để cho cái có ích được ghi nhớ - và cái có
ích là rất, rất nhỏ, cái vô ích quá nhiều. Trong thời gian hai mươi tư tiếng,
hàng triệu bit thông tin được tâm trí thu thập lại. Nếu bạn thu thập chúng và
nhớ tất cả chúng, bạn sẽ phát điên.
Tôi đã nghe
nói về một người. Người này đã có lần được giới thiệu cho vị tổng thống đốc ở Ấn
Độ bởi vì người đó là người có trí nhớ hiếm hoi. Người đó biết chỉ một ngôn ngữ,
tiếng Rajasthani Hindi. Người đó là người nghèo, vô giáo dục, nhưng nếu bạn bảo
người đó bất kì điều gì trong bất kì ngôn ngữ nào, anh ấy sẽ không bao giờ quên
điều đó. Anh ấy sẽ lặp lại điều đó như con vẹt, chẳng biết nó nghĩa là gì.
Người đó được
gọi tới lâu đài của vị tổng thống đốc; vị tổng thống đốc ngạc nhiên khi nghe
nói về khả năng của người đó. Ba mươi người khác cũng được gọi tới, và trong ba
mươi ngôn ngữ họ thốt ra vài câu nói. Người ta bố trí theo cách sau: người này
đi tới một người, người thứ nhất, và người thứ nhất nói từ thứ nhất của một
câu. Rồi người đó tới người khác và người này nói từ thứ nhất của câu nói của
người đó, trong ngôn ngữ khác. Rồi người đó lại tới người thứ ba. Theo cách này
người đó tới ba mươi người. Thế rồi người đó quay lại người thứ nhất, người này
nói từ thứ hai. Và theo cách này - nhiều vòng quay, tốn nhiều giờ để nghe hết cả
các câu. Và thế rồi người đó lặp lại tất cả các câu một cách tách biệt.
Vị tổng thống
đốc đơn giản phân vân. Ông ấy không thể tin vào điều đó,
Nhưng người
này đã phát điên.
Nhiều trí nhớ
thế này là nguy hiểm. Ba kiểu người gần như bao giờ cũng ngốc. Quá nhiều trí nhớ
không phải là dấu hiệu tốt; nó đơn giản nói rằng bạn có tâm trí rất máy móc. Nó
không phải là dấu hiệu của thông minh. Do đó bạn nghe thấy nhiều câu chuyện về
đãng trí của các nhà khoa học lớn, các triết gia. Họ không phải là người có trí
nhớ lớn. Thông minh lớn chẳng liên quan gì tới trí nhớ lớn cả. Trí nhớ là máy
móc, thông minh là không máy móc - chúng hoàn toàn khác nhau.
Cho nên đừng
lo nghĩ, thế là tốt. Trí nhớ đang thảnh thơi, nhiều điều sẽ biến mất, không gian
sẽ được tạo ra trong bạn. Và trong không gian đó bạn sẽ có khả năng trở thành lỗi
lạc hơn, thông minh hơn, hiểu biết hơn. Thông minh có nghĩa là hiểu biết; trí
nhớ có nghĩa là chất lượng, chất lượng máy móc của việc lặp lại. Vẹt có trí nhớ
tốt. Đừng lo nghĩ về trí nhớ của bạn. Ban đầu điều đó xảy ra bởi vì bạn đã tích
luỹ nhiều rác rưởi. Khi bạn thiền rác rưởi đó bắt đầu biến mất, rơi rụng đi.
“Tôi cảm thấy
bản thân mình như đứa trẻ đần độn.”
Đó chính là
con đường đấy, con đường tới vương quốc của Thượng đế. Lão Tử nói, “Giống như kẻ
ngốc trong thế giới này để cho ông có thể hiểu được cách phi logic của Đạo.”
Jesus nói, “Giống như đứa trẻ nhỏ - bởi vì chỉ những người giống như trẻ nhỏ mới
có thể vào vương quốc của Thượng đế.” Đừng lo nghĩ về những điều này; cái không
bản chất đang bị bỏ đi. Cảm thấy hạnh phúc và biết ơn đi. Một khi rác rưởi này
đã được loại bỏ, cái thực sẽ nảy sinh; với cái không bản chất mất đi, cái bản
chất sẽ nảy sinh. Đây là con đường đạt tới ngọn nguồn riêng của người ta.
Nhưng nhiều lần
bạn sẽ hoảng sợ bởi vì bạn đang làm mất đi níu bám của mình vào bất kì cái gì bạn
đã coi là có giá trị cho tới nay. Nhưng tôi có thể bảo bạn một điều: tôi đã đi
trên cùng con đường đó và đã trải qua cùng những giai đoạn đó. Chúng là các
giai đoạn - chúng tới và đi. Và tâm thức bạn sẽ trở thành ngày càng thuần khiết
hơn, trong trắng hơn - thuần khiết, không biến chất. Tâm thức không biến chất
đó là sự sùng kính.
Xem tiếp Chương 9 – Quay về Mục lục